1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở việt nam hiện nay bài pháp luật người khuyết tật 9 điểm học kỳ

18 185 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 53,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp luật đã được ban hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật người khuyết tật như sau: Nguyên tắc tô

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

NỘI DUNG 3

I Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT 3

1 Định nghĩa người khuyết tật 3

2 Đặc điểm người khuyết tật 3

3 Khái quát chung về pháp luật người khuyết tật 4

II Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT 5

1 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT 5

2 Chế độ làm việc của NKT 7

III Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay 10

1 Kết quả đạt được 10

2, Một số hạn chế 12

IV Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm đối với NKT 15

KẾT LUẬN 17

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Người khuyết tật ( NKT) là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chính

vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, giúp họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc Trong thông điệp nhân Ngày Quốc tế người khuyết tật 3-12, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc (LHQ) Ban Ki Mun (Ban Ki-moon) khẳng định người khuyết tật cần được tiếp cận bình đẳng các dịch vụ và cơ hội trên toàn thế giới, đồng thời kêu gọi quốc tế nỗ lực hơn nữa nhằm xây dựng các xã hội tôn trọng tính đa dạng và hòa nhập với mong muốn tạo ra một môi trường sống bình đẳng cho NKT như những cá nhân khác trong xã hội, pháp luật NKT đã ghi nhận khá nhiều nguyên tắc cơ bản trong Luật NKT từ lâu, Đảng và Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, bằng những chính sách ưu tiên, ưu đãi, bằng tình thương và tấm lòng nhân ái của toàn xã hội, ngày càng có nhiều NKT được giúp đỡ để vượt qua những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống Tuy nhiên, do số lượng NKT ở nước ta còn và họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con đường làm chủ cuộc sống và hoà nhập cộng đồng, đặc biệt là vấn đề việc làm Để

hiểu thêm về vấn đề này thì em xin đi sâu vào tìm hiểu vấn đề: “ Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”.

NỘI DUNG

I Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT.

1 Định nghĩa người khuyết tật.

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về NKT, trong đó có hai quan điểm chính: quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội Với các quốc gia, khái niệm người khuyết tật cũng khó có sự thống nhất do quy định pháp luật còn phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Do vậy, không

có khái niệm chung về người khuyết tật áp dụng chung cho tất cả các nước Với quan điểm của Việt Nam được thể hiện ở quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Người Khuyết

tật thì NKT được hiểu là: “ Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể

hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc

Trang 3

tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” 1

2 Đặc điểm người khuyết tật.

Một là, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người thân, ), không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó khăn cho gia đình, cộng đồng

Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, gặp rào cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng đồng Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật

 Hai là, đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết tật:

Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật được quy định chi tiết trong Luật người khuyết tật Việt Nam và Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật năm 2010 Các dạng khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói, khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi dạng lại có những đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lý, về khả năng qua đó tác động đến nhu cầu của bản thân và ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hội nhập cộng đồng

3 Khái quát chung về pháp luật người khuyết tật.

Khái niệm Luật người khuyết tật

Một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật là pháp luật người khuyết tật Người khuyết tật mặc dù chỉ là nhóm thiểu số trong

xã hội nhưng họ là bộ phận dân cư cấu thành nên cộng đồng xã hội và họ cần sự quan

tâm đặc biệt trên phương diện pháp luật Về cơ bản có thể hiểu, pháp luật người

khuyết tật là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều

1 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 21

Trang 4

chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đảm bảo các quyền và trách nhiệm của người khuyết tật.

Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật Việt Nam

Dưới góc độ lí luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật được hiểu là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình ban hành, thực thi, áp dụng, sửa đổi, bổ sung pháp luật Luật người khuyết tật 2010 của Việt Nam không có điều luật

cụ thể quy định về các nguyên tắc Tuy nhiên, trên cơ sở nội dung pháp luật đã được ban hành và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam có thể xác định một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật người khuyết tật như sau: Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền của người khuyết tật; nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử; nguyên tắc tham vấn người khuyết tật, đối tác xã hội và tổ chức xã hội; nguyên tắc đảm bảo quyền được tiếp nhận, hỗ trợ và điều chỉnh hợp lí đối với người khuyết tật; nguyên tắc bảo đảm hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế

II Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT.

