1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật việt nam về ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và thực tiễn thực

16 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua tìm hiểu đề tài “Pháp luật Việt Nam về ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và thực tiễn thực hiện” ta

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI NÓI ĐẦU……… 1

B NỘI DUNG………2

1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh……… 2

1.1 Khái niệm cạnh tranh……… 2

1.2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh……… 3

2 Pháp luật Việt Nam về ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác………4

2.1 Ép buộc trong kinh doanh……… 4

2.2 Gièm pha doanh nghiệp khác……….6

2.3 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác………9

3 Thực tiễn thực hiện………11

3.1 Những kết quả đạt được……….11

3.2 Những khó khăn thách thức……….12

4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi PL…… 12

C KẾT BÀI……… ……14

D DANH MỤC TÀI LIỀU THAM KHẢO………15

Trang 2

A LỜI NÓI ĐẦU

Cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất hàng hoá và trở thành đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường Tuy nhiên với sự gia tăng không ngừng về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, sự hiện diện của các doanh nghiệp với vốn đầu

tư nước ngoài có sự vượt trội về khả năng tài chính, hành vi cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn, đặc biệt cạnh tranh không lành mạnh trở nên khó kiểm soát hơn

Thực hiện chính sách đổi mới toàn diện, Nhà nước đã và đang tập trung xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ chế kinh tế thị trường đặt ra nhu cầu phải thiết lập và duy trì một môi trường cạnh tranh công bằng, hạn chế và từng bước loại bỏ cạnh tranh không lành mạnh nhằm tạo điều kiện phát triển cho tất cả các chủ thể kinh doanh Cạnh tranh không lành mạnh được chia thành nhiều nhóm khác nhau gắn liền với từng đặc trưng nhất định Hiện nay, pháp luật nhìn chung đã có sự điều chỉnh đối với hành

vi cạnh tranh không lành mạnh Thông qua tìm hiểu đề tài “Pháp luật Việt Nam về ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối loạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và thực tiễn thực hiện” ta sẽ hiểu rõ hơn về một số hình

vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh

1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là nền tảng cho sự vận hành của cơ chế thị trường, thúc đẩy và hợp lý hóa sản xuất, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội và là động lực cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế Trên thực tế khái niệm cạnh tranh đã xuất hiện từ rất lâu và có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này Nhưng cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa thực sự thống nhất cũng như chưa đưa ra được một khái niệm cạnh tranh thực sự chính xác và đầy đủ

Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là hành vi của hai hay nhiều chủ thể kinh doanh trên thị trường với mục đích giành cho mình ưu thế cao hơn so với những chủ thể kinh doanh khác, từ đó lôi kéo về phía mình càng nhiều khách hàng càng tốt Tuy vậy, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường – nơi có sự tham gia của ít nhất hai hay nhiều người cung cấp hoặc có nhu cầu và những người này có ít nhất một

số mục đích đối kháng nhau

Cạnh tranh có những đặc điểm cơ bản sau:

- Thứ nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa ít nhất là hai chủ thể kinh doanh trở lên trên thị trường và là đối thủ của nhau Chủ thể của cạnh tranh phải là các cá nhân,

tổ chức kinh doanh có tư cách pháp lí độc lập

- Thứ hai, quá trình cạnh tranh giữa các đối thủ phải diễn ra trên một thị trường

cụ thể Pháp luật về cạnh tranh của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam thường quy định về thị trường liên quan để xác định hành vi cạnh tranh

- Thứ ba, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện của cơ chế thị trường Trong nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không tồn tại cạnh tranh

- Thứ tư, mục đích của cạnh tranh là nhằm lôi kéo, giành giật khách hàng dẫn tới việc đẩy giá thành sản phẩm xuống hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm Các doanh nghiệp, nền kinh tế lẫn người tiêu dùng đều được hưởng lợi từ cạnh tranh

Trang 4

1.2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh

Khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định: “Hành vi cạnh tranh không

lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”

Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy hành vi cạnh tranh không lành mạnh có một số đặc điểm sau:

- Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các chủ thể kinh doanh trên thị trường thực hiện

- Thứ hai, về mục đích của hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì đó phải là hành vi vì mục tiêu cạnh tranh và phải nhằm vào một đối thủ cạnh tranh cụ thể

- Thứ ba, về hình thức biểu hiện của hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó là hành vi có biểu hiện trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh

- Thứ tư, về hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại tới lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và mọi người tiêu dùng

Điều 39 Luật cạnh tranh năm 2004 đã chỉ rõ các loại hành vi cạnh tranh được coi

là không lành mạnh:

“1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

2 Xâm phạm bí mật kinh doanh;

3 Ép buộc trong kinh doanh;

4 Gièm pha doanh nghiệp khác;

5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;

6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

8 Phân biệt đối xử của hiệp hội;

9 Bán hàng đa cấp bất chính;

Trang 5

10 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định”.

Trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên, ba hành vi ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác và gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những dấu hiệu thể hiện trong đời sống thực tế tương đối rõ

2 Pháp luật Việt Nam về ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

2.1 Ép buộc trong kinh doanh

Căn cứ Điều 42 Luật cạnh tranh 2004 thì ép buộc trong kinh doanh là hành vi của doanh nghiệp đe dọa hoặc cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó

Theo đó, đối tượng bị ép buộc ở đây là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Về tính chất của hành vi thì hành vi này là hành vi ngăn cản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng các thủ đoạn khác nhau, được biểu hiện thông qua các hành vi sau:

- Đe dọa đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh: Hành vi đe dọa có thể là dùng những công cụ phương tiện tác động đến tâm lý,

sự lựa chọn đúng đắn của khách hàng và doanh nghiệp, làm cho họ có cảm giác lo sợ, buộc phải thực hiện những hành vi ngoài ý muốn Hành vi đe dọa có thể là sử dụng những đe dọa về vật chất hoặc cũng có thể là những đe dọa về tinh thần như trừng phạt kinh tế, tiết lộ bí mật đời tư, cắt hợp đồng… Tuy nhiên, về mặt lý luận, hành vi

đe dọa phải mang tính chất hiện hữu và có thể thực hiện ngay được Sự đe dọa đó cũng phải đủ mạnh để làm tê liệt ý chí của khách hàng và doanh nghiệp Mặt khác, nó cũng phải hướng vào một chủ thể xác định, nếu hành vi chỉ mang tính bâng quơ, hời hợt, ám chỉ thì không thể coi là hành vi đe dọa trong kinh doanh

- Cưỡng ép: Đây là hành vi mang tính chất ép buộc doanh nghiệp, khách hành bằng cách đặt họ vào những tình thế bị động, làm cho họ không thể biểu hiện ý chí

Trang 6

một cách đúng đắn được, không có sự lựa chọn trong cách cư xử của mình Biểu hiện của hành vi cưỡng ép có thể là sử dụng những lợi ích vật chất, đưa ra điều kiện liên quan đến công việc, đưa ra những hứa hẹn hấp dẫn…

Về hình thức thực hiện ở đây là buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác không được giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó

Về hậu quả của hành vi này là làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác và đối thủ cạnh tranh Thực chất hành

vi này giống như một sự “cấm vận kinh tế” đối với doanh nghiệp, nó gây cho doanh nghiệp những khó khăn trong quá trình kinh doanh hợp pháp Chính điều này sẽ làm kìm hãm sự hình thành một môi trường kinh doanh thực sự văn hóa, lành mạnh

Chủ thể tiến hành hành vi ép buộc trong kinh doanh có thể là chủ doanh nghiệp, nhân viên của doanh nghiệp hoặc bất kỳ cá nhân nào khác với mục đích cạnh tranh không lành mạnh Việc chứng minh được động cơ, mục đích, người chủ mưu… của hành vi này là điều kiện cơ bản để có thể kết luận chủ thể đó có vi phạm quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh hay không

Theo Điều 32 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh quy định về xử lý vi phạm khi doanh nghiệp thực hiện hành vi ép buộc trong kinh doanh:

“1 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.

