Xã Phong Dụ Thượng là xã có diện tích đất nông nghiệp hơn 500 ha cóđiều kiện thuận lợi về vị trí địa lý điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ……Tuy nhiên thực trạng chung về các ngành l
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
ĐINH THỊ BÌNHT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quyĐịnh hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thônKhoa : Kinh Tế & PTNT
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
ĐINH THỊ BÌNHT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quyĐịnh hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thônKhoa : Kinh Tế & PTNT Khóa học : 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS Đỗ Xuân LuậnCán bộ cơ sở hướng dẫn : Nông Văn Quỳnh
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài tại xã Phong Dụ Thượnghuyện Văn Yên, tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để cóđược kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡchu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôixin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Đạihọc Nông lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Phát TriểnNông Thôn, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trongsuốt
4 năm qua và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến giảng viên T.S ĐỗXuân Luận, người đã giành rất nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướngdẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị trong xã Phong Dụ thượng đãcung cấp và tạo điều kiện cho tôi thu thập những số liệu cần thiết và tận tìnhgiúp đỡ tôi trong quá trình tôi nghiên cứu tại địa bàn xã
Cuối cùng con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị bạn bè
và những người thân đã động viên tinh thần cũng như vật chất trong thời giancon thực hiện đề tài
Do trình độ, kinh nghiệm thực tế bản thân có hạn, vì vậy khoá luận của tôikhông thể tránh khỏi những sai sót rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy
cô giáo, sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để bài khoá luận được hoànthiện hơn
Một lần nữa tôi xin cảm ơn tất cả mọi người!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Đinh Thị Bình
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
NN& PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất xã Phong Dụ Thượng 35
Bảng 4.2: Tình hình phát triển về đàn gia súc, gia cầm của xã Phong Dụ Thượng (Giai đoạn 2015-2017) 38
Bảng 4.3: Tiêu thụ sản phẩm quế 47
Bảng 4.4: Nội dung liên kết trong hoạt động tiêu thụ 51
Bảng 4.5: Tổng chi phí sản xuất bình quân cho 1ha quế 4 năm đầu 52
Bảng 4.6: Thu tỉa lần 1 ( chi phí và doanh thu)1 ha 53
Bảng 4.7: Thu tỉa lần 2 ( chi phí và doanh thu)1 ha 54
Bảng 4.8 Thu tỉa lần 3 ( chi phí và doanh thu)1 ha 55
Bảng 4.9: Phân tích SWOT đối với hộ gia đình trồng quế và các tác nhân khác
59
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985) 13
Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985) 14
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ SƠ ĐỒ1:LIÊN KẾT DỌC VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẤM QUẾ 45
Sơ đồ 2: Sơ đồ thể hiện tình hình tiêu thụ của cây quế trên địa bàn xã 48
Sơ đồ1:hình thức tổ chức liên kết giữa hộ nông dân với hộ thu gom 49
Sơ đồ 2:hình thức tổ chức liên kết giữa cơ sở thu gom với cơ sở chế biến 50
Sơ đồ 3:hình thức tổ chức liên kết cơ sở chế biến với nhà bán buôn 51
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu, yêu cầu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3 1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.4 Bố cục của khóa luận 4
PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận
5 2.1.1 Khái niệm cơ bản về liên kết dọc và chuỗi giá trị 5
2.1.1.1 Khái niệm về liên kết dọc
5 2.1.1.2 Chuỗi giá trị 5
1.1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
8 1.1.2.3 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 18
2.2.2 Nghiên cứu về chuỗi giá trị ở Việt Nam 20
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 24
