BLDS năm 1995 đã xây dụng cụ thể về hình thức di chúc trong một điều luậtĐiều 652 thì hình thức của di chúc gồm: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng vàđồng thời cũng quy định thêm ngườ
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Xã hội ngày càng phát triển, khoa kỹ thuật ngày càng tiến bộ đã làm tăng năngsuất lao động lên, cũng như để duy trì và phát triển cuộc sống đã tạo điều kiện thúcđẩy con người ngày càng làm ra nhiều của cải, vật chất cho mình, cho xã hội Tuynhiên, của cải thì có thể tồn tại rất lâu từ đời này sang đời khác hoặc chuyển từ trạngthái này sang trạng thái khác, con người thì không thể sống mãi mà phải chết đi, vìvậy việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống đã tồn tại như mộtyêu cầu khách quan của xã hội Vậy, việc dịch chuyển như vậy phải thông qua hìnhthức nào Do đó, trong bài tập lớn học kỳ này em xin đi sâu vào tìm hiểu một số vấn
đề về hình thức di chúc trong Bộ luật Dân sự
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I Khái quát chung về thừa kế theo di chúc và hình thức của di chúc.
1 Khái niệm thừa kế theo di chúc:
Thừa kế theo di chúc là một bộ phận quan trọng của pháp luật về thừa kế theo
quy định Điều 631 BLDS: “ cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật” Từ quy định này cho
thấy cá nhân thông qua di chúc như một phương tiện để thể hiện chuyển tài sản, quyềntài sản của mình cho người còn sống và thông qua di chúc chỉ định ai có quyền hưởng
di sản hoặc không được hưởng di sản thừa kế Sự định đoạt đó luôn được pháp luậtthừa nhận và bảo vệ
Như vậy, thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc.
2 Hình thức của di chúc theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ:
a Hình thức của di chúc trong luật Hồng Đức:
Trang 2Quốc triều hình luật là bộ luật được giữ và lưu truyền cho đến tận ngày nay, đây
là minh chứng cho thành tựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển chế của triều đạinhà Lê Trong Quốc triều hình luật thừa kế được quy định từ Điều 374 đến Điều 400.Pháp luật thời Lê thừa nhận hai hình thức thừa kế Là Thừa kế theo pháp luật vàthừa kế theo di chúc Trong đó thừa kế theo di chúc có quy định như sau:
Theo hình thức thừa kế này pháp luật tôn trọng ý muốn và quyền quyết định củangười có tài sản Theo Điều 300 của Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi về giàphải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái, quy định này tránh sựtranh chấp tài sản về sau Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư, người
có tài sản có thể tự viết chúc thư, trong trường hợp đặc biệt nếu người có tài sảnkhông biết chữ thì có thể nhờ xã trưởng viết thay và có chứng thực (Điều 366, Quốctriều hình luật) Trong trường hợp chúc thư không tuân thủ hình thức do pháp luật quyđịnh thì sẽ không có giá trị pháp lý lúc đó di sản được chia theo pháp luật
Trong trường hợp không qua xã trưởng xác nhận thì cần phải có chứng sắc tronglàng làm chứng theo đoạn 273 Hồng đức chính thư quy định chúc thư chỉ được coi làhợp pháp nếu có Hương trưởng, quan viên trong bản, xã từ 30 tuổi trở lên làm ngườiviết thay hoặc chứng kiến
Như vậy, di chúc phải có người làm chứng, đảm bảo tính khách quan của di chúctránh những tranh chấp về chữ viết, nội dung di chúc
b Hình thức di chúc trong luật gia long:
So với thời Lê thì thời nguyễn mà cụ thể là trong bộ Hoàng Việt luật lệ có rất ítchế định liên quan đến thừa kế Tuy vậy, những nguyên tắc về quan hệ thừa kế thừa
kế cơ bản vẫn tương tự như luật thời nhà Lê, nhưng đối với hình thức thừa kế theo dichúc thì trong Hoàng Việt luật lệ lại không quy định về hình thức của di chúc
c hình thức di chúc dưới thười pháp thuộc.