1 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT.

Khái niệm

Việc làm theo cách hiểu đơn thuần là một hoặc tập hợp một số công việc mà người lao động tiến hành để có thu nhập nhằm thỏa mãn những nhu cầu của đời sống

xã hội

Ở Việt Nam, thì khái niệm việc làm được chính thức ghi nhận trong bộ luật

Lao động năm 1994, cụ thể việc làm được hiểu là : “ Mọi hoạt động lao động nhằm

tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm” 2 Theo định nghĩa này thì việc làm có

thể được hiểu là những hoạt động lao động có tính chất thường xuyên liên tục và mang tính nghề nghiệp, do những người lao động thực hiện trong thời gian tương đối

ổn định và phạm vi nhất định nhằm tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải là hoạt động hợp pháp Từ khái niệm này thì ta có thể hiểu khái niệm việc làm đối với NKT là : “

Các hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật cấm” 3

Việc làm ở đây bao gồm cả việc tiếp nhận đào tạo nghề, được tiếp nhận việc làm và

2 Điều 13, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( Sửa đổi năm 2007).

3 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 204

Trang 5

các loại nghề nghiệp và cả điều kiện sử dụng lao động cũng như đảm bảo việc làm Như vậy, theo quy định pháp luật thì NKT được tạo cơ hội việc làm bình đẳng như những người lao động khác

Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với NKT.

● Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm:

Nguyên tắc này xuất phát từ vấn đề quyền con người NKT bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn Thực tế hiện nay những người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong luật có quy định bởi vì năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT Chính điều này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật Phân biệt đối xử bao gồm phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử gián tiếp

Nguyên tắc này được hiểu là việc NKT và người không khuyết tật được đối xử bình đẳng như nhau về việc làm, cơ hội tìm việc làm cũng như quá trình sử dụng lao động và bảo đảm việc làm

● Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc làm.

NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù Do những đặc điểm về thể

chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với sức khỏe Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình Để việc

hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực phải chịu trách nhiệm chình trong việc hỗ trợ, điều chỉnh này Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ một phần

Ý nghĩa của việc làm đối với NKT.

Thứ nhất, Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập và cuộc sống ổn định

Trang 6

Từ xa xưa, theo quan niệm truyền thống và đạo đức thì người ta thường nhìn nhận NKT là một đối tượng yếu thế cần được trợ giúp, họ thường sống dựa vào gia đình, xã hội, cộng đồng Chính vì thế xã hội và những người thân cần phải giúp đỡ,

hỗ trợ họ Nếu NKT có việc làm thì đời sống vật chất và tinh thần của họ sẽ được nâng cao: Họ có thu nhập để nuôi sống bản thân không cần phải sống dựa vào người khác, thậm chí họ còn hỗ trợ gia đình, đóng góp cho xã hội Các nhìn về người lao động cũng sẽ thay đổi, họ trở thành một chủ thể của xã hội, cũng có quyền được làm việc, được đóng góp, cống hiến sức lao động của mình cho xã hội như bao người bình thường khác

Thứ hai, Việc làm giúp NKT hòa nhập vào cộng đồng và tự tin hơn vào cuộc sống:

Những NKT do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần và thái độ của xã hội dành cho họ nên đa số NKT luôn trong tình trạng tự ti, mặc cảm với số phận kém may mắn, phó mặc số phận cho ông trời và chỉ biết dựa vào gia đình hoặc của cộng đồng, họ ngại hòa nhập với cuộc sống, họ không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại, ngại giao tiếp Chính vì thế nếu có việc làm, được đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của xã hội thì NKT sẽ cảm thấy tự tin trong cuộc sống, có ý chí vươn lên trong cuộc sống và lao động như những người bình thường khác và có thể hòa nhập được với cộng đồng bởi trong môi trường làm việc thì họ được tiếp xúc với nhiều người, được đóng góp sức của mình, cảm thấy mình có ích Bên cạnh đó thì việc làm cũng xây dựng lòng tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự

hào và nhân phẩm cho người khuyết tật Có thể nói : “ Việc làm là công cự quan

trọng nhất để có thể tái hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã hội”.