2.3.1 Các chỉ tiêu kinh tế 24
Trang 82.3.2 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi 27
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.1.2.1 Phạm vi không gian 28
3.1.2.2 Phạm vi thời gian 28
3.2 Nội dung nghiên cứu 28
3.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội xã Phong Dụ Thượng 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu thực hiện 29
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin: 29
3.3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp 29
3.3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp 30
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 30
3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 31
PHẦN VI: KẾT QUẢ THỰC TẬP 34
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội 34
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1.1.1 Vị trí địa lý 34
4.1.1.2 Địa hình đất đai 35
4.1.1.3 Giao thông thủy lợi 35
4.1.1.4 Thời tiết, khí hậu 36
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
4.1.2.1 Đặc điểm về dân số và lao động 37
4.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế 37
4.2 Kết quả thực tập 42
4.2.1 Mô tả nội dung thực tập và những công việc cụ thể tại cơ sở thực tập 42
Trang 94.2.2 Nghiên cứu tài liệu 43
4.2.3 Tóm tắt công việc trong quá trình thực tập 43
4.3 Phân tích các mối liên kết dọc giữa hộ trồng quế và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị quế 44
4.3.1 Xác định các mối liên kết dọc giữa hộ trồng quế với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị quế 44
4.3.2 Tình hình sản xuất 46
4.3.3 Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm quế 47
4.3.4 Phân tích mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm 49
4.4 Phân tích hiệu quả sản xuất Quế xã Phong Dụ Thượng 52
4.4.1 Diện tích, mật độ trồng của các hộ điều tra 52
4.4.2 Tình hình chi phí sản xuất quế của hộ 52
4.4.3 Kết quả sản xuất của các hộ điều tra 53
4.4.4 Tồng chi phí, doanh thu, lợi nhuận trong 20 năm 56
4.5 Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu và nguyên nhân của các mối liên kết 56 4.6 Kết quả phân tích SWOT 59
4.7 Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa hộ trồng quế và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị quế 60
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề xuất kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 34
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu to lớn đóng góp 1 phần quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triềncủa nền kinh tế Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa thuận lợicho sự sinh trưởng và phát triển của các cây ăn quả rau màu… Chính vì vậynếu có hình thức và kỹ thuận chăm sóc, chọn cây giống phù hợp với điềukiện vùng miền sẽ hình thành lợi thế so sánh cho vùng góp phần phát triểnkinh tế nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Sản phẩm quế là mặt
có giá trị mặt gia vị và thuốc chữa bệnh cao được yêu thích và có cả lợi thếcho người khỏe mạnh cũng như bệnh nhân được rất nhiều người tin dùng.Trên thế giới quế phân bố tự nhiên và được trồng trở thành hàng hóa ở một sốnước Châu á và Châu phi như Indonesia, Trung quốc, Việt Nam… Trong cácnước có quế, cây quế cũng chỉ phân bố ở một số địa phương nhất định, có đặcđiểm khí hậu, đất đai và địa hình thích hợp với nó, còn ở ngoài vùng sinh tháicây quế sinh trưởng và phát triển không tốt Trước đây, ở nước ta cây quế tựnhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm, từ Bắc vàoNam Tuy nhiên cho đến nay quế tự nhiên đã không còn nữa và thay vào đócây quế đã được trồng như một loại cây trồng phổ biến và đtôi lại hiệu quảkinh tế cao Từ lâu đời nước ta đã hình thành 6 vùng trồng quế lớn, đó là YênBái, vùng Thanh hóa, Nghệ An, vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi và QuảngNinh Mỗi vùng có những sắc thái riêng gắn liền với đời sống của nhân dâncác dân tộc ít người nước ta như Dao (Yên Bái), Thái, Mường (Nghệ An,Thanh Hoá) Cà Tu, Cà Toong (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Thanh Y, ThanhPhán (Quảng Ninh) Tại Yên Bái, Theo thống kê rừng Yên Bái hiện có
