1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sưu tầm 2 vụ việc liên quan để phân tích về giới hạn quyền bí mật đời tư của cá nhân trong mối liên quan đến lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp phá

12 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 129,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” a Cá nhân có quyền có họ tên Ngay từ khi sinh ra, pháp luật đã công nhận những quyền c

Trang 1

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HỌ TÊN

VÀ HÌNH ẢNH

I QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HỌ TÊN

1 Khái niệm họ - tên

Họ: mỗi cá nhân sinh ra, tồn tại và phát triển đều cần có họ tên Đầu tiên đó là đấu

hiệu nhận biệt, phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, tiếp nữa mỗi cá nhân trong xã hội phải có một cái tên kèm theo họ nhất định để đảm bảo hiệu quả trong quản lí xã hội của nhà nước họ và tên của cá nhân cũng mang một ý nghĩa sâu sắc, thông qua họ tên

đó ta biết nguồn gốc, lai lịch, giới tính của cá nhân

Tên: được chia thành hai loại, đó là tên chính và tên đệm Họ tên là yếu tố nhân thân

gắn liền với mỗi cá nhân Quyền nhân thân của mỗi cá nhân liên quan tới họ - tên là quyền mang tính tiên quyết, cơ sở để hình thành những quyền nhân thân khác của cá nhân Pháp luật điều chỉnh những quyền nhân thân liên quan đến họ tên cũng cần được hoàn thiện để đảm bảo quyền lợi của cá nhân

2 Nội dung Quyền đối với họ tên

Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền đối với họ tên:

“1.Cá nhân có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó

2 Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

3 Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”

a) Cá nhân có quyền có họ tên

Ngay từ khi sinh ra, pháp luật đã công nhận những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền có họ, tên Một cá nhân sinh ra, muốn tồn tại và phát triển đương nhiên phải có những dấu hiệu cơ bản nhất để để cá biệt hóa cá nhân

Cá nhân phải tồn tại dưới một cái tên nhất định và pháp luật phải công nhận cho họ

có quyền có họ tên Một người có thể có nhiều tên gọi, tên gọi ở nhà, tên gọi khi còn nhỏ Tuy nhiên chỉ có tên ghi nhận trong giấy khai sinh xác định là họ tên có giá trị pháp lý Hiện nay có hai luồng ý kiến trái chiều nhau về việc xác định họ Thứ nhất là xác định

họ của trẻ theo họ của cha hoặc mẹ Ở nước ta hiện nay, họ của con thường là theo họ của bố ( chế độ phụ hệ); chỉ có một số ít dân tộc Ê Đê, Ba Na, Gia Lai và một số dân tộc sống ở vùng Tây Bắc là theo chế độ mẫu hệ

Cũng có trường hợp trẻ lấy họ theo họ của mẹ, hiện tại thì pháp luật chưa quy định cụ thể vấn đề này Luồng ý kiến thứ hai cho rằng, họ của đứa trẻ có thể là theo họ của cha, của mẹ, hoặc không theo họ của ai cả Không nhất thiết phải lấy họ của bố hay mẹ, khi

Trang 2

khai sinh cho trẻ có thể lấy bất cứ họ nào mà người đi khai sinh thích Đây vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, dẫn tới việc khó khăn cho việc xác định họ cho trẻ

b) Sử dụng họ tên để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Hiện nay chúng ta phải tham gia vào rất nhiều các mối quan hệ xã hội, các giao dịch Việc sử dụng họ tên của mình để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng được quy định rất rõ

Việc sử dụng họ tên phải hợp pháp và được pháp luật công nhận Công dân có thể dùng họ tên của mình để tham gia các quan hệ, các giao dịch, ví dụ như tham gia kí kết các hợp đồng làm việc, hợp đồng đầu tư

c) Sử dụng bút danh, bí danh.

