Dựa trên bản chất của vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong luật hôn nhân gia đình và Nghị định số 70/2001 NĐ-CP ngày 03/10/2001 tác giả xin đ
Trang 1MỞ ĐẦU
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Các khái niệm cơ bản 2
1 Thời kì hôn nhân 2
2 Tài sản chung của vợ chồng 3
3 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân 3
II Những quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân 3
III Chứng minh việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay 3
1 Sự phù hợp về mặt lý luận ( Tương thích với chính sách và pháp luật hiện hành) 3
2 Sự phù hợp về thực tiễn xã hội hiện nay 3
KẾT LUẬN 3
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong thời kì hôn nhân, hai người phải ràng buộc với nhau bởi rất nhiều bổn phận,nghĩa vụvà quyền lợi Lợi ích của họ vì thế đã hòa làm một để trở thành một thứ có tên là lợi ích gia đình Thời trước, khi xác lập, thay đổi, chấm dứt một giao dịch,họ chỉ nhân danh lợi ích gia đình Tài sản chung là thứ cần
có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham gia các giao dịch Suy cho cùng, tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ, chồng cũng phải được khai thác để nhằm bảo đảm cho sự tồn tại, duy trì và phát triển của gia đình Ngày nay,trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một giải pháp cho vấn đề đó trong bối cảnh chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay là chế
độ cộng đồng tạo sản Để có một cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này nhóm
chúng em xin chọn đề tài: “Chứng minh việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay”.
NỘI DUNG
I Các khái niệm cơ bản
1 Thời kì hôn nhân
Thời kì hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân ( Điều 8 giải thích luật ngữ)
Trong đó Khoản 6 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy
định: “ Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”.
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng
Trang 32 Tài sản chung của vợ chồng
Có một số cách hiểu cho rằng tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôm nhân Cụ thể thì chưa có một khái niệm nào lý giải rõ ràng khái niệm trên Căn cứ vào Điều 27 Luật hôn nhân và gia
đình thì tài sản chung của vợ chồng được hiểu rằng: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhận; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tăng cho chung và những tài sản khác mà vơ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng thỏa thuận Tái sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”.
Theo quy định này, thì cơ sở pháp lý quan trọng nhất khi xác định tài sản chung của vợ chồng là để trong thực tế áp dụng khi Toà án giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng với nhau và với người khác là theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Bên cạnh đó, cơ sở pháp lý thức hai là các quy định trong Luật dân sự liên quan đến vấn đề sở hữu Và trong phạm
vi điều chỉnh của mình thì quy định trong Luật hiến pháp cũng là một cơ sở không thể thiếu
Tài sản chung của vợ chồng được dùng vào việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân gia đình Vợ chồng đều
có quyền ngang nhau đối với khối tài sản chung Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo đảm cho vợ chồng được bình đẳng trong quan hệ gia đình, xóa bỏ chế độ gia trưởng trong gia đình
3 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
Bên cạnh chế định tài sản chung của vợ chồng, pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam còn đề cập đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong
Trang 4thời kỳ hôn nhân Mặc dù pháp luật đã đề cập tới chế định chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thế nhưng cho tới nay vẫn chưa có một quy định nào của pháp luật đưa ra quy định cụ thể về khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Có thể tạm định nghĩa việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như là việc chuyển một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc khối tài sản chung vào khối tài sản riêng của vợ hoặc của chồng Đây không phải là phân chia hiểu theo nghĩa thông thường, tức là việc chấm dứt tình trạng sở hữu chung theo phần bằng cách phân hẳn cho người này hay người nọ một hoặc nhiều tài sản vốn thuộc sở hữu chung, như thế nào để tổng giá trị các tài sản chia cho một người ngang với giá trị phần quyền của người đó trong khối tài sản chung được đem chia Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ và chồng có thể thoả thuận rằng người này hoặc người kia nhận nhiều tài sản, dù trên thực tế, công sức đóng góp của người nhận nhiều tài sản vào việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung không tương xứng với giá trị của số tài sản nhận được
Dựa trên bản chất của vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân được quy định trong luật hôn nhân gia đình và Nghị định số 70/2001 NĐ-CP ngày 03/10/2001 tác giả xin đưa ra khái niệm khái quát về
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ chồng cùng nhau thỏa thuận hoặc thông qua cơ chế Tòa án để chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của mình trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả của việc này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân, không dẫn tới việc vợ chồng
ly hôn”.