Thứ ba,việc làm cho NKT góp phần phát huy nguồn lực cho xã hội:

NKT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng có trách

nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng góp sức mình vào

sự phát triển chung của cả xã hội và cũng được hưởng những thành quả khoa học-công nghệ Nhưng do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần mà họ gặp rất nhiều khó khăn và cản trở khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng Việc có việc

Trang 7

làm sẽ giúp họ đóng góp được sức mình Tuy nhiên, nếu được tạo điều kiện thuận lợi

và tự mình vươn lên thì người khuyết tật có thể sống, hoạt động và phát huy được năng lực và nguồn lực, đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế đất nước

2 Chế độ làm việc của NKT.

Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm.

NKT khi tham gia vào các quan hệ lao động thì trở thành chủ thể của quan hệ lao động, chính vì vậy, NKT cũng có những quyền và nghĩa vụ giống như những người lao động không bị khuyết tật ở trong các lĩnh vực như tuyển dụng lao động, giao kết hợp đồng, sử dụng lao động, bảo đảm việc làm Tuy nhiên do những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà pháp luật có một số quy định riêng đối với NKT nhằm tạo những cơ hội, điều kiện phù hợp Cụ thể là khi tham gia vào quan hệ lao

động thì NKT được giảm giờ làm, “Thời giờ làm việc của người tàn tật không được

quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần” 4 Đặc biệt, để bảo vệ sức khỏe cho NKT

thì pháp luật còn quy định : “Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động

là người tàn tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành” 5 , “Cấm sử dụng người tàn tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc ban đêm” 6 Như vậy, nhìn ở một góc độ nào đó thì những

quy định pháp luật trên là nhằm bảo vệ NKT, đảm bảo sức khỏe của họ Tuy nhiên, những quy định pháp luật trên lại chình là rào cản đối với họ bởi thực tế người sử dụng lao động sẽ không muốn sử dụng lao động là NKT bởi năng suất lao động của NKT thấp hơn người không khuyết tật, và để sử dụng lao động là NKT thì cần phải đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để người khuyết tật có môi trường làm việc thuận lợi, tránh rủi ro Bởi vậy, trong thời gian tới chúng ta cần thay đổi những quy định trên cho phù hợp và đảm bảo hiện quả thực thi

4 Khoản 4, Điều 125 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)

5 Khoản 3, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)

6 Khoản 2, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007)

Trang 8

Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm.

Do NKT thường có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà năng suất

lao động của họ thường thấp hơn so với những người không khuyết tật Chính điều này mà những người sử dụng lao động thường không muốn nhận NKT vào cơ sở sản xuất của mình Để tạo cơ hội cho những NKT có việc làm thì nhà nước ta có những

chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với các doanh nghiệp này Cụ thể tại Điều 34 Luật

người khuyết tật có quy định : “ Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số

lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục

vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp” 7

Bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

lập quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp NKT phục hồi chức năng lao động và tạo việc làm Quỹ này được sử dụng với mục đích là : cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, duy trì việc dạy nghề và phát triển sản xuất, để từ đó các doanh nghiệp sẽ nhận nhiều người khuyết tật vào làm việc Bên cạnh đó thì còn chính sách cho vay với lãi suất thấp đối với các đối tượng : Cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật; Cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; Cơ sở dạy nghề có nhận người tàn tật vào học nghề; Doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ quy định trong luật; Các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật

Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT “có

trên 51% số lao động là người khuyết tật, có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối tượng là động là người tàn tật”8 được giúp cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng, trường, lớp, trang thiết bị, được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp

7 Điều 34 Luật Người khuyết tật năm 2010

8 Điều 3, Nghi định số 81/1995/NĐ-CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật.

