Về mối quan hệ với các loại quy phạm pháp luật khác 8 BÀI LÀM A – Mở đầu Trong quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý nhà nước cần quy phạm pháp luật để định ra các khuôn mẫu x
Trang 1Mục lục
Trang
I Phân tích đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính 2
2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính 3 2.1 Các đặc điểm chung với các quy phạm pháp luật khác 3 2.2 Các đặc điểm riêng của quy phạm pháp luật hành chính 3
II Phân biệt quy phạm pháp luật hành chính với quy phạm pháp luật hiến
3 Về đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh 3
7 Về mối quan hệ với các loại quy phạm pháp luật khác 8
BÀI LÀM
A – Mở đầu
Trong quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý nhà nước cần quy phạm pháp luật để định ra các khuôn mẫu xử sự chung cho nhiều cá nhân, tổ chức (đối tượng quản lý) trong những tình huống được dự liệu trước và có thể lặp đi lặp
Trang 2lại nhiều lần trong thực tiễn Mặt khác, khi tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì giữa chủ thể và đối tượng quản lý đã phát sinh các quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh – đó chính là các quan hệ quản lý hành chính nhà nước Do đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước là quan hệ “quyền lực – phục tùng”, quan hệ có sự bất bình đẳng về ý chí giữa các bên tham gia nên việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với những loại quan hệ này có những điểm riêng biệt
cả về phương pháp điều chỉnh và loại quy pham điều chỉnh
Quy phạm hành chính cũng là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật nói chung nên nó mang đầy đủ những đặc điểm của quy phạm pháp luật Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những đặc điểm riêng biệt qua đó cho phép chúng ta phân biệt quy phạm pháp luật hành chính với các loại quy phạm pháp luật khác Chính
vì vậy trong phạm vi bài tập nhóm lần này nhóm chúng em xin chọn đề tài: “Phân tích đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính qua đó phân biệt quy phạm pháp luật hành chính và quy phạm pháp luật hiến pháp”.
B – Nội dung
I Phân tích đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính
1 Khái niệm
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định
Quy phạm pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương
2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính
2.1 Các đặc điểm chung với các quy phạm pháp luật khác
Là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật nên các quy phạm pháp luật hành chính có đầy đủ các đặc điểm chung của quy phạm pháp luật như: là quy tắc
xử sự chung thể hiện ý chí của nhà nước; được nhà nước đảm bảo thực hiện; là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người về tính hợp pháp
2.2 Các đặc điểm riêng của quy phạm pháp luật hành chính
Trang 3Thứ nhất, các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do cơ quan hành
chính nhà nước ban hành
Ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành thì cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là chủ thế lập pháp hoặc chủ thể quản lý hành chính nhà nước
Do nhiều nguyên nhân khách quan cho nên chủ thể lập pháp không có chức năng quản lý hành chính nhà nước khó có thể ban hành các quy phạm pháp luật hành chính một cách cụ thể và phù hợp với thực tiễn quản lý của tửng ngành, lĩnh vực và địa phương Do đó, các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành trên cơ sở cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy định của hiến pháp, luật và pháp lệnh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính cho một số chủ thể quản lý hành chính nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước còn phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản lý hành chính nhà nước
Thứ hai, các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực
pháp lý khác nhau
Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính có
số lượng rất lớn Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước và chung cho các ngành, lĩnh vực quản lý nhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một ngành, một lĩnh vực quản lý hay trong một địa phương nhất định Mặt khác cũng có những quy phạm được áp dụng chung đối với
cả các cá nhân và tổ chức, có những quy phạm chỉ áp dụng đối với cá nhân hoặc chỉ áp dụng đối với tổ chức
Thứ ba, các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ
sở các nguyên tắc pháp lý nhất định
Trang 4Mặc dù các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lý khác nhau nhưng do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước mà các quy phạm này cần phải hợp thành một hệ thống
Để đảm bảo yêu cầu nêu trên, các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc pháp lý thống nhất sau đây:
- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành
- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước, Chủ tịch nước, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp ban hành
- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp ban hành
- Các quy phạm pháp luật hành chính do người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật
do tập thể cơ quan đó ban hành
- Bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hành chính
do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lý ban hành
- Các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo đúng thủ tục
và dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định