So với pháp luật thời Lê và nhà nước thì pháp luật thời pháp thuộc theo khuônmẫu của bộ luật dân sự Napoleong Đã quy định chi tiết hơn trong các bộ Bắc kỳ và
Trang 3Hoàng Việt trung kỳ Hộ luật Pháp luật thời kỳ này cũng thừa nhận hai hình thức chiathừa kế là chia theo di chúc và chia theo pháp luật Về hình thức di chúc được quyđịnh như sau:
+ Pháp luật quy định người thanh niên hoặc đã thoát quyền nếu có đủ trí khônđều có thể làm di chúc để xử trí tất cả tài sản của mình Người cha có thể lập chúc thư
để định đoạt tài sản của mình tùy theo ý chí của mình, nhưng phải giữ quyền lợi chongười vợ chính
+ Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trongnhững người đưc hưởng thừa kế Việc truất quyền thừa kế phải được lập thành vănbản viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú, hoặc người lập chúc thư.+ Chúc thư phải nghi rõ ngày, tháng, năm lập chúc thư, họ, tên, tuổi, nơi cư trúcủa người làm chứng chúc thư đã làm xong thì Lý trưởng đọc to cho mọi người cùngnghe, rồi Lý trưởng, người lập chúc thư, người viết hộ (nếu có) và những người làmchứng cùng ký tên vào văn bản, có bao nhiêu người thừa kế thì chúc thư được làmthành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người một bản
d Giai đoạn từ năn 1945 đến nay.
Sau cách mạng tháng tám nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một nhànước non trẻ phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, kinh tế, văn hóa…nhiệm vụ lúc này là phải cũng cố, bảo vệ thành quả cách mạng kể cả những vấn đềliên quan trong lĩnh vực dân sự
Để làm rõ sự thay đổi và phát triển về hình thức của di chúc trong giai đoạn nàychúng ta sẽ đi vào so sánh bốn bản di chúc điển hình quy định về thừa kế là: Thông tư
số 81 hướng dẫn các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/07/1981; pháp lệnh thừa
kế ngày 30/08/1990; Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005
* Hình thức di chúc được Thông tư số 81 hướng dẫn các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/07/1981 như sau: Theo quy định tại phần A mục IV của thông tư ta
thấy hình thức của di chúc chia làm hai loại là di chúc viết và di chúc miệng, trong đó
Trang 4Di chúc viết phải do người có năng lực hành vi dân sự tự nguyện lập ra đượcchính quyền địa phương xác nhận Nếu người có tài sản đang đi trên phương tiện giaothông hay đang trong cơ sở chữa bệnh mà gặp tình huống cấp bách lập di chúc thì sựchứng nhận của người phụ trách phương tiện giao thông hay cơ sở chữa bệnh cũngđược coi là hợp lệ Di chúc do người mất năng lực hành vi dân sự, di chúc lập ra do bị
đe dọa, ép buộc hoặc di chúc miệng không có người làm chứng đều không có giá trị
Di chúc miệng pháp luật yêu cầu phải có người làm chứng đảm bảo
* Hình thức di chúc được quy định trong pháp lệnh thừa kế ngày 30/08/1990.
Hình thức di chúc trong pháp lệnh cũng thể hiện dưới hai hình thức là di chúcviết và di chúc miệng Tuy nhiên, được quy định cụ thể, rõ ràng hơn về tính hợp pháp,nội dung, loại di chúc bằng văn bản cũng như các yêu cầu đối với di chúc miệng
Di chúc viết phải đáp ứng được các điều kiện về nội dung theo Điều 13 của pháplệnh là bản di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc, họ, tên và nơi thường trúcủa người lập di chúc; họ tên người hưởng di sản, tên cơ quan, tổ chức được hưởng disản ; nơi có tài sản đó, nếu trong di chúc có giao nhiệm vụ thì phải nêu rõ giao cho ai
và nhiệm vụ gì Trong bản di chúc phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập dichúc
Trong pháp lệnh đã có sự phân loại các loại di chúc viết và trình tự, thủ tục đốivới mỗi loại thể hiện như sau:
Di chúc viết được cơ quan công chứng hoặc UBND chứng thực, di chúc viếtđược cơ quan đại diện ngoại dao hoặc lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài chứng thực
Di chúc viết có giá trị như di chúc được chứng thực bao gồm Di chúc của quânnhân có xác nhận của thủ trưởng đơn vị…
Di chúc viết không có chứng thực xác nhận: sẽ được coi là hợp pháp nếu do đúngngười để lại di sản tự lập trong khi minh mẫn, không bị lừa rối hoặc trái với quy địnhcủa pháp luật
Trang 5Di chúc miệng được lập với yêu cầu sau: một là, trường hợp tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc được Hai là, người để lại di sản lập trong tình trạng minh mẫn, không bị lừa dối, không trái với quy định của pháp luật Ba là, sau ba
tháng kể từ ngày lập di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống và minh mẫn thì dichúc miệng đó bị hủy bỏ
=> Vậy, theo quy định về hình thức di chúc miệng tại pháp lệnh thừa kế năm 1990 tanhận thấy đã có những quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ hơn Tuy nhiên, so với thông
tư số 81 thi di chúc miệng yêu cầu phải có người làm chứng đã bị hủy bỏ ở pháp lệnhthừa kế
* Hình thức di chúc được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995.