Trang 9

Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT.

Trách nhiệm của Nhà nước: NKT cũng là một công dân, là lực lượng lao động

của xã hội nên với vai trò là chủ thể quyền lực, nhà nước có trách nhiệm: “Giải quyết

việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.

Bên cạnh đó thì nhà nước còn có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và việc làm phù hợp với sức khỏe Điều này được ghi nhận tại điều 33 Luật Người khuyết tật và tại điều 125

Bộ luật lao động có quy định : “ Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật

và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật Hàng năm, thì nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống” 9

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân:

+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng và làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm của NKT Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm nhận tỉ lệ lao động là NKT đối với một số ngành nghề công việc theo quy định của pháp luật hoặc đóng góp một khoản tiền theo quy định của chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho NKT

+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động với NKT Tổ chức việc làm có trách nhiệm giới thiệu việc làm và tư vấn học nghề, việc làm cho NKT

III Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay.

1 Kết quả đạt được.

Cả nước hiện nay có khoảng 5,1 triệu NKT, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó

có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số NKT Bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ

và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ Nguyên nhân gây nên

9 Điều 125, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( sửa đổi năm 2007).

Trang 10

khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6%

do tai nạn lao động10 Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…Số lượng NKT rất nhiều tuy nhiên vấn đề giải quyết việc làm cho đối tượng này hiện nay tuy gặp nhiều khó khăn Để thực hiện tốt vấn đề giải quyết việc làm cho NKT thì Đảng và nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện trên thực tế, nhìn chung thì đã tương đối đủ, đặc biệt là đã có những quy định về việc làm đối với NKTnhư đã ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT; đối với hoạt động tạo việc làm cho NKT phải đảm bảo bình đẳng trong tuyển dụng, sử dụng, bố trí công việc, cải tạo cơ sở vật chất bảo đảm môi trường tiếp cận để NKT làm công việc như những người bình thường khác ….Việc ban hành các văn bản điều chỉnh vấn đề việc làm cho người khuyết tật đã góp phần không nhỏ vào những thành quả trong công tác giải quyết việc làm cho NKT Cụ thể:

Hiện nay, trên cả nước đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh có NKT Qua thống kê, cả nước hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thu hút trên 15.000 lao động khuyết tật tham gia, trong đó Hội Người mù có 146 cơ sở với khoảng 4.000 lao động Các cơ sở này thường nhận lao động khuyết tật ở mọi hình thức sau đó phân loại, hướng nghiệp dạy nghề, giải quyết việc làm cho họ Ví dụ như HTX thủ công mỹ nghệ An Dương ở thị trấn Rế (huyện An Dương), ngày càng có thêm nhiều lao động khuyết tật gắn bó HTX mở hướng phát triển thêm ngành nghề trồng hoa, cây cảnh NKT được động viên, khuyến khích, đào tạo nghề, không ít NKT có khả năng phát huy tinh thần lao động, sáng tạo của mình Vì vậy, những công việc như trồng cây cảnh, trồng nấm tưởng như khó với họ, nhưng nhiều người sau khi được đào tạo nghề đã làm tốt nghề, thu nhập đáng kể

Nhiều địa phương đã có quỹ việc làm dành cho NKT Theo thống kê thì Có 8 tỉnh đã thành lập và bố trí kinh phí Quỹ việc làm cho NKT Rất nhiều mô hình, cách làm hay, hiệu quả như Chương trình tín dụng chính sách NKT đang hưởng lợi của

10 http://suckhoedoisong.vn/2012041705274634p61c67/nhieu-rao-can-thieu-chinh-sach.htm

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w