Những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật như nhà văn, nhà thơ, họa sĩ thường sử dụng bút danh Một số nhà văn nổi tiếng cũng sử dụng bút danh như nhà văn Nam Cao ( tên khai sinh là Trần Hữu Tri), nhà thơ Hàn Mặc Tử (tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí) Bí danh thường sử dụng cho những người hoạt động trong những lĩnh vực mang tính chất bí mật cao như hoạt động cách mạng trong thời chiến Các cán bộ cách mạng của ta đã sử dụng bí danh để hoạt động cách mạng, nhằm tránh bị lộ về thân phận

Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trong thời kì hoạt động cách mạng đã lấy bí danh là Mười Cúc; Cố Tổng Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã lấy bí danh là Sáu Dân, Chín Dũng Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “ Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” Mặc dù đã có quy định về sử dụng bút danh, bí danh nhưng quy định vẫn mang tính chung chung, không cụ thể

d) Thay đổi họ tên.

Cá nhân có quyền thay đổi họ tên sao cho họ tên đó phù hợp nhất đối, không làm ảnh hưởng tới cuộc sống, quyền và lợi ích của cá nhân; để có thể thay tên đổi họ phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của luật:

Điều 27 Quyền thay đổi họ, tên:

“1 Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây

nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại

họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con; Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

đ) Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của

e) Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

Trang 3

g) Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2 Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

3 Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ”

2 Quyền đối với họ, tên trong mối liên hệ với các quyền nhân thân khác

a) Mối liên hệ giữa quyền đối với họ tên và quyền được khai sinh.

Từ khi mới được sinh ra, quyền đầu tiên đứa trẻ được pháp luật công nhận đó là quyền khai sinh Quyền được khai sinh là quyền đầu tiên để khẳng định mỗi trẻ em là một công dân của một quốc gia, một công dân bình đẳng như một công dân khác Quyền được khai sinh là cơ sở, điều kiện để thực hiện các quyền nhân thân khác của trẻ em như quyền có họ tên, quốc tịch, quyền xác định giới tính, dân tộc khi cá nhân được khẳng định dấu hiệu riêng biệt bằng những thông tin trên giấy khai sinh thì đồng thời đứa trẻ có thêm một quyền nhân thân quan trọng khác là quyền đối với họ tên Quyền đối với họ tên suất hiện ngay sau khi quyền được khai sinh được thực hiện

b) Mối liên hệ giữa quyền đối với họ tên và quyền thay tên đổi họ.

Quyền có họ tên là quyền nhân thân, tuy nhiên quyền này lại phụ thuộc vào người đi khai sinh Khi đi khai sinh, người khai sinh sẽ đặt tên cho trẻ, vì vậy đứa trẻ không thể tự quyết định họ tên cho chính mình Nếu họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó thì

họ được quyền thay tên đổi họ để phù hợp với cuộc

c) Mối liên hệ giữa quyền đối với họ tên và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm

Quyền đối với họ tên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ khi quyền nay bị xâm phạm, đồng thời cũng xâm phạm tới các quyền về đảm bảo về danh dự, nhân phẩm, uy tín Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có quy định về bảo vệ quyền nhân

Điều 25 Bảo vệ quyền nhân thân:

“Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1 Tự mình cải chính;

2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người

vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người

vi phạm bồi thường thiệt hại”

Khoản 2, Điều 611 cũng quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm

phạm: “Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất

về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.

Trang 4

II QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

1. Khái niệm hình ảnh cá nhân và quyền nhân thân đối với hình ảnh cá nhân

Khái niệm hình ảnh cá nhân bao gồm mọi hình thức tác phẩm ghi lại hình dáng của con người cụ thể như chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và rộng hơn có thể là tượng của

người đó Đứng về mặt “ quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều llà

loại hình tác phẩm người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền ( chủ sở hữu quyền tác giả ) và trả cho họ một khoản lợi ích vất chất và trả thù lao nhuận bút cho người sáng tác Đứng về mặt quyền nhân thân thì ai muốn sử dụng hình ảnh của

cá nhân đều phải được sự đồng ý của người đó

Hình ảnh của cá nhân có thể được hiểu là sự tái hiện vẻ bề ngoài của một người bằng cách thức nào đó có thể ghi lại và gây ấn tượng thị giác cho những người khác Khi được mọi người nhìn vào hình ảnh tái hiện đó có thể nhận diện được rằng đó là ai.