Trang 11415.103 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên 234.337 ha, rừng trồng 172.521
ha, trong đó đất rừng quế tập trung có khoảng 20.000 ha, tỷ lệ che phủ đạt59,6%, đứng thứ tư toàn quốc Rừng trồng quế của Yên Bái được phân bổ ởcác huyện, xã trong tỉnh Trong đó huyện Văn Yên là một trong những huyện
có diện tích rừng khá lớn và vốn là huyện nổi tiếng về trồng quế Huyện VănYên nằm ở phía Bắc tỉnh Yên Bái, huyện có diện tích tự nhiên trên 139 nghìnha; trong đó, đất lâm nghiệp chiếm 75% Do có địa hình đồi núi cao, nằmtrong vùng khí hậu phù hợp với sự sinh trưởng của cây quế Diện tích trồngquế tại Văn Yên gần 20.000 ha, là địa phương có diện tích và sản lượng quếlớn nhất cả nước
Điển hình của huyện là các Viễn Sơn, Châu Quế Hạ, Xuân Tầm, Phong Dụ
Hạ, Phong Dụ Thượng, Tân Hợp, Đại Sơn, Mỏ Vàng Tháng 1 năm 2010,Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã có quyết định Sản phẩm
vỏ quế Văn Yên được cấp Chỉ dẫn địa lý số 00018 cho khu vực cho 8 xã trên
Xã Phong Dụ Thượng là một xã miền núi thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
có tiềm năng lớn về đất lâm nghiệp để phát triển rừng trồng quế Có thể nóiquế là cây trồng chủ lực của xã Người dân trong xã trồng đa số là cây quế, docây quế là cây có giá trị kinh tế lớn, người dân nơi đây đã gắn bó với cây quế
từ lâu đời Cũng nhờ cây quế kinh tế của xã được cải thiện nhiều nó đã gópphần tạo công ăn việc làm cho người dân trong xã và góp phần cho công cuộcxoá đói giảm nghèo Bên cạnh giá trị kinh tế nuôi trồng phát triển cây quế gópphần phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng tỷ lệ che phủ của rừng, giữ đất, hạn chếxói mòn, điều hòa khí hậu, cản bớt nước chảy bề mặt Do vậy nhiều năm gầnđây người dân ra sức trồng mới diện tích ngày càng được mở rộng hơn Tuyvậy, cây quế chưa được quy hoạch tổng thể và đầu tư thích hợp, từ đó chấtlượng sản phẩm quế chưa đáp ứng được thị trường, giá trị thu nhập của ngườisản xuất không còn ổn định.Tình hình thực tiễn cho thấy sản xuất quế trên cảnước nói chung và ở xã Phong Dụ Thượng nói riêng
Trang 12Xã Phong Dụ Thượng là xã có diện tích đất nông nghiệp hơn 500 ha cóđiều kiện thuận lợi về vị trí địa lý điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ……Tuy nhiên thực trạng chung về các ngành lâm nghiệp nói chung sản phẩm quếnói riêng tới người nông dân còn ít, sản xuất nhỏ lẻ, các hoạt động liên quanđến sản xuất sản phẩm quế trong chuỗi giá trị hàng hóa nông sản còn rờirạc liên kết yếu, từ đó chưa đtôi lại hiệu quả kinh tế lợi ích tối đa cho các tácnhân trong chuỗi giá trị sản phẩm của xã Xuất phát từ thực tiễn như trên tôi
đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Phân tích mối liên kết dọc giữa hộ trồngquế với các tác nhân khác trong chuỗi giá trị quế trên địa bàn xã Phong
Dụ Thượng, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu, yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích mối liên kết dọc giữa hộ trồng quế với các tác nhân khác trongchuỗi giá trị quế trên địa bàn xã Phong Dụ Thượng, huyện Văn Yên, tỉnh YênBái
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Xác định các mối liên kết dọc giữa hộ trồng quế với các tác nhân kháctrong chuỗi giá trị quế;
2 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các mối liên kết;
3 Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa hộ trồng quế và cáctác nhân khác trong chuỗi giá trị quế trên địa bàn xã Phong Dụ Thượng,huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên
- Giúp rèn luyện kĩ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen vớicông việc, phục vụ tích cực cho quá trình công tác sau này
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả kinh tế sảnxuất cây quế tại địa phương
Trang 13- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển việc trồng quế trên địabàn xã Phong Dụ Thượng trong những năm tới, góp phần nâng cao hiệu quảkinh tế nông nghiệp nông hộ.
