1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân biệt tố tụng dân sự quốc tế với tố tụng dân sự thông thường

6 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 69,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm - Là hoạt động của Tòa án một nước trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét xử của tòa á

Trang 1

chí

1.

Khái

niệm

- Là hoạt động của Tòa án một

nước trong việc giải quyết các vụ

việc phát sinh từ các mối quan hệ

dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố

nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét

xử của tòa án theo một thể thức do

luật định

Một vụ việc dân sự được coi là có

yếu tố nước ngoài khi có một

trong các yếu tố sau:

+ Đương sự trong vụ việc dân

sự là người nước ngoài, người Việt

Nam định cư ở nước ngoài

+ Căn cư để xác lập, thay đổi,

chấm dứt quan hệ đó theo pháp

luật nước ngoài, phát sinh tại nước

ngoài

+ Tài sản liên quan đến quan hệ

đó ở nước ngoài

- Là hoạt động của Tòa án một nước trong việc giải quyết các

vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng không có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét

xử của tòa án theo một thể thức do luật định

2.

Vị trí

- TTDS Quốc tế là một bộ phận

cấu thành quan trọng của Tư pháp

quốc tế của một quốc gia

- TTDS thông thường là một ngành luật độc lập trong pháp luật quốc gia

3.

Nguyên

tắc

- TTDS quốc tế phải tuân theo các

nguyên tắc cơ bản của TPQT đồng

thời TTDS quốc tế có những

nguyên tắc đặc thù riêng:

+ Tôn trọng chủ quyền, an ninh

quốc gia của nhau

+ Tôn trọng quyền miễn trừ tư

pháp của Nhà nước nước ngoài và

những người được hưởng quyền

ưu đãi, miễn trừ ngoại giao

+ Bảo đảm quyền bình đẳng của

các bên tham gia tố tụng

+ Nguyên tắc có đi có lại, cùng

có lợi

+ Nguyên tắc luật tòa án (Lex

fori) Đây là nguyên tắc đặc thù

- TTDS thông thường chỉ phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS trong nước ………

Trang 2

Áp

dụng

pháp

luật

- Xảy ra hiện tượng xung đột pháp

luật

- Dựa vào nguyên tắc luật Tòa án

thì khi tiến hành các hoạt động tố

tụng dân sự quốc tế thì Tòa án áp

dụng luật của nước có Tòa án thụ

lý và giải quyết vụ việc dân sự đó

(Trừ trường hợp ngoại lệ được quy

định trong pháp luật của từng

nước hoặc trong các điều ước

quốc tế mà nước đó tham gia)

=> Như vậy, việc giải quyết vụ

việc dân sự có yếu tố nước ngoài

phải dựa trên cơ sở tôn trọng các

ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc

gia nhập và tuân thủ các quy định

của pháp luật Việt Nam

+ Đối với các nước có hiệp

định tương trợ tư pháp với Việt

Nam thì việc thụ lý giải quyết các

vụ việc dân sự có yếu tố nước

ngoài phải tuân theo các hiệp định

tương trợ tư pháp mà Nhà nước ta

đã ký kết

+ Đối với các Nhà nước chưa

có hiệp định tương trợ tư pháp với

Việt Nam thì việc thụ lý giải quyết

sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam

- Không xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật

- Chỉ áp dụng pháp luật tố tụng của quốc gia

Trang 3

Thẩm

quyền

xét xử

của

Tòa án

- Xảy ra hiện tượng xung đột thẩm

quyền xét xử quốc tế

+ Chọn các quy phạm xác định

thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế

để làm rõ tòa án nước nào có thẩm

quyền thực tế giải quyết thực chất

các vụ việc TPQT cụ thể đã phát

sinh)

+ Việc xác định thẩm quyền

giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố

nước ngoài theo nguyên tắc vừa

phải căn cứ vào các ĐƯQT mà

Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập

vừa phải căn cứ vào pháp luật

trong nước

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa

án Việt Nam không bị thay đổi

Đây là nguyên tắc quan trọng

trong TTDS quốc tế được nhiều

nước áp dụng Theo nguyên tắc

này, khi vụ việc dân sự đã được

Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết

theo đúng quy định về thẩm

quyền, đặc biệt là thuộc thẩm

quyền riêng biệt thì thẩm quyền đó

không thể bị thay đổi vì bất cứ lý

do gì, kể cả trường hợp đương sự

thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư

trú hoặc có những tình tiết mới

làm cho vụ việc dân sự đó thuộc

thẩm quyền của Tòa án khác của

Việt Nam hoặc thuộc thẩm quyền

của Tòa án nước ngoài (Điều 412

BLTTDS)

- Chỉ phải phân định thẩm quyền của Tòa án các cấp (cấp huyện, cấp tỉnh); phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ (phân định thẩm quyền sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau) theo quy định của pháp luật tố tụng quốc gia

- Vụ việc dân sự đã thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý (Khoản 1 Điều