BLDS năm 1995 đã xây dụng cụ thể về hình thức di chúc trong một điều luật(Điều 652) thì hình thức của di chúc gồm: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng vàđồng thời cũng quy định thêm người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằngchữ viết và tiếng nói của dân tộc mình
Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: yêu cầu phải tự tayngười lập di chúc viết và ký vào bản di chúc với đầy đủ nội dung mà pháp luật quyđịnh
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Người không thể viết di chúc thì nhờngười khác viết hộ nhưng phải coa ít nhất hai người làm chứng, người lập di chúc kítên hoặc điểm chỉ vào di chúc trước mặt những người làm chứng, và những người làmchứng cũng phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc để xác nhận chữ kí, điểm chỉ củangười lập di chúc
Di chúc bằng văn bản có người chứng thực hoặc UBND xã, phường, thị trấn Và
di chúc bằng văn bản có chứng nhận hoặc công chứng nhà nước, về thủ tục lập dichúc cơ bản giống như pháp lệnh thừa kế 1990
Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực tạiBLDS 1995 vẫn được giữ nguyên so với pháp lệnh thừa kế 1990 Tuy vậy, cũng có
Trang 6thay đổi như sau: di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhậncủa cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại dao Việt Nam ở nước đó Như ta thấy bản di chúclập trong trường hợp này theo quy định riêng tại một điều luật và một loại di chúcbằng văn bản nhưng nay theo quy định của BLDS 1995 nó đã được liệt kê vào di chúcbằng văn bản có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực.
Di chúc miệng: điều kiện để lập di chúc miệng và di chúc bị hủy bỏ về cơ bản làgiống nhau so với pháp lệnh thừa kế năm 1990 Nhưng BLDS năm 1995 quy định rõhơn về nguyên nhân đe dọa đến tính mạng mà một cá nhân không thể lập di chúc vănbản đó là bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác
Ngoài ra, theo BLDS năm 1995 thì trong thủ tục lập di chúc miệng đòi hỏi ý chícủa người để lại di chúc phải thể hiện trước mặt người làm chứng đây là một quy địnhgiống với thông tư 81 và khác so với pháp lệnh thừa kế 1990 Tuy nhiên, đã có sự thayđổi so với thông tư 81 chỉ có yêu cầu một làm chứng cho di chúc miệng mà không yêucầu số lượng người làm chứng trong khi theo quy định BLDS 1995 thì đòi hỏi sốlượng làm chứng ít nhất phải là hai người
* Hình thức di chúc theo quy định BLDS năm 2005.
BLDS 2005 quy định về hình thức của di chúc như sau: Về hình thức vẫn giữnguyên như BLDS 1995 bao gồm có di chúc bằng văn bản và di chúc miệng
- Di chúc bằng văn bản vẫn giữ nguyên các loại như BLDS 1995 Tuy vậy, có sựsửa đổi thể hiện di chúc bằng văn bản có công chứng mà không phải là cơ quan côngchứng nhà nước trong BLDS 1995 Bởi vì khi tham gia ban hành BLDS năm 2005 đã
có luật công chứng, quy định văn phòng công chứng và phòng công chứng, do đóBLDS năm 2005 sửa đổi cho phù hợp luật công chứng
- Di chúc miệng: Về thủ tục lập di chúc miệng cũng được quy định như tại BLDS
1995 Tuy nhiên, BLDS năm 2005 đã có sửa đổi bổ sung để tăng cường tính chính xáccho bản di chúc là yêu cầu trong thời gian năm ngày kể từ ngày người lập di chúcmiệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc miệng phải được công chứng, chứng thực
Trang 7II Một số vấn đề về hình thức của di chúc:
1 Khái niệm di chúc và đặc điểm của di chúc:
Trước khi tìm hiểu một số vấn đề về hình thức di chúc thì ta cần hiểu di chúc làgì? và đặc điểm của di chúc là như thế nào?
a Khái niệm di chúc.