1.4 Bố cục của khóa luận
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14PHẦN IITỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm cơ bản về liên kết dọc và chuỗi giá trị
2.1.1.1 Khái niệm về liên kết dọc
Liên kết dọc là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quátrình sản xuất kinh doanh Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn diện bao gồm cácgiai đoạn từ sản xuất , chế biến nguyên liệu đến phân phối sản phẩm
2.1.1.2 Chuỗi giá trị
a) Khái niệm chuỗi
Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về phươngpháp chuỗi (filière) Phương pháp này gồm các trường phái tư duy nghiên cứukhác nhau và sử dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức ngành,kinh tế ngành, khoa học quản lý và kinh tế chính trị Macxít Khởi đầu,phương pháp này được các học giả của Pháp sử dụng để phân tích hệ thốngnông nghiệp của Mỹ những năm 1960s, từ đó đưa ra những gợi ý đối với việcphân tích hệ thống nông nghiệp của Pháp và sự hội nhập theo chiều dọc củacác tổ chức trong hệ thống nước này Chính sách nông nghiệp của Pháp sửdụng phương pháp này như là công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuấtkhẩu đặc biệt đối với những mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa Chođến những năm 1980s, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở nhiềuquốc gia khác trên thế giới Trong thời gian này, khung filière không chỉ tậptrung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đặc biệt đến mốiliên kết giữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu
và khâu tiêu dùng cuối cùng Như vậy, khái niệm chuỗi (Filière) luôn baohàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyểnđộng của các hàng hoá và xác định những người tham gia vào các hoạt động
Trang 15Trong lý thuyết về chuỗi, khái niệm “Chuỗi” được sử dụng để mô tảhoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có thể
là sản phẩm hoặc là d ịch v ụ )
b) Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến mộtsản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạnsản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt
bỏ sau khi đã sử dụng
Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trongchuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi “Chuỗi giá trị” nghĩalà: Một chuỗi các quá trình sản xuất (các chức năng) từ cung cấp các dịch vụđầu vào cho một sản phẩm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế biến,marketing, và tiêu thụ cuối cùng; “Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phốingười sản xuất, nhà chế biến, các thương gia, và nhà phân phối liên quan đếnmột sản phẩm cụ thể”; “Một mô hình kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựasản phẩm và công nghệ thích hợp cùng với cách thức tổ chức các đối tượngliên quan để tiếp cận thị trường” Định nghĩa này có thể giải thích theo nghĩahẹp hoặc rộng
Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạtđộng trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt độngnày có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình muađầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v.Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất vớingười tiêu dùng Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thànhphẩm cuối cùng Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi vàsửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sảnphẩm Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện
Trang 16thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết
kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đốivới các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyênliệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm
và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm
Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động donhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chếbiến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thôthành một sản phẩm bán lẻ Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ hệ thống sản xuấtnguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệpkhác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,…
Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối,các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhautrong chuỗi Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháptiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trongchuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan
hệ giữa họ hình thành và phát triển như thế nào,…
Ngoài ra, chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị vô cùngquan trọng đối với những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội
và môi trường trong phân tích những rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng củacác tác nhân tham gia chuỗi giá trị Quế Việc thiết lập (hoặc sự h́nh thành) cácchuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn vốn Thêm vào đó, những rào cảntiếp cận tín dụng ngân hàng của các tác nhân làm cho sự phát triển của chuỗigiá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyềnthống, ví dụ, thiếu vốn làm cho mối quan hệgiữa các hộ và cộng đồng thayđổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bị tổn thương chịu tác độngtiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị
Trang 17Những mối quan hệ này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nôngnghiệp Lý do là các chuỗi giá trị phụ thuộc chủ yếu vào vốn tín dụng ngânhàng Đồng thời, ngành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêuchuẩn xã hội truyền thống, khung phân tích những rào cản tiếp cận tín dụngngân hàng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị có thể áp dụng để rút ra kếtluận về sự tham gia của các tác nhân và các tác động tiềm tàng của sự pháttriển chuỗi giá trị đến các tác nhân
1.1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến chuỗi giá trị
a) Chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vậtchất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thôngtin đi qua các tác nhân
Theo Lambert và Cooper (2000), một chuỗi cung ứng có 4 đặc trưng cơbản như sau:
+ Thứ nhất: Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợpbên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc
+ Thứ hai: Một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, dovậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức
+ Thứ ba: Một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thôngtin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý
+ Thứ tư: Các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu làmang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lựccủa mình
Trang 18- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học,
do vậy làm tăng biến động và rủi ro
- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu nếu như khôngphơi khô ẩm sẽ bị, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau
- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm
an toàn và vấn đề môi trường
c) Ngành hàng
Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière)được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuấtnông nghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các
hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến,thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản Bước sang những năm 1980,phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đềchính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển
và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trongnghiên cứu ngành hàng “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởicác tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phốimột sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bênngoài”
Theo Fearne: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế(hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sảnphẩm cuối cùng Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hànhđộng xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực haymột sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chếbiến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ”
Nói một cách khác, có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân(hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất
Trang 19Sự dịch chuyển được xtôi xét theo ba dạng sau :
+ Sự dịch chuyển về mặt thời gian
Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác
Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ
Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dựtrữ thực phẩm
+ Sự dịch chuyển về mặt không gian
Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ởnơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sảnphẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọivùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếuđược để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch vềmặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến vàchính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ
+ Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động củacông nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sảnphẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêudùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạngcàng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra
Trang 20Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rấtphức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ vàchính sách Hơn nữa, theo Fabre thì “Ngành hàng là sự hình thức hoá dướidạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tàichính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộclẫn nhau và các phương thức điều tiết”
d) Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và
tự quyết định hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ,những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông quahoạt động kinh tế của họ Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh );
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy ).Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tậphợp các chủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ: Tác nhân “nông dân” để chỉtập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cảcác hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm
vi không gian phân tích
Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đóchính là chức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng vớitên tác nhân Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chứcnăng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể cómột hay nhiều chức năng Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch
về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng Các tác nhân đứng sauthường có chức năng hoàn thiện sản phẩm của các tác nhân đứng trước kế nócho đến khi chức năng của tác nhân cuối cùng ở từng luồng hàng kết thúc thì
ta đã có sản phẩm cuối cùng của ngành hàng
Trang 21e) Bản đồ chuỗi giá trị
Bản đồ chuỗi giá trị là một hình thức trình bày bằng hình ảnh (sơ đồ) vềnhững cấp độ vi mô cấp trung của chuỗi giá trị Theo định nghĩa về chuỗi giátrị, bản đồ chuỗi giá trị bao gồm một bản đồ chức năng kèm với một bản đồ
về các chủ thể của chuỗi Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiếtphải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị
- Khung phân tích của Porter : Trường phái nghiên cứu thứ hai liên quanđến công trình của Micheal Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh Porter đãdùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xtôi một công ty nên tự định vịmình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp,khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp chokhách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủcạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) nhưthế nào? Cách khác là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất mộtmặt hàng mà khách hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khácbiệt)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như mộtkhung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thếcạnh tranh (thực tế và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng cácnguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổngthể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thểtìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó.Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giátrị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnhhưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùngvới ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính
Trang 22cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tínhcạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xtôi xét chuỗi giá trịbao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài,tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạchchiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v
Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ ápdụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợcác quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ, một phân tích về chuỗigiá trị của một siêu thị ở châu Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị
đó so với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả nhập từ nướcngoài Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đíchkinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanhsiêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quảnước ngoài và chiến dịch quảng cáo sẽ chú ý đặc biệt đến những vấn đề này
Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter (1985)
Một cách để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm “hệ thốnggiá trị” Có nghĩa là: thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công tyduy nhất, có thể xtôi các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗicác hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giátrị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất
Trang 23một hàng hoá hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phânphối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộnghơn so với khái niệm “chuỗi giá trị của doanh nghiệp” Tuy nhiên, cần chỉ rarằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu làcông cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược
Trang 24Chuỗi giátrị củangườimua
Hình 1.2 Hệ thống giá trị của Porter (1985)
- Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Gần đây nhất, khái niệm các chuỗi giátrị được áp dụng để phân tích toàn cầu hoá Các nhà nghiên cứu Kaplinsky vàMorris đã quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hoá, người ta nhận thấykhoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên Các tác giả nàylập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất
là trong một viễn cảnh năng động:
+ Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi,phân tích chuỗi giá trị sẽ phân tích được tổng thu nhập của chuỗi giá trị thànhnhững khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được
+ Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty,vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào?
Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tếđược coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhậpkhẩu và bán lẻ, trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận đượccác thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của cácnước đang phát triển và của những người tham gia thị trường ở các nước đangphát triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này Muốn tiếp cậnđược mạng lưới này thì sản phẩm phải đạt được các yêu cầu của toàn cầu hoá
Trang 251.1.2.3 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) thì “Chuỗi giá trị mô tảđầy đủ một chuỗi các hoạt động tăng thêm giá trị được yêu cầu để mang đếnmột sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua các giai đoạn của sản xuất, bao gồm sơchế nguyên liệu thô và các đầu vào khác” Hay theo Tổ chức Phát triển Côngnghiệp Liên hiệp quốc (United Nations Industrial Development Organization
- UNIDO) thì “chuỗi giá trị là các bên tham gia được liên kết với nhau dọctheo một chuỗi sản xuất, chuyển đổi và mang sản phẩm dịch vụ tới tay kháchhàng cuối cùng thông qua một chuỗi các hoạt động” Còn theo Trungtâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế (The International Center for TropicalAgriculture - CIAT) thì “Chuỗi giá trị là một chiến lược liên kết giữa một sốcác tổ chức doanh nghiệp”
Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản được phát triển ở nhiều quốc gia,nhưng cho đến nay, chưa có một khái niệm chính thức được sử dụng để nói
về chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản Tuy nhiên, có thể thấy, chuỗi giá trịnông sản là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hànghóa nông sản Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa yếu tố cần
và đủ để tạo ra một hoặc nhóm hàng hóa nông sản và các hoạt động phânphối, tiêu thụ sản phẩm này theo một phương thức nhất định Giá trị tạo ra củachuỗi bao gồm các giá trị tạo ra và tăng thêm tại mỗi công đoạn tiếp theo củachuỗi trong quá trình đi đến sản phẩm cuối cùng
Trong chuỗi giá trị nông sản, các công đoạn cơ bản gồm: chuẩn bị sảnxuất, sản xuất, sau sản xuất, tiếp thị và bán hàng Các công đoạn này diễn ra
kế tiếp nhau và tác động lẫn nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sảnphẩm nông sản đó Để chuỗi giá trị diễn ra bình thường thì bên cạnh các hoạtđộng sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ trợ như: quản lý hành chính;
Trang 26phát triển cơ sở hạ tầng; quản lý nhân sự; cung cấp thông tin; phát triển, lựachọn thị trường và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nơi sản xuất…
Tổng hợp các hoạt động khác nhau trong một chuỗi giá trị nông sảngồm: Nghiên cứu chiến lược phát triển sản phẩm; thiết kế mẫu mã sản phẩm,quy trình sản xuất; tổ chức sản xuất; tổ chức tiếp thị và bán hàng; phân phốilợi ích của chuỗi các tác nhân tham gia vào từng công đoạn của chuỗi; dịch vụchăm sóc, hậu mãi khách hàng; các biện pháp bảo vệ môi trường và phát triểnkinh doanh bền vững…
Như vậy, chuỗi giá trị nông sản thể hiện rõ những ưu điểm trong hoạtđộng mang tính hệ thống liên hoàn từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến cungứng sản phẩm nông sản và những hậu mãi mang lại giá trị gia tăng từ ngườisản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng với các tiêu chí như chi phí thấp nhất,thời gian nhanh nhất, chất lượng cao nhất… Những tác nhân tham gia vàochuỗi giá trị nông sản có thể kể đến là: Cơ sở nghiên cứu, hộ gia đình, trangtrại, doanh nghiệp, thương nhân đầu mối mua tập trung sản phẩm nông sản,người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng/thành phẩm; tổ chức tài chính tín dụngnhư ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, các cơ sở bán