37 BLTTDS)

Trang 4

Địa vị

pháp lý

của

người

tham

gia tố

tụng

- Bên cạnh việc được áp dụng chế

độ đãi ngộ như công dân trong

lĩnh vực TTDS quốc tế thì cá

nhân, tổ chức nước ngoài còn bị

áp dụng biện pháp hạn chế quyền

TTDS Theo đó, Tòa án Việt Nam

có thể áp dụng biện pháp hạn chế

quyền TTDS đối với cá nhân, tổ

chức nước ngoài nếu Tòa án nước

ngoài đó đã hạn chế quyền TTDS

đối với công dân, tổ chức Việt

Nam (Khoản3 Điều406 BLTTDS)

Đây chính là nguyên tắc “báo

phục quốc” hay biện pháp trả đũa

Hạn chế quyền TTDS có thể là sự

hạn chế toàn bộ quyền tham gia tố

tụng tại tòa án, hoặc có thể chỉ hạn

chế một số nội dung như miễn,

giảm án phí…

- Vấn đề xác định năng lực pháp

luật và năng lực hành vi TTDS

trong TTDS quốc tế cũng xảy ra

xung đột Theo đó:

+ Việc xác định năng lực pháp

luật và năng lực hành vi TTDS của

cá nhân khá phức tạp, bao gồm

các hệ thuộc luật quốc tịch, luật

nơi cư trú, luật Tòa án (Điều 407

BLTTDS)

+ Năng lực pháp luật tố tụng

dân sự của cơ quan, tổ chức nước

ngoài được xác định theo pháp

luật của nước nơi cơ quan, tổ chức

đó được thành lập, trừ trường hợp

pháp luật Việt Nam có quy định

khác Năng lực pháp luật tố tụng

dân sự của tổ chức quốc tế được

xác định trên cơ sở điều ước quốc

tế là căn cứ để thành lập tổ chức

đó, quy chế hoạt động của tổ chức

- Không xảy ra trường hợp hạn chế quyền TTDS của công dân

- Năng lực PL và năng lực hành vi TTDS trong TTDS thông thường xác định rất đơn giản chỉ theo quy định của PL TTDS quốc gia:

+ Điều 57 BLTTDS quy định đương sự là người từ đủ

18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi TTDS, trừ trường hợp mất năng lực hanh vi dân

sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

+ Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng

Trang 5

quốc tế hoặc điều ước quốc tế đã

được ký kết với cơ quan có thẩm

quyền của Việt Nam (Điều 408

BLTTDS)

- Có một số trường hợp các vụ

tranh chấp dân sự quốc tế mà một

bên đương sự là quốc gia nước

ngoài hoặc người được hưởng

quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao

của Việt Nam sẽ được Nhà nước

Việt Nam giải quyết bằng đường

ngoại giao

- TTDS thông thường không

có yếu tố nước ngoài nên không đề cập đến vấn đề giải quyết bằng con đường ngoại giao

7.

Vấn đề

ủy thác

TPQT

- Được ghi nhận trong các ĐƯQT

và trong pháp luật quốc gia

+ Ủy thác TPQT được hiểu là

sự yêu cầu bằng văn bản chính

thức của cơ quan tư pháp nước

này đối với cơ quan tư pháp nước

kia (thường là các tòa án hữu quan

cùng cấp) thực hiện các hành vi tố

tụng riêng biệt tại lãnh thổ của

nước được yêu cầu theo những nội

dung chỉ định trong văn bản yêu

cầu

+ Vấn đề ủy thác TPQT được

quy định tại Điều 415 BLTTDS

=> Vấn đề này đã tạo điều kiện

để các cơ quan tư pháp giải quyết

- Không đặt ra vấn đề ủy thác TPQT do những vụ việc dân

sự không có yếu tố nước ngoài, các sự kiện pháp lý, đối tượng, chủ thể trong quan hệ TTDS thông thường chỉ nằm trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Các cơ quan tư pháp hoàn toàn có thể thực hiện các hành vi tố tụng theo đúng thẩm quyền của mình trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia có cơ quan tư pháp

=> Điều này thể hiện việc khẳng định độc lập chủ quyền

Trang 6

nhanh chóng những vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài , từ đó bảo

vệ được quyền và lợi ích hợp pháp

của đương sự trong những trường

hợp nhất định

của mỗi quốc gia

8.

Thủ

tục giải

quyết

- Không phải lúc nào cũng cần

tiến hành hòa giải, ngoài các vụ án

dân sự không được hòa giải (Điều

181 BLTTDS) và các vụ án dân sự

không hòa giải được (Điều 182

BLTTDS) thì đối với các vụ việc

dân sự có một bên đương sự đang

ở nước ngoài thì căn cứ vào kết

quả của việc thực hiện ủy thác

TPQT, Tòa án đưa vụ án ra xét xử

mà không cần phải hòa giải vì có

một bên đương sự đang ở nước

ngoài nên không hòa giải được

- Hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một khâu bắt buộc trừ những vụ án dân

sự không được hòa giải (Điều

181 BLTTDS) và các vụ án dân sự không hòa giải được (Điều 182 BLTTDS)

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w