Quan hệ pháp luật thừa kế luôn tồn tại trong cuộc sống xã hội, người chết đi luônmong muốn ý chí nguyện vọng của mình được thực hiện, vì vậy trước khi chết có tàisản thường thể hiện ý chí của mình qua hình thức viết (lập di chúc viết) hoặc di chúcmiệng và tùy từng địa phương có cách gọi khác nhau về cách thể hiện ý chí đó
Theo quy định Điều 646, BLDS 2005 thuật ngữ được sử dụng chung nhất là “dichúc”:
“ Di chúc là thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người
khác sau khi chết”.
Qua khái niệm chúng ta thấy rằng, di chúc với tư cách là căn cứ để dựa vào đóthực hiện quá trình dịch chuyển di sản của người chết cho người khác luôn luôn hàmchứa các đặc điểm
b Đặc điểm của di chúc.
Thứ nhất: Di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân.
Di chúc là “sự thể hiện ý chí của cá nhân” nên nó được hình thành duy nhất
bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế (một bên chủ thể trong giao dịch dân
sự về thừa kế) Qua việc lập di chúc, cá nhân có ý định làm xác lập một giao dịch dân
sự về thừa kế Theo đó họ quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản củamình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó cónhận tài sản của mình hay không Như vậy, nếu hợp đồng (giao dịch hai bên) đượchính thành bởi sự thỏa thuận ý chí của nhiều bên chủ thể thì di chúc chỉ là sự quyếtđịnh đơn phương của người lập ra nó
Trang 8Đối vớ những di chúc do vợ, chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chícủa cả hai nhưng di chúc vẫn mang tính quyết định đơn phương bởi dù di chúc thểhiện ý chí của nhiều người nhưng những người đó vẫn chỉ là một bên trong giao dịchnhân sự.
Thứ hai: Di chúc nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác
đã được xác định trong di chúc.
Đây là nội dung quan trọng không thể thiếu được của một di chúc nếu muốnđược coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác Thôngthường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài sản trươc khichết và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt cho ai Mặt khác, cho dù trước lúcchết, người đó có một khối tài sản và cũng để lại di chúc nhưng nếu di chúc khôngchứa đựng nội dung này thì cũng không làm phát sinh việc thừa kế theo di chúc.Nghĩa là di chúc đó chẳng có ý nghĩa gì đối với quá trình chuyển dịch tài sản Nóicách khác, di chúc chỉ đem lại ý nghiã về mặt vất chất cho những người thừa kế theo
di chúc đồng thời chỉ thật sự là một phương tiện để người để lại thừa kế thể hiệnquyền định đoạt đối với tài sản của mình chừng nào di chúc chứa đựng nội dung nóitrên
Thừa kế ở bất kỳ một nhà nước nào cũng đều là sự quy định của pháp luật nhằmđiều chỉnh quá trình dịch chuyển di sản từ người đã chết sang người còn sống khác.Với tư cách là hệ luận của quyền sở hữu, pháp luật về thừa kế là phương tiện để bảođảm cho chủ sở hữu thưc hiện quyền định đoạt với tài sản của mình Thông qua thừa
kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quả lao động của họ được dịch chuyển
từ đời này qua đời khác Đặc biệt, ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản củangười lập di chúc chính là việc pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền định đoạt của
chủ sở hữu đối với tài sản của họ, bảo đảm cho người lập di chúc “có quyền sử dụng
tài sản ngay cả khi đã chết rồi”.
Trang 9Thứ ba: Di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người xác lập ra nó đã chết.