Trang 5II Những quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân
Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc
sở hữu chung hợp nhất Bình thường chúng ta không xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất mà chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong đó Xuất phát từ tình hình thực tế các quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ chồng về vấn đề tài sản, luật hôn nhân và gia đình quy định về các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân So với các luật hôn nhân và gia đình trước đây, chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại là quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Sở
dĩ pháp luật quy định như vậy là do, trong thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng không muốn li hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung vì một lí do nào
đó như: để ở riêng, kinh doanh …Việc hcia tài sản chung giữa của vợ chồng được quy định tại Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 2000
Tại khoản 1 Điều 29 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc
có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì
có quyền yêu cầu tòa án giải quyết”
Theo quy định này thì tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại được tiến hành trong các trường hợp thực sự cần thiết vì lợi ích của gia đình hoặc của người thứ ba Đó là các trường hợp:
- Trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: nếu có một trong hai
vợ, chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung làm vốn đầu tư kinh doanh Quy định này xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh
Trang 6doanh của cá nhân, đồng thời còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những rủi ro từ hoạt động kinh doanh
- Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: nếu vợ hoặc chồng phải thực hiện các nghĩa vụ riêng mà họ không có tài sản riêng hoặc không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
- Trường hợp có lí do chính đáng khác: việc xác định có lí do chính đáng để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích vợ chồng hoặc của người thứ ba Vì vậy, lí do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại tùy từng trường hợp có khác nhau
Về phương thức chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định giống như chia tài sản chung khi vợ chồng li hôn Khác với Luật hôn nhân và gia đình hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định cụ thể phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mà chỉ quy định “vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung”, nếu thảo thuận được thì việc chia tài sản chung so tự thảo thuận phải được lập thành văn bản Trong trường hợp “không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết”
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là trường hợp chia tài sản đặc biệt Do vậy, vợ, chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc một phần tài sản chung Nếu chia toàn bộ tài sản chung thì phần của mỗi người sau khi chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người Nếu chia một phần tài sản trong khối tài sản chung thì chỉ có một phần tài sản được chia đó và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản được chia mới là tài sản riêng của mỗi người Sau khi chia
Trang 7tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân thì những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kihn doanh của mỗi bên là tài sản riêng của mình
Bên cạnh việc tôn trọng quyền định đoạt tài sản chung của vợ, chồng khi hôn nhân còn tồn tại, tại khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận” để tránh trường hợp
vợ, chồng lạm dụng quyền chia tài ản của mình để gây ra hậu quả xấu, xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ Như vậy, nếu vợ chồng đã thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia tài sản chung nhưng sau đó có chứng cứ cho rằng việc chia tài sản đó là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
về tài sản thì việc chia tài sản đó không được pháp luật công nhận
III Chứng minh việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
1 Sự phù hợp về mặt lý luận ( Tương thích với chính sách và pháp luật hiện hành)
Trước đây trong hệ thống pháp luật Hôn nhân và Luật đình của nhà nước ta, trường hợp chia tài sản chung của vợ và chồng trong thời kì hôn nhân được quy định lần đầu tiên tại điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
Kế thừa và phát triển quy định này của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tiếp tục quy định trường hợp chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân tại điều 29, điều 30 và Nghị định
số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình Việc quy định như vậy là rất phù hợp với chính sách và pháp luật ở nước ta hiện nay:
Trong thời đại nền kinh tế hàng hóa, thị trường phát triển như hiện nay Nhà Nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển, nội dung này được thể hiện rõ trong các nghị quyết đại hội của Đảng, các chính sách của Chính phủ Để nền kinh tế
Trang 8quốc gia phát triển, nhà nước khuyến khích và kêu gọi các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp tham gia vào việc mở rộng đầu tư, kinh doanh Thế nhưng, việc thực hiện được chủ trương này của Đảng đối với các cá nhân trong một hộ gia đình là điều rất khó khăn Bởi lẽ, trong gia đình tài sản của vợ và chồng vốn là tài sản chung, vì vậy khi sử dụng số tài sản này vào việc đầu tư kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chung của các thành viên trong gia đình, nếu như việc đầu tư, kinh doanh đó gặp rủi ro Để bảo vệ quyền và lợi ích chung của các thành viên trong gia đình cũng như để tạo điều kiện cho việc thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế mà Nhà nước đã đề