Hình ảnh cá nhân thuộc lĩnh vực riêng tư của mỗi người Tuy nó không có gì bí mật cần phải hạn chế sử dụng nhưng một khi muốn sử dụng những hình ảnh của cá nhân nào đó, nhất là khi sử dụng vào mục đích kinh doanh thì cần phải hỏi ý kiến người chủ hình ảnh đó Bởi vì về nguyên tắc, mọi cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử dụng hình ảnh cá nhân của mình Nếu chưa được đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền của ca nhân đối với hình ảnh

Trường hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, mất trí, không chủ động được quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ em dưới 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên) hoặc người đại diện của họ đồng ý

Điều 24 BLDS quy định về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch Qua đó có thể hiểu khái niệm quyền nhân thân

đối với hình ảnh cá nhân "là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân liên quan đến việc

tạo dựng, sử dụng và cho phép sử dụng hình ảnh theo ý chí của chính cá nhân đó"

2 Đặc điểm quyền nhân thân đối với hình ảnh

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản.

Đặc tính không gắn với tài sản là một trong nhưng đặc tính cơ bản để phân biệt nhân thân không gắn với tài sản với quyền nhân thân gắn với tài sản ( quyền đứng tên tác giả, quyền đặt tên cho tác phẩm…) Vì quyền nhân thân đối với hình ảnh luôn gắn với chính hình ảnh bản thân của người đó và mỗi một chủ thể có một hình ảnh riêng biệt Mỗi chủ thể được công nhận một cách vô điều kiện với quyền nhân thân gắn với hình ảnh Hình ảnh bên ngoài của cá nhân là yếu tố nhận dạng cá nhân đó, không phải là một loại tài sản

để đem ra giao dịch Điều này hoàn toàn khác với quyền tài sản đối với hình ảnh, vì quyền tài sản đối với hình ảnh nghĩa là hình ảh của cá nhân được sử dụng trong giao dịch thương mại, quảng cáo Quyền này được phép mang ra kinh doanh nhằm thu lại lợi

Trang 5

nhuận cho bản thân cá nhân Do đó khi sử dụng hình ảnh của cá nhân vào mục đích quảng cáo thì cần phải có sự đồng ý của cá nhân đó Quyền nhân thân đối với hình ảnh được công nhận đối với mọi cá nhân một cách bình đẳng và suốt đời, không phụ thuộc vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế , địa vị hay mức độ tài sản của người đó

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân Đặc tính quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân của cá nhân Đặc điểm này nhằm phân biệt giữa quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh và quyền đối với hình ảnh của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác - Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền cá biệt hóa chủ thể Cùng với quyền của cá nhân đối với họ tên và dân tộc, quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc quyền cá biệt hóa cá nhân Đây là những quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với bản thân cá nhân đó Quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân là những quyền nhân thân ghi nhận những đặc điểm của mỗi cá nhân trong quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ dân sự nói riêng Quyền cá biệt hóa chủ thể được thể hiện dưới hình thức các công cụ cs biệt hóa khác nhau ở mỗi chủ thể như mỗi người có tên gọi, hình ảnh và các yếu tố lý lịch khác nhau Tập hợp các công cụ cá biệt hóa đó ở mỗi chủ thể sẽ cho ra sự hình dung bên ngoài về chủ thể đó khác biệt với chủ thể khác

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn Quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân được pháp luật ghi nhân và bảo hộ vĩnh viễn Khi chủ thể không còn nữa thì những người có liên quan được qyền yêu cầu bảo vệ khi có hành vi xâm phạm Cụ thể tại khoản 2 Điều 31 BLDS năm 2005 quy định như sau: “ Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưanđủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ,

vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của nhà nước, của công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.” Như vậy khi còn sống nếu như việc công bố hình ảnh mà không được sự đồng ý của họ vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của bản thân cá nhân đó ( chủ sở hình ảnh ) thì khi cá nhân chết, hình ảnh cá nhân vẫn được pháp luật bảo vệ bởi điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của những người thân thích của họ Theo đó, thu thập công

bố hình ảnh của cá nhân khi cá nhân đã chết thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của họ đồng ý