Như đã trình bày ở đặc điểm trên, việc lập di chúc và việc giao kết hợp đồngđều là những giao dịch dân sự Tuy nhiên, nếu hợp đồng dân sự thể hiện ý chí của cảhai bên chủ thể thì di chúc thể hiện ý chí của một bên Sự khác nhau này làm cho một
di chúc có tính chất khác hẳn với một hợp đồng dân sự Nếu hợp đồng dân sự có hiệulực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên có thõa thuận hoặc pháp luật có quyđịnh khác) thì thời điểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào thờiđiểm người lập ra nó chết Khoản 1, Điều 667, BLDS đã quy định: “di chúc có hiệulực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” Nói ngược lại, khi người lập di chúc còn sốngthì di chúc đó chưa có hiệu lực Mặt khác, di chúc chỉ là ý chí đơn phương của ngườilập ra nó nên người lập di chúc luôn luôn có quyền tự mình thay đổi nội dung đã địnhđoạt trong di chúc hoặc loại bỏ di chúc đã lập Tính chất này cho chúng ta thấy rằng,
dù di chúc đã được lập nhưng người lập di chúc còn sống (trong thực tế, từ thời điểm
di chúc đã lập tới thời điểm người lập di chúc chết bao giờ cũng có một khoảng nhấtđịnh về thời gian thì người thừa kế theo di chúc không có bất kỳ một quyền lực nàođối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng chưa chắc chắn hưởng được di sản đóhay không Pháp luật tôn trọng quyền lập di chúc của cá nhân với hai mục đích Mộtmặt, nhằm đảm bảo quyền định đoạt của chủ sở hữu Mặt khác, nhằm đảm bảo vho cánhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình để thể hiện tình cảm, trách nhiệm củamình đối với người khác vì vậy, nếu sử dụng định đoạt trong di chúc đã lập không cònphù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình cảm và hiện tại thì người lập di chúc cóquyền sửa đổi, bổ xung, hủy bỏ di chúc
2.Hình thức của di chúc:
Hình thức của di chúc là sự biểu hiện ý chí của người để lại di sản thừa kế ra bênngoài thế giới khách quan là sự chứa đựng nội dung theo một số trình tự kết cấu nhất
Trang 10định Vì vậy, Điều 649, BLDS đã quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản;
nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”
Do đó, việc lập di chúc chỉ có thể tiến hành theo một trong hai hình thức: Hoặc
là một văn bản, được gọi là di chúc viết (hay còn gọi là chúc thư) hoặc là thông qualời nói, được gọi là di chúc miệng (hay còn gọi là chúc ngôn) Trong điều 649 cũng đã
có quy định: “Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc
tiếng nói của mình” ở đây thể hiện pháp luật về thừa kế nước ta không bắt buộc người
lập di chúc phải lập theo một ngôn ngữ chung là tiếng phổ thông mà tự do định đoạt
về ngôn ngữ, chữ viết mà sử dụng khi lập di chúc Ví dụ như người dân tộc Mường thì
có thể sử dụng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình để lập di chúc, hay người dântộc Tày thì lại có thể dùng tiếng nói hoặc chữ viết của dân tộc mình để lập di chúc…
a Hình thức viết của di chúc.
Hình thức viết của di chúc là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết có
chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc quy định một cách chặt chẽ về hình thức và thủ tục lập di chúc không chỉnhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho các chủ thể mà còn hướng tới sự tạo ra tínhxác thực cho những di chúc đã lập, qua đó nhằm tao ra cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền
và lợi ích cho các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế
Theo quy định của pháp luật, tất cả các di chúc được thể hiện bằng hình thứcvăn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung, đồng thời, mỗi một thể thức cụ thể của dichúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng Để bản di chúc viết của mình có hiệulực pháp luật, người lập di chúc cần quan tâm tới các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: Các yêu cầu về nội dung đối với mọi di chúc viết
- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc
Đây là một vấn đề thủ tục đơn thuần nhưng hết sức quan trọng về mặt nộidung, có ý nghĩa thực trong việc xác định tính hiệu lực của di chúc, vì thông qua ngày,tháng, năm lập di chúc sẽ xác định được thời điểm đó người lập di chúc có năng lực
Trang 11hành vi dân sự, có minh mẫn, sáng suốt hay không, tại thời điểm đó di chúc do người
từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập ra cần có sự đồng ý của những ai?Hơn nữa, nếu người quá cố để nhiều bản di chúc thì ngày, tháng, năm trong di chúc sẽcho phép chúng ta xác định di chúc nào là di chúc biểu hiện ý nguyện sau cùng củangười đó Trong trường hợp này, tất cả di chúc trước đều bị hủy bỏ Ngoài ra ngày,tháng, năm lập di chúc còn là mốc thời gian để xác định di chúc đó có bị coi là viphạm các quy định của pháp luật hiện hành vào thời điểm mà di chúc được lập thànhhay không
- Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc
Vì di chúc là ý chí của chủ thể duy nhất trong một giao dịch dân sự đơn phươngtrong di chúc cần phải xác định rõ họ, tên của người có ý chí đó, Mặt khác, địa điểm
mở thừa kế, nơi đăng ký từ chối di sản, thẩm quyền giải quyết của tòa khi có tranhchấp đều được xác định thong qua nơi cư trú của người lập di chúc Vì vậy, trong dichúc phải ghi rõ nơi cư trú của người lập di chúc là một việc hết sức thuyết thực.-Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản
Nếu người thừa kế theo pháp luật luôn luôn ổn định trong một phạm vi đã xácđịnh vì đó là những người cụ thể có một trong ba mối quan hệ về hôn nhân, nuôidưỡng, huyết thống đối với người để lại thừa kế thì phạm vi những người thừa kế theo
di chúc không thể xác định vì họ là người được xác định theo ý chí của người lập dichúc Người thừa kế theo di chúc có thể là một cá nhân bất kỳ (có thể nằm trong diệnnhững người thừa kế theo luật nhưng cũng có thể nằm ngoài diện đó), có thể là cơquan, tổ chức bất kỳ Vì vậy, bằng ý chí của mình, người lập di chúc định cho ai, tổchức nào hưởng di sản của mình sau khi mình chết phải được xác định rõ trong dichúc
Với nội dung này, chúng ta cần xác định hai vấn đề sau đây:
Một là, về nguyên tắc chỉ người nào được lập di chúc xác định trong di chúc mới
là người thừa kế theo di chúc của người đó Vì thế, dù người lập di chúc có ý định cho
Trang 12một người hưởng di sản của mình nhưng vì nhầm lẫn hoặc sai sót nên người lập dichúc không xác định họ trong di chúc thì người đó vẫn không phải là người thừa kếtheo di chúc của người lập di chúc.
Hai là, đối với trường hợp trong di chúc không xác định rõ họ, tên của người mà
người lập di chúc muốn cho hưởng di sản nhưng thông qua các yếu tố khác có thể xácđịnh được người đó là ai thì họ vẫn là người được hưởng di sản theo di chúc Ví dụnhư: Người để lại di sản lập di chúc cho một đứa bé chưa sinh ra hưởng di sản củamình
-Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sản
Người lập di chúc chỉ được định đoạt những tài sản thuộc sở hữu của nhữngngười thừa kế Hay nói cách khác, di sản thừa kế chỉ là những tài sản thuộc quyền sởhữu của người chết (ví du: di sản là quyền sử dụng đất) Vì vậy, việc ghi rõ trong dichúc nhằm qua đó để xác định người lập di chúc có những tài sản gì, những tài sảnđược phân định như thế nào Tuy nhiên, sự quy định này của pháp luật với mục đíchchủ yếu là nhằm hướng dẫn để các cá nhân lập di chúc được rõ ràng cụ thể nên nếu dichúc không ghi rõ, liệt kê từng loại tài sản thì cũng không vì thế mà coi di chúc đó làbất hợp pháp được Trong những trường hợp này, người có thẩm quyền sẽ căn cứ vàopháp luật về quyền sở hữu tài sản mà xác định những gì thuộc về di sản của người đãchết để lại
Ngoài việc ghi rõ di sản, người lập di chúc cần xác định rõ trong di chúc về nơi
có di sản sau khi mình chết, những người thừa kế dựa vào đó dễ dàng xác định đượcđịa điểm của tồn tại của di sản Hơn nữa, trong những trường hợp không thể xác địnhđược nơi cư trú thì việc ghi rõ nơi có di sản là cơ sở để xác định địa điểm mở thừa kế
dễ dàng
- Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung củanghĩa vụ
Trang 13+ Theo nguyên tắc chung, tất cả những người hưởng di sản thừa kế đều phảithực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với tỷ phần tàisản mà mình được hưởng Mặt khác, việc giao nghĩa vụ cho những người thừa kế làmột trong những quyền tự định đoạt của người lập di chúc Vi vậy, trong di chúc,người lập di chúc có thể giao riêng nghĩa vụ cho mỗi một người trong số những ngườithừa kế để người đó thực hiện Nếu người lập di chúc có ý định đó thì dứt khoát trong
di chúc phải ghi rõ người nào, cơ quan, tổ chức nào mà người chết để lại Trongtrường hợp di chúc không có sự xác định này thì tất cả những người thừa kế cùngnhau thực hiện nghĩa vụ đó
- Di chúc không được viết tắt và viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trangthì mỗi trang đều được đánh số thứ tự và đều phải có chữ ký và điểm chỉ của ngườilập di chúc
Để di chúc của mình được cụ thể rõ ràng, tránh được sự tranh cãi giữa nhữngngười thừa kế về sau này, người lập di chúc không nên dung ký hiệu hoặc viết tắt đểbiểu đạt ý chí của mình Trong trường hợp người để lại di sản lập di chúc tại Côngchứng nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thì hướng dẫn cho ngườilập di chúc không viết tắt, viết bằng ký hiệu là công việc cần phải làm của người cóthẩm quyền công chứng, chứng thực di chúc
Nếu di chúc lập gia không có chứng nhận, chứng thực nhưng thỏa mãn đầy đủcác yêu cầu khác của pháp luật mà có viết tắt và viết bằng ký hiệu do người lập dichúc không nắm được yêu cầu này của pháp luật thì di chúc dó có bị coi là vô hiệuhay không?