ra, thì việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là điều cần thiết
Luật Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (điều 6); Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (điều 9); Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo (điều 12) Như vậy ngay từ đạo luật gốc của nước ta cũng đã khẳng định sự bình đẳng giữa các công dân với nhau trong phương diện kinh tế và khẳng định quyền tự do tư hữu của công dân là bất khả xâm phạm Để các quy định trên của Hiến pháp được thực hiện trong đời sống, Pháp luật Hôn nhân và Gia đình đã cụ thể hóa vấn đề này tại Luật Hôn nhân và Gia đình Bình và các văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là tại Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình Các văn bản pháp luật này đều nêu rõ sự bình đẳng về phương diện kinh tế trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thể hiện ở chỗ vợ hoặc chồng tạo điều kiện cho nhau tham gia vào các lĩnh vực của kinh tế Như vậy, việc pháp luật quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là phù hợp với Hiến pháp - đạo luật tối cao hiện hành
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng như Luật Hôn nhân và Gia đình trong các thời kì trước đây ra đời, đều nhằm mục đích là để xây dựng một
Trang 9gia đình ấm êm, hạnh phúc và nhằm góp phần ổn định các quan hệ xã hội Thế nhưng cuộc sống của vợ, chồng khó tránh được mâu thuẫn xung đột, nhiều trường hợp chỉ muốn chia tài sản chung của vợ chồng nhưng lại không muốn li hôn mà chỉ muốn sử dụng tài sản đó vào mục đích khác Nếu pháp luật không quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này, thì sẽ rất khó để có thể tạo được sự hài hòa trong mối quan hệ gia đình, tạo được sự hạnh phúc cho gia đình Như vậy, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là điều cần thiết để thực hiện được mục đích cao đẹp của Luật Hôn nhân và Gia đình
Theo Điều 50 BLDS 2005 có quy định " cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, nghành nghề kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng và các quyền
khác phù hợp với quy định của pháp luật" Cá nhân ở đây tức không phân biệt
là nam hay nữ, già hay trẻ, vợ hay chồng họ đều có quyền tham gia vào các lĩnh vực kinh tế Và nếu vợ, chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng mà cần tới tài sản để đầu tư mà không ảnh hưởng tới lợi ích của những thành viên khác trong gia đình thì vợ, chồng có thể chia tài sản chung của vợ chồng
Ngoài ra tại điều 280 của BLDS 2005 với mục đích để bảo vệ quyền lợi cho bên thứ ba thì vợ chồng ở đây cũng được hiểu là cá nhân có thể phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng (những món nợ mà vợ, chồng mắc từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kì hôn nhân mà sử dụng vào mục đích riêng) Trong trường hợp nếu vợ, chồng không có hoặc có nhưng không đủ để trả nợ riêng cho bên kia thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân để vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của
vợ chồng nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng và các giao dịch dân sự là một lý do cho ta thấy việc quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là hoàn toàn tương thích với pháp luật Như đã nêu ở trên, vợ, chồng bình đẳng với nhau khi tham gia vào các giao dịch dân sự, và khi tham gia vào giao dịch dân sự sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cho vợ hoặc chồng
Trang 10Mặt khác nguyên tắc chủ đạo hình thành lên BLDS chính là nguyên tắc
chịu trách nhiệm dân sự, cụ thể " Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa
vụ dân và và phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ" Các bên ở đây chính là những chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự, hay chính là vợ hoặc chồng nếu họ tham gia riêng vào giao dịch
dân sự Và để đảm bảo việc "nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự" thì Luật
hôn nhân và gia đình phải quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhằm giúp cho vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà không ảnh hưởng tới lợi ích của những người trong gia đình
Từ những căn cứ nêu trên ta thấy, quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn tương thích với chính sách và pháp luật hiện hành của Việt Nam ta hiện nay
2 Sự phù hợp về thực tiễn xã hội hiện nay
Sự phù hợp về mặt thực tiễn Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là điều cần thiết, phù hợp với thực tiễn đời sống
xã hội hiện nay, đáp ứng được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Khẳng định này xuất phát từ những lý do sau:
1 Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân có ý nghĩa như một cách thức bảo đảm quyền lợi cho vợ hoặc chồng khi người kia được xác định
là mất tích, bị tịch thu tài sản do phạm tội hoặc có hành vi tẩu tán tài sản chung, tiêu xài hoang phí,…
2 Trong cuộc sống gia đình nhiều khi không thể tránh khỏi những căng thẳng, bất hòa giữa vợ chồng, dẫn đến tình trạng không muốn chung sống cùng nhau Nhưng vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu vì con cái nên họ không muốn ly hôn Quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp hợp
lý nhằm tối thiểu hóa những xung đột, mâu thuẫn của vợ chồng trước hết trong quan hệ tài sản, sau đó là những quan hệ nhân thân khác; đồng thời giữ được