2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm ép buộc trong kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp ép buộc khách hàng hoặc đối tác kinh doanh lớn nhất của đối thủ cạnh tranh.

3 Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này, doanh nghiệp

vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi

vi phạm”.

Trang 7

Tóm lại, hành vi ép buộc trong kinh doanh là hành vi gây ra tác động xấu đối với môi trường cạnh tranh lành mạnh, vừa gây thiệt hại cho đối thủ lại làm ảnh hưởng tới lợi ích của khách hàng Để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, quyền

và lợi ích hợp pháp của khách hàng, bước đầu pháp luật đã có những quy định điều chỉnh những hành vi này Tuy nhiên những quy định này cũng chỉ mới tiếp cận ở mức

độ khái quát nhất và vì vậy, để thực sự ngăn chặn được những hành vi này, đòi hỏi phải có những hướng dẫn cụ thể và những chế tài đủ mạnh để xử lý kịp thời những hành vi đó

2.2 Gièm pha doanh nghiệp khác

Điều 43 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh

nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”.

Đối tượng bị gièm pha là doanh nghiệp khác hay nói cách khác là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thực hiện hành vi Đối tượng của hành vi gièm pha có thể liên quan tới các mặt của doanh nghiệp như uy tín, văn hóa doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, cách thức bán hàng, tiềm lực kinh tế - tài chính…

Hình thức biểu hiện của hành vi này là việc doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra những thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác Bản chất của hành vi này cũng là hành vi nhằm ngăn cản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Nhìn chung, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác có thể được biểu hiện dưới những hình thức sau:

- Thông tin sai lệch về chất lượng sản phẩm: Đối với khách hàng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ là điều mà họ quan tâm nhất, vì vậy doanh nghiệp luôn tìm cách để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Nếu muốn thật sự lôi kéo được khách hàng, thuyết phục khách hàng sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp thì việc cải tiến chất lượng sản phẩm là phương pháp hiệu quả nhất Tuy nhiên, chính vì điều này mà nhiều khi doanh nghiệp lại đánh vào tâm lý nghi ngờ của người tiêu dùng đối với

Trang 8

những sản phẩm mà chất lượng của họ đã được khẳng định bằng cách đưa ra những thông tin sai lệch Khách hàng lại thường không có điều kiện để kiểm chứng thông tin, nên nhiều khi chỉ cần có thông tin xấu về sản phẩm thì họ sẽ ngần ngại khi sử dụng những sản phẩm đó Doanh nghiệp cạnh tranh thường tung những tin đồn thất thiệt về chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hay nói cách khác, họ “nhen nhóm” sự nghi ngờ của khách hàng trong việc sử dụng những hàng hóa, dịch vụ của đối thủ mình Hành vi này có thể làm cho những doanh nghiệp khác lâm vào tình trạng khó khăn, việc kinh doanh chắc chắn bị ảnh hưởng và việc khắc phục cũng không thể tiến hành trong một sớm một chiều Có thể coi đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang tính cổ điển nhất

- Thông tin sai lệch ảnh hưởng đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác: Hành vi này về bản chất là gây cho khách hàng một ấn tượng xấu về đối thủ cạnh tranh Thủ đoạn mà các doanh nghiệp thường sử dụng có thể là đưa ra những thông tin sai lệch về nhân thân, cuộc sống đời tư của chủ doanh nghiệp, cách hành xử của doanh nghiệp đối với người khác… Hành vi cũng có thể nhằm vào tình trạng tài chính của doanh nghiệp Những thông tin xấu về tình trạng tài chính có thể gây cho những đối tác đang làm ăn, giao dịch với doanh nghiệp cảm giác không yên tâm và do đó công việc kinh doanh chắc chắn sẽ gặp những cản trở nhất định Có thể khẳng định, bất kỳ hành vi nào của doanh nghiệp cũng đều có thể trở thành đối tượng của những hành vi gièm pha, bằng cách thổi phồng những sự việc, nhiều khi doanh nghiệp đã làm cho đối thủ cạnh tranh của mình những thiệt hại không lường trước được