Quy định di chúc không được viết tắt, viết bằng ký hiệu của pháp luật chỉ mangtình hướng dẫn nên không thể căn cứ vào việc lập di chúc đã viết tắt hoặc viết bằng kýhiệu để xác định di chúc của họ là vô hiệu Theo em, khi xem xét vấn đề này cần phảichia thành hai trường hợp
Trang 14+ Trường hợp thứ nhất: Nếu chữ viết tắt,viết bằng ký hiệu trong di chúc đều
được tất cả những người thừa kế (cần lưu ý cả người thừa kế theo di chúc, cả ngườithừ kế theo luật) của người để lại di sản thừa nhận và cùng hiểu theo một nghĩa thìviệc viết tắt viết bằng ký hiệu sẽ không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của di chúc
+ Trường hợp thứ hai: Nếu mỗi người thừa kế hiểu chữ viết tắt viết bằng khý
hiệu bằng cách khác nhau và họ không thể thống nhất được với nhau về cách hiểu chữviết tắt hoặc viết bằng ký hiệu đó thì coi như không có di chúc ( di chúc không có giátrị pháp lí ) Tuy nhiên, chữ viết tắt viết bằng ký hiệu đó chỉ liên quan đến một phầncủa di chúc mà không ảnh hưởng đến phần khác của di chúc thì chỉ riêng phần đókhông có hiệu lực pháp luật Phần còn lại của di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật
Bên cạnh việc không viết tắt, viết bằng ký hiệu trong di chúc, người lập di chúcphải đánh số trang theo thứ tự (nếu di chúc bao gồm nhiều trang) và phải kí hoặc điểmchỉ vào từng trang của di chúc để đề phòng người khác thêm, bớt, số trang, giả mạohay thay thế từng trang của di chúc
Chúng ta biết rằng, di chúc chỉ được thừa nhận nếu đúng là của chính người đểlại di sản lập ra Mặt khác, di chúc (và từng trang của di chúc) chỉ được coi là củachính người để lại di sản lập ra nếu trong đó có chữ kí hoặc điểm chỉ của họ Do đó,nếu trong di chúc thiếu yếu tố này thì di chúc đó sẽ không có hiệu lực pháp luật Tuynhiên, dù nhà làm luật chưa dự liệu nhưng cần xác định thêm rằng: trong trường hợp
vì lý do đặc biệt người lập di chúc không thể kí cũng như không điểm chỉ vào di chúcđược (ví dụ như: họ bị cụt cả hai tay, hai chân) nhưng đã có chữ kí của hai người làmchứng trở lên thì bản di chúc đó vẫn có hiệu lực pháp luật
Thứ hai: Mỗi loại di chúc viết phải được lập theo một trình tự tương ứng.