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền được bảo vệ khi có yêu cầu Khi quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm thì cá nhân có hình ảnh bị xâm phạm phải là người đánh giá xem quyền nhân thân đối với hình ảnh của mình có bị xâm phạm hay không? Nhà nước sẽ chỉ can thiệp và bảo vệ khi có yêu cầu

- Quyền nhân thân đối với hình ảnh thuộc nhóm các hành vi xâm phạm tác động vào vật phẩm liên quan đến quyền Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân gián tiếp đã xâm phạm tới quyền nhân thân của cá nhân đỗi với hình ảnh Khi quyền nhân thân của cá nhân đới với hình ảnh bị xâm phạm dẫn tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm Đồng nghĩa với việc cá nhân đó phải gánh chịu những tổn thất trực tiếp do hành vi xâm phạm đó gây ra Khắc phục những hậu quả này chủ thể có hành vi xâm phạm tác động tới quyền được yêu cầu buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc phải xin

Trang 6

lỗi, cải chính công khai và được bồi thường một khoản tiền nhằm bù đáp một phần nào

đó thiệt hại về tình thần của mình

3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân

- Đối với chính chủ có hình ảnh, có thể thấy “ hình ảnh” là yếu tô tinh thần gắn liền với bản thân chủ thể, nó có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của họ, mỗi hành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân trên thực tế thường ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần của cá nhân đó, vì không chỉ xâm phạm hình ảnh thôi mà còn xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, bởi vậy việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của

cá nhân có ý nghĩa lớn trong việc ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân, giúp khắc phục được một phần hậu quả về vật chất cũng như tinh thần cho chủ thể bị xâm hạm, tạo điều kiện cho cá nhân yên tâm lao động và sáng tạo

- Về phía nhà nước việc bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh góp phần hiện thực hóa nôi dung các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân, từ đó tăng cường lòng tin của nhân dân vào Nhà nước, vào quy định của pháp luật, để mọi người sống và thực hiện theo hiến pháp và pháp luật

- Việc bảo vệ hình ảnh của cá nhán còn có ý nghĩa to lớn đối với xã hội đó là bảo đảm trật tự xã hội và giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền đối với hình ảnh của cá nhân

B GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

I.TÌNH HUỐNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HỌ TÊN

Tình huống:

Bà Trần Thị A thường trú phường Hải Đình – Đồng Hới đến yêu cầu hướng dẫn làm thủ tục đổi lại tên cho con gái của bà là chị Mai Thị L, bà A trình bày chị L đã được làm thủ tục đổi tên lần thứ nhất do UBND tỉnh Quảng Bình ra quyết định đổi tên,

lý do là trùng tên với kỵ nội ( đời thứ 4 ), sau này chị L lấy chồng và bên chồng phát hiện ra chị lại trùng tên với họ bên ngoại nhà chồng Sau khi xem xét hồ sơ chúng tôi yêu cầu cung cấp các giấy tờ cần thiết để hoàn chỉnh hồ sơ trong đó có yêu cầu bà A xuất trình giấy tờ để chứng minh chị L trùng tên với người họ bên ngoại nhà chồng chị L ( Gia phả, nhật ký, lý lịch…) thì bà A không xuất trình được, bà trình bày do họ không lập gia phả, không ghi nhật ký dòng họ Lý do chính đáng để được thay đổi tên nhưng không xuất trình được giấy tờ để chứng minh con gái bà trùng tên với bà họ bên ngoại nhà chồng Nếu chỉ có xác nhận của trưởng dòng họ cũng không đảm bảo, nên cán bộ tư pháp không thể tiếp nhận hồ sơ

1 Bình luận vụ việc trên:

Quyền thay đổi họ tên là quyền nhân thân của mỗi cá nhân đã được quy định trong

Bộ luật Dân sự Về nguyên tắc, họ, tên chính thức của mỗi người cần phải được giữ ổn định, tránh sự thay đổi tùy tiện gây khó khăn cho giao lưu dân sự, cho công tác quản lý

Trang 7

hộ tịch nói riêng và quản lý hành chính nói chung Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho thay đổi họ tên của mình Theo quy định tại Điều 27 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

“ 1 Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

2 Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

3 Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

4 Thay đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại.;

5 Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình; 6.Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

7 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.”