Và hậu quả của hành vi này là làm ảnh hưởng xấu tới uy tín, tình hình tài chính

và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Khi điều tra về hành vi gièm pha doanh nghiệp khác, hậu quả phải được xác định là hiện thực, doanh nghiệp bị gièm pha đã phải gánh chịu những bất lợi về uy tín, về tài chính và tình hình kinh doanh do thông tin không trung thực gây ra Mọi sự suy đoán về hậu quả không được coi là cơ

sở để kết luận về sự vi phạm

Trang 9

Tuy nhiên không phải bất kỳ một thông tin nào ảnh hưởng đến doanh nghiệp khác cũng là những hành vi gièm pha doanh nghiệp, mà nó phải đảm bảo một số tiêu chí nhất định:

Thứ nhất, hành vi này phải xuất phát từ đối thủ cạnh tranh và vì mục đích cạnh tranh

Thứ hai, hành vi cạnh tranh phải nhằm vào đối thủ cạnh tranh trong một thị trường liên quan (bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan)

Cũng cần phải phân biệt giữa việc gièm pha, bôi nhọ… với những đánh giá, nhận xét về kinh doanh khác Đây cũng là vấn đề phổ biến trong hoạt động kinh doanh Nhận định, đánh giá về một chủ thể kinh doanh nào đó là không thể tránh khỏi Tuy nhiên, những nhận định, đánh giá đó không có mục đích cạnh tranh mang nhiều thái

độ chủ quan và thông thường không bị cấm dưới giác độ của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

Theo Điều 33 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh quy định hình thức xử phạt khi thực hiện hành vi gièm pha doanh nghiệp khác:

“1 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.

2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác.

3 Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều này, doanh nghiệp

vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 30 của Nghị định này”.

Trang 10

Như vậy, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác là một hiện tượng thường gặp trong nền kinh tế thị trường, nó ảnh hưởng xấu đến môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm thiệt hại đến uy tín, lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của người tiêu dùng Luật cạnh tranh 2004 đã đưa ra những chế định quan trọng nhằm hạn chế và xử

lý những hành vi này, đây chính là cơ sở để các cơ quan nhà nước áp dụng trong quá trình đấu tranh với những hành vi tiêu cực đó Tuy nhiên những quy định này vẫn chưa thể hiện một cách đầy đủ những căn cứ để xử lý nghiêm khắc và còn những vấn

đề chưa rõ ràng Điều này đòi hỏi trong thời gian tới cần có những bổ sung hướng dẫn nhằm góp phần đấu tranh với những hành vi xấu này

2.3 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể sử dụng bất kỳ phương tiện cạnh tranh hợp pháp nào để đạt được lợi thế trong kinh doanh Nhưng nếu doanh nghiệp lại hoạt động kinh doanh bằng cách gây rối, cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác thì bị coi là bất hợp pháp Để đảm bảo quyền kinh

doanh của các chủ thể trên thị trường, Điều 44 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm

doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”.

Về hình thức biểu hiện và tính chất của hành vi này là gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác cũng là chiến lược ngăn cản hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác có thể được biểu hiện dưới hai hình thức:

- Hành vi nhằm cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác: Loại hành

vi này có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như tác động trực tiếp đến nguồn cung cấp nguyên vật liệu, cản trở việc tiêu thụ hàng hóa, ép giá… nó làm cho doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định trong quá trình kinh doanh

- Hành vi làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác: Hành vi này được biểu hiện bằng việc thực hiện những hoạt động làm cho quá trình kinh

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w