II Phân biệt quy phạm pháp luật hành chính với quy phạm pháp luật hiến pháp
1 Khái niệm
- Quy phạm pháp luật hiến pháp là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất gắn với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa – xã hội,
Trang 5quốc phòng an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
- Quy phạm pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương
Từ đây ta thấy ngay được điểm khác nhau đầu tiên của hai ngành luật này là
về vị trí của chúng Quy phạm pháp luật hiến pháp có vị trí chủ đạo hơn hẳn trong
hệ thống quy phạm pháp luật pháp luật Việt Nam Đối với quy phạm pháp luật hành chính thì quy phạm pháp luật hiến pháp đã xác lập những nguyên tắc chủ đạo cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật luật này như quy định về cơ cấu tổ chức, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
2 Về chủ thể ban hành
- Các quy phạm pháp luật hành chính do nhiều chủ thể ban hành (Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; Chủ tịch nước; Cơ quan hành chính: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ) nhưng chủ yếu vẫn do các cơ quan quản
lý hành chính Nhà nước ban hành, vì cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước
- Quy phạm pháp luật hiến pháp chủ yếu do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến Toàn bộ quy phạm hiến pháp nằm trong quy định của hiến pháp Ngoài ra quy phạm luật hiến pháp còn nằm trong các văn bản pháp luật khác như luật, pháp lệnh, và một số văn bản pháp quy là nguồn của luật hiến pháp
Như vậy, chủ thể ban hành và quy phạm pháp luật hành chính đa dạng hơn
so với quy phạm pháp luật hiến pháp
3 Về đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh
- Quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước Do đó, phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu thuộc lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
Trang 6- Quy phạm pháp luật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất, gắn với việc xác định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật hiến pháp rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và Nhà nước, trong đó
có cả lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
Từ đó, ta thấy đối tượng và phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật hiến pháp rộng hơn đối tượng và phạm vi điều chỉnh của quy phạm pháp luật hành chính
4 Về trình tự và thủ tục ban hành
- Quy phạm pháp luật hành chính do có nhiều chủ thể ban hành khác nhau nên quy phạm pháp luật hành chính cũng có nhiều trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành khác nhau, như trình tự lập pháp (các quy phạm của Luật khiếu nại tố cáo, Luật tổ chức chính phủ,…) hoặc trình tự hành chính (các quy phạm của Nghị định chính phủ, Thông tư của các Bộ, Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, )
- Quy phạm pháp luật hiến pháp cần tuân theo những thủ tục đặc biệt, thủ tục lập hiến vì do tính chất cũng như vị trí đặc biệt quan trọng của mình Điều 147
Hiến pháp 1992 quy định rằng: “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất hai phần ba tổng số Đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” Điều này đã phần nào cho thấy trình tự đặc biệt trong việc
ban hành, sửa đổi các quy phạm pháp luật Hiến pháp
5 Về số lượng và hiệu lực pháp lý
5.1 Về số lượng
Do phạm vi điều chỉnh các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng rất lớn Trong khi đó, các quy phạm pháp luật hiến pháp chỉ quy định những vấn đề chung nhất, quan trọng nhất và chủ thể ban hành không đa dạng bằng các quy phạm pháp luật hành chính nên có số lượng ít hơn so với quy phạm pháp luật hành chính
5.2 Về hiệu lực pháp lý
Trang 7- Vì Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một nước quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước và đặt ra những nguyên tắc nền tảng để xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ nên các quy phạm pháp luật hiến pháp có hiệu lực pháp lý rất cao Các quy phạm pháp luật hiến pháp chủ yếu được quy định trong Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước Tất cả các quy phạm pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái Hiến pháp nên quy phạm pháp luật hiến pháp mang tính ổn định và thống nhất cao
- Quy phạm pháp luật hành chính do có chủ thể ban hành đa dạng nên các quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lý khác nhau Trong đó, có các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước và chung cho các ngành, lĩnh vực quản lý (như các quy phạm pháp luật của Luật cán bộ công chức năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008,…) nhưng cũng có quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực trong phạm vi một ngành, một lĩnh vực quản lý (Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ., ) hay một địa phương nhất định (một số loại quyết định được áp dụng lâu dài của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, huyện)
6 Về cấu trúc quy phạm
- Phần lớn các quy phạm luật hiến pháp không có đủ cơ cấu ba thành phần: giả định, quy định và chế tài Các quy phạm luật hiến pháp chủ yếu chỉ có phần quy định Rất ít các quy phạm luật hiến pháp có cơ cấu ba thành phần như các quy
phạm pháp luật khác Ví dụ: Điều 57 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.”, chỉ chứa phần quy định xác định công dân có quyền tự do kinh doanh Không chứa đựng phần giả định, và chế tài.