Như vậy pháp luật đã quy định khá rõ ràng về quyền được thay đổi tên gọi và những trường hợp được thay đổi tên gọi Ở Khoản 1 là quy định khá mở, tạo điều kiện cho cơ quan đăng ký hộ tịch vận dụng trong những trường hợp cụ thể

Tuy nhiên, từ vụ việc trên có thể thấy quy định về những trường hợp được thay đổi

họ, tên tại Bộ luật Dân sự đã rất rộng, nhưng để chứng minh được việc sử dụng tên hiện tại đã gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền lợi ích hợp pháp của mình theo quy định ở Khoản 1 để các cơ quan đăng ký hộ tịch chấp nhận giải quyết thì không phải là chuyện đơn giản

Tại khoản 1, Điều 36 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: “Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có

lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự” và khoản 1, Điều 37 quy định:

“UBND cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh truớc đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho nguời duới 14 tuổi va bổ sung hộ tịch cho mọi truờng hợp, không phân biệt độ tuổi”

Việc bà Trần Thị A yêu cầu đổi lại tên cho con gái của bà là chị Mai Thị L lần thứ hai với lý do chị L lấy chồng và bên chồng phát hiện ra chị lại trùng tên với họ bên ngoại nhà chồng, thì có thể thấy đây là lý do chính đáng để được thay đổi tên (tránh nhầm lẫn) Tuy nhiên, bà A lại không xuất trình được giấy tờ để chứng minh con gái bà trùng tên với bà họ bên ngoại nhà chồng như gia phả, nhật ký, lý lịch…, bà trình bày do họ không lập gia phả, không ghi nhật ký dòng họ Do cán bộ tư pháp đã từ chối tiếp nhận

hồ sơ

Như vậy, mặc dù việc đổi họ, tên có lý do chính đáng, nhưng lại không nằm trong các quy định tại Điều 27 Bộ luật Dân sự nên yêu cầu trên của bà A đã không được giải quyết Nếu có giấy tờ chứng minh như gia phả dòng họ thì Phòng Tư pháp vẫn phải tiếp

Trang 8

nhận hồ sơ Nếu chỉ có xác nhận của trưởng dòng họ, Phòng Tư pháp không thể tiếp nhận hồ sơ bởi phần lớn các trưởng dòng họ đều xác nhận là trùng tên (kể cả có trùng hoặc không trùng nhưng vẫn xác nhận)

Từ vụ việc này có thể thấy có sự mâu thuẫn và vướng mắc giữa quy định của pháp luật và thực tiễn Bởi vậy, cần có sự hướng dẫn chi tiết, cụ thể bằng các văn bản hướng dẫn, đồng thời có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung quy định về quyền thay đổi họ tên, các điều kiện, lý do, trong BLDS để các cơ quan chức năng có thể thống nhất cách giải quyết cũng như đảm bảo quyền nhân thân,quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

2 Kiến nghị và hướng hoàn thiện pháp luật

Quyền thay đổi họ tên là quyền nhân thân của mỗi cá nhân đã được quy định trong

Bộ luật Dân sự Theo quy định tại Điều 27 Bộ luật dân sự 2005 thì cá nhân có quyền yêu

cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

1 Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

2 Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

3 Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

4 Thay đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại.;

5 Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

6.Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

7 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Như vậy pháp luật đã quy định khá rõ ràng về quyền được thay đổi tên gọi và những trường hợp được thay đổi tên gọi Ở Khoản 1 là quy định khá mở, tạo điều kiện cho cơ quan đăng ký hộ tịch vận dụng trong những trường hợp cụ thể

Như vậy, quy định về những trường hợp được thay đổi họ, tên tại Bộ luật Dân sự đã rất rộng, nhưng để chứng minh được việc sử dụng tên hiện tại đã gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền lợi ích hợp pháp của mình theo quy định ở Khoản 1 để các cơ quan đăng ký hộ tịch chấp nhận giải quyết thì không phải là chuyện đơn giản Vậy nên, nhóm xin đưa ra một vài kiến nghị về việc quy định về thay đổi họ, tên:

Thứ nhất, nên đơn giản hóa thủ tục về việc thay đổi họ, tên; tạo điều kiện cho

những người muốn thay đổi họ, tên có lý do chính đáng dễ dàng thực hiện nguyện vọng của mình Đơn giản như trong trường hợp trên, mặc dù việc đổi họ, tên có lý do chính đáng nhưng bà A vẫn không được giải quyết bởi bà A không xuất trình giấy tờ để chứng minh chị L trùng tên với người họ bên ngoại nhà chồng chị L (Gia phả, nhật ký, lý lịch…) do họ không lập gia phả, không ghi nhật ký dòng họ Trong trường hợp này, nếu

Trang 9

bà A đã có xác nhận của trưởng dòng họ thì cũng có thể đảm bảo được, vì vậy cán bộ tư pháp có thể linh động tiếp nhận hồ sơ để giải quyết cho bà A

Thứ hai, cần bổ sung quy định tại Điều 27 Bộ Luật dân sự 2005 về lý do được thay

đổi họ tên Bởi trên thực tế, không ít trường hợp lý do xin thay đổi tên gọi rất tế nhị, nhưng lại không nằm trong các quy định tại Điều 27 Bộ luật Dân sự nên đã không được giải quyết

Thứ ba, cần xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về quyền đối với họ tên, bởi vì từ

khái niệm này sẽ giải thích rõ giúp chúng ta hiểu được những đặc điểm pháp lý, bản chất của vấn đề Việc đưa ra khái niệm quyền đối với họ tên là hoàn toàn cần thiết, để hình dung quyền này có những yếu tố pháp lý? Để từ những yếu tố pháp lý mang tính lý thuyết này chúng ta có thể áp dụng, đối chiếu để đảm bảo việc bảo vệ quyền nhân thân này có hiệu quả cao nhất

Ngay bắt đầu khai sinh ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện quyền đối với họ tên của cá nhân Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định trách nhiệm khai sinh thuộc những chủ thể nào, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, đó là những người chưa khai sinh hoặc khai sinh không đúng thời hạn luật định Cũng cần quy định rõ rằng, những chủ thể không đi khai sinh cho trẻ mà gây ra hậu quả nghiêm trọng cần phải bồi thường theo mức độ thiệt hại Điều này làm cho các chủ thể có quyền khai sinh lưu ý và quan tâm hơn, tránh để sảy ra những sự việc đáng tiếc

Việc khai sinh gắn liền với quyền nhân thân của chủ thể được khai sinh, tuy nhiên quyền này lại phụ thuộc vào người khác Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã quy định thời hạn đi khai sinh cho trẻ mới sinh ra là 60 ngày, tuy nhiên việc thực hiện quy định này vẫn còn nhiều bất cập Ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo nhận thức của người dân về quyền này vẫn chưa cao nên việc thực hiện vẫn chưa triệt để, một bộ phận không nhỏ trẻ em khi tới tuổi đi học mới đi đăng ký khai sinh Luật và những văn bản liên quan cũng cần quy định thêm chủ thể có quyền đi khai sinh đó là người chưa được khai sinh mà đã thành niên Điều này nhằm cụ thể hóa quyền đối với họ tên của cá nhân trong việc khai sinh

Theo BLDS và Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì việc xác định họ của cá nhân khi khai sinh không bị giới hạn bởi bất kỳ nguyên tắc nào, khi

đi khai sinh, người khai sinh có thể lấy họ của đứa trẻ là họ của người cha, hoặc người

mẹ, cũng có thể không theo họ của cả cha lẫn mẹ Cần phải quy định cụ thể việc xác

định họ cho trẻ, BLDS 1995 quy định: “Mọi người khi sinh ra đều có quyền được khai sinh, không phân biệt sinh trong giá thú hay ngoài giá thú Họ của trẻ sơ sinh là họ của người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ Trong trường hợp không xác định được người cha thì họ của trẻ sơ sinh là họ của người mẹ” Đây là một quy định rất cụ thể, rõ ràng về việc xác định họ cho trẻ sơ sinh Tuy

nhiên thực tế thực hiện lại rất khó khăn, gây nhiều phiền hà cho người muốn thay tên đổi

họ vì thủ tục của nó quá rườm rà Thiết nghĩ, khi một cá nhân muốn thay tên đổi họ khi

họ tên đó gây ảnh hưởng, nhầm lẫn tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà đưa ra