Hình thức di chúc bằng văn bản (di chúc viết) có nhiều loại khác nhau, bao gồm:
di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làmchứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn;
di chúc bằng văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước; di chúc có xác nhận
Trang 15Tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện trong từng trường hợp cụ thể mà người để lại disản có quyền lựa chọn để lập di chúc viết theo một trong những loại trên Dù vậy,quyền lựa chọn việc lập di chúc theo loại nào không đồng nghĩa với việc tùy tiện haycẩu thả trong khi lập di chúc Người lập di chúc phải tuân theo đúng thể thức, trình tự
mà pháp luật quy định tương ứng với từng loại di chúc sau đây:
- Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655)
Để đảm bảo di chúc thật sự là phương tiện phản ánh ý nguyện cuối cùng củangười chết một cách chung thực, di chúc lập theo thể thức này phải tuân thủ đầy đủcác yêu cầu mà pháp luật đã quy định chung đối với mọi di chúc được lập theo hìnhthức văn bản Ngoài ra tính xác thực của loại di chúc viết này là ở chỗ di chúc dochính tay người lập di chúc viết và kí Vì thế, nếu di chúc bằng văn bản không cóngười làm chứng mà lại là một bản đánh máy thì bản di chúc đó không được thừanhận dù rằng có chữ kí của người lập di chúc Tương tự, nếu bản di chúc đó không cóchữ kí của người lập di chúc cũng sẽ không được thừa nhận dù di chúc đó do chínhtay họ viết ra
Đối với loại di chúc này, Điều 655, BLDS đã quy định rằng “Người lập di chúc
phải tự tay viết và kí vào bản di chúc” (mà không quy định điểm chỉ) Trên thực tế,
tính xác thực của điểm chỉ cao hơn so với chữ kí nhưng có lẽ các nhà luật cho rằng khimột người đã viết được là kí được, chữ trong di chúc do chính tay người đó viết đã làcăn cứ để có thể xác định di chúc đó lúc do chính họ lập ra, cộng thêm chữ kí của họtrong di chúc thì di chúc đã độ tin cậy, mặt khác, việc điểm chỉ chỉ cần thiết đối vớinhững người không biết chữ, không kí được Vì vậy, có thể nói rằng thực chất di chúcnày là loại di chúc do người để lại di sản tự lập ra Trong thực tế có rất nhiều trườnghợp vì một lí do nào đó mà người lập di chúc muốn gíữ kín bí mật về nội dung của dichúc hoặc trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên khi lập di chúc họ không yêucầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận hoặc chứng thực cũng như khôngnhờ bất kỳ một người nào xác nhận hoặc làm chứng để thực sự bảo đảm quyền định
Trang 16đoạt tài sản của người lập di chúc, pháp luật vẫn thừa nhận di chúc lập ra trong những
trường hợp đó vẫn có giá trị pháp lí nếu “người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt
trong khi lập di chúc; pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức của di chúc không trái pháp luật” ( khoản 1, Điều 652) Tuy nhiên, để có dủ cơ sở khẳng định những vấn đề
trên đối với di chúc được lập theo loại này thì việc chính tay người lập di chúc
-Đối với di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656)
Pháp luật quy định loại di chúc này nhằm tạo điệu kiện cho cá nhân dù không thể tựmình viết được nhưng vẫn có thể lập di chúc bằng văn bản để định đoạt tài sản củamình cho người khác sau khi mình chết vì theo quy định của pháp luật về loại di chúc
này: “trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có
thể nhờ người khác viết” (Điều 656, BLDS) Tuy nhiên, khi lập loại di chúc này phải
có ít nhất hai người làm chứng và người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản dichúc trước mặt những người làm chứng đồng thời trong bản di chúc phải có chữ kýcủa những người làm chứng và sự xác nhận của họ về chữ ký, điểm chỉ của người lập
di chúc Thiếu một trong các yếu tố này thì di chúc không có hiệu lực pháp luật
- Đối với di chúc có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Nếu người lập di chúc tự tay viết vào bản di chúc và có yêu cầu công chứng nhànước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực thì người lập
di chúc phải ký vào bản di chúc trước mặt người có thẩm quyền chứng nhận hoặcchứng thực
Trong trường hợp người để lại di sản đến công chứng nhà nước hay đến Ủy bannhân dân xã, phường, thị trấn để lập di chúc tại đó hoặc di chúc do công chứng viênlập tại chổ ở của người để lại di sản thí việc lập di chúc phải tuân theo trình tự và thủtục sau đây: Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc (ý nguyện của mình) docông chứng viên hoặc người chứng thực nghe Công chứng viên hoặc người có thẩmquyền chứng thực di chúc ghi chép lại đầy đủ nội dung mà người lập di chúc đã tuyên