- Còn quy phạm pháp luật hành chính thường có đầy đủ ba bộ phận giả định, quy định và chế tài Ví dụ: Khoản 1, Điều 12 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính
năm 2002 quy định: “Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền” Ở ví dụ này, phần giả định là đoạn “đối với mỗi vi phạm hành chính, cá
Trang 8nhân, tổ chức”; Phần quy định là đoạn “ vi phạm” ; còn phần chế tài là “phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền”.
Do đó quy phạm pháp luật hành chính thường có đầy đủ ba bộ phận giả định, quy định, chế tài hơn quy phạm pháp luật hiến pháp Nguyên nhân vì đối tượng điều chỉnh đặc thù của luật hiến pháp – đó là những quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất Do vậy, nhiều quy phạm luật hiến pháp chỉ là những quy định chung mang tính nguyên tắc chứ không điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể
7 Về mối quan hệ với các loại quy phạm pháp luật khác
- Quy phạm pháp luật Hiến pháp là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng các loại quy phạm pháp luật khác, các văn bản luật, dưới luật khác
- Quy phạm pháp luật Hành chính là sự cụ thể hóa của quy phạm pháp luật hiến pháp trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, đồng thời được xác định là phương tiện chủ yếu, là cơ sở của quản lý hành chính nhà nước
C – Kết bài
Qua việc phân tích đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính đã giúp chúng ta thấy được những đặc trưng riêng biệt của quy phạm pháp luật hành chính
từ cũng như sự khác biệt giữa quy phạm pháp luật hành chính với các quy phạm pháp luật khác mà điển hình là quy phạm pháp luật hiến pháp Từ đó có thể thấy được vai trò to lớn của quy phạm pháp luật hành chính trong quản lý hành chính nhà nước Quy phạm pháp luật hành chính vừa được các chủ thể quản lý hành chính nhà nước ban hành và sử dụng như một phương tiện chủ yếu để tiến hành quản lý, đồng thời nó cũng là cơ sở và là những ràng buộc pháp lý đối với chủ thể quản lý hành chính nhà nước
Phụ lục
* Phân biệt quy phạm pháp luật hành chính với quy phạm pháp luật hiến pháp dạng bảng:
Khái niệm - Được ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát
- Là những quy tắc xử sự chung
do nhà nước đặt ra hoặc thừa
Trang 9sinh trong quá trình quản lý hành chính theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương
nhận để điều chỉnh các quan hệ
xã hội cơ bản và quan trọng nhất
Chủ thể ban
hành
- Do nhiều chủ thể ban hành nhưng chủ yếu vẫn do các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ban hành
- Quốc hội là cơ quan duy nhất
có quyền lập hiến
Đối tượng điều
chỉnh
- Là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
- Là các quan hệ xã hội cơ bản
và quan trọng nhất, gắn với việc xác định chế độ chính trị, kinh
tế, văn hoá – xã hội,…
Phạm vi điều
chỉnh
- Hẹp, chủ yếu thuộc lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
- Rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và Nhà nước, trong đó có cả lĩnh vực quản lí hành chính nhà nước
Trình tự và thủ
tục ban hành
- Có nhiều trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành khác nhau
- Tuân theo những thủ tục đặc biệt, thủ tục lập hiến
Số lượng - Có số lượng rất lớn - Số lượng ít hơn
Hiệu lực pháp
lý
- Có hiệu lực pháp lý khác nhau
- Có hiệu lực pháp lý rất cao
Cấu trúc quy
phạm
- Thường có đầy đủ ba bộ phận giả định, quy định và chế tài
- Phần lớn các quy phạm luật hiến pháp không có đủ cơ cấu
ba thành phần: giả định, quy định và chế tài
Mối quan hệ với
các loại quy
phạm pháp luật
khác
- Là sự cụ thể hóa của quy phạm pháp luật hiến pháp trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, đồng thời được xác định là phương tiện chủ yếu, là cơ sở của quản lý
- Là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng các loại quy phạm pháp luật khác, các văn bản luật, dưới luật khác
Trang 10hành chính nhà nước.
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, GIÁO TRÌNH LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM,
Nbx Chính trị quốc gia, năm 2012
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM, Nbx Chính trị
quốc gia, năm 2012
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, GIÁO TRÌNH LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT, Nbx Chính trị quốc gia, năm 2012.