Trang 10

được lý do hợp lý thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tạo điều kiện giúp đỡ họ, tạo

ra sự thông thoáng cho quy định này

Bên cạnh đó đối với việc sử dụng, khai thác bút danh, bí danh, nghệ danh phải phù hợp và không gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Luật cũng cần đưa ra những quy định cụ thể đối với quyền này của cá nhân

II.TÌNH HUỐNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

Tình huống

Hiện nay dư luận đang rung động vì vụ Giám đốc Thẩm mỹ viện (TMV) Cát Tường (45 đường Giải Phóng, Hà Nội) làm chết người rồi vứt xác xuống sông

Cùng với sự việc này, siêu mẫu Lan Hương cũng bức xúc bởi thẩm mỹ viện này lợi dụng hình ảnh của cô quảng cáo mà chưa hề xin phép hoặc được cô đồng ý

Được biết, thẩm mỹ viện này đã sử dụng hình ảnh của Lan Hương cho dịch vụ 'siêu

giảm béo bằng phi thuyền ánh sáng' với mức giá khuyến mãi vô cùng hấp dẫn Theo

đó, giá chính thức từ 1 triệu đồng đã được ông chủ thẩm mỹ viện Cát Tường 'chào mời' giảm xuống chỉ còn 250.000 đồng

Thẩm mỹ viện Cát Tường bắt đầu đi vào hoạt động chính thức từ đầu năm 2013

Từ đó đến nay, thông tin về hoạt động cũng như các dịch vụ của thẩm mỹ viện được đăng tải và quảng cáo rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là Internet Trong các quảng cáo đó có sử dụng hình ảnh của siêu mẫu Lan Hương để minh họa Sau khi vụ việc gây chết người của giám đốc thẩm mỹ viện này xảy ra gần đây thì thông tin về thẩm mỹ viện được đăng tải nhiều hơn, khi đó siêu mẫu Lan Hương phát hiện ra hình ảnh của mình đã bị thẩm mĩ viện này lợi dụng để quảng cáo cho dịch vụ của mình mà không hề xin phép, cô cũng cho biết chưa từng hợp tác quảng cáo với thẩm mỹ viện này

Cụ thể, trên trang quảng cáo về thẩm mỹ viện mới gây ra vụ chết người này đã cho đăng Voucher dịch vụ giảm béo, mà người mẫu quảng cáo là Lan Hương Với giá dịch vụ khá mềm, Voucher này bán khá đắt hàng Theo đó, phiếu mua hàng hưởng tiết kiệm 75% của thẩm mỹ viện Cát Tường có giá bán 250.000 đồng, được áp dụng tối đa 3 phiếu cho một khách hàng Khách hàng mua gói 5 phiếu ngay lập tức được tặng thêm 1 lần, mua gói liệu trình 10 lần sẽ được tặng thêm 2 lần giảm béo nữa Hạn sử dụng của phiếu mua hàng này còn tới ngày 26.10, và hiện đã cháy hàng

Kèm theo thông tin cụ thể chi tiết về gói dịch vụ cũng như giá cả hấp dẫn là hình ảnh siêu mẫu Lan Hương được in rất nổi bật và rõ nét ngay bên cạnh để minh họa Việc thẩm mỹ viện Cát Tường sử dụng hình ảnh của siêu mẫu Lan Hương nhằm lấy niềm tin

từ khách hàng và tạo uy tín cho thương hiệu

Siêu mẫu Lan Hương cho biết thẩm mỹ viện Cát Tường đã sử dụng hình ảnh của

cô trái phép nhằm mục đích kinh doanh khi chưa thông qua sự đồng ý Cô cũng chưa từng biết về thẩm mỹ viện Cát Tường cũng như là nhận lời làm quảng cáo cho dịch vụ

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w