lẻ, siêu thị… Mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị hay cụ thể làchuỗi giá trị nông sản được thể hiện bởi mối quan hệ giữa nhà nông, nhànước, nhà khoa học, doanh nghiệp, trong đó tổ chức tín dụng - mà chủ yếu làngân hàng đóng vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nhà nông, nhàkhoa học và các doanh nghiệp khác
Chuỗi giá trị được thế giới quan tâm từ rất sớm Tại Việt Nam, việc pháttriển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần chongười dân luôn nhận được sự quan tâm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta.Trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp được Chính phủ đặt mục tiêu đưanông nghiệp chuyển dịch lên nền sản xuất hiện đại với các tiêu chí an toàn -
Trang 27bền vững - hiệu quả; đồng thời, cũng nêu rõ việc xây dựng và phát huy các
mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi đúng đắn Trong
đó, doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt ứng dụng công nghệ cao vào chuỗigiá trị trên cơ sở liên kết dọc và liên kết ngang Với xu hướng hội nhập kinh
tế quốc tế, sự liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau hay giữa các tổ chứckinh tế với cơ sở sản xuất, hộ nông dân để phát huy thế mạnh của mỗi bênnhằm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh, thương hiệu,
uy tín thị trường là một xu thế tất yếu Muốn phát triển nền kinh tế nôngnghiệp bền vững hơn nữa, cách tốt nhất là thực hiện có hiệu quả chuỗi giá trịtrong sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tiêu dùng sản phẩm nông sản
Trong những năm gần đây, sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản với hìnhthức hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX)với các doanh nghiệp ngày càng phát triển, đặc biệt từ khi Việt Nam tiến hànhtham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đã có nhiều môhình liên kết thành công giữa nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà nông và nhàkhoa học Có thể kể đến một số liên kết trong chuỗi giá trị nông sản hàng hóanhư: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam liên kết trong chăn nuôi heo,gia cầm, chế biến, phân phối sản phẩm; Công ty cổ phần thuỷ sản HùngVương và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang tổ chức vùngnguyên liệu sản xuất chế biến cá tra; liên kết giữa nông dân với doanh nghiệptrong ngành sản xuất cao su trên địa bàn tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên,
Bà Rịa - Vũng Tàu; liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong sản xuấtmía đường ở Thanh Hoá; HTX thủy sản Thới An, mô hình liên kết sản xuất,tiêu thụ cá tra ở Cần Thơ; HTX chăn nuôi bò sữa Evergrowth ở Sóc Trăng;HTX dịch vụ sản xuất nông nghiệp Tân Cường của tỉnh Đồng Tháp; HTX hoacây cảnh Văn Giang tỉnh Hưng Yên; HTX Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnhQuảng Bình; HTX Nông nghiệp Vĩnh Lại, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;HTX
Trang 28nông nghiệp Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định… Tuy nhiên,những mối liên kết này nhìn chung còn lỏng lẻo, sự tham gia của nhà khoa họcchưa mạnh mẽ, số lượng doanh nghiệp công nghệ cao còn rất khiêm tốn Phầnlớn còn trong tình trạng thiếu hụt vốn cho đầu tư phát triển, do vậy nông sảnViệt Nam phần lớn là xuất khẩu thô, kém sức cạnh tranh trên thị trường cảtrong và ngoài nước.
Theo những đánh giá mới nhất cho thấy, gần đây, nền nông nghiệp ViệtNam đang gặp nhiều khó khăn như: tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại,chất lượng nông sản thấp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ chưa được khắc phục, việcđược mùa mất giá luôn ám ảnh nông dân, các mối liên kết dọc và ngang pháttriển còn gặp nhiều khó khăn Những mối liên kết giữa doanh nghiệp và nôngdân để tạo ra các chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn chậm phát triển Trongkhi đó, chuỗi giá trị nông sản đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nôngnghiệp, sản phẩm nông sản chủ yếu là xuất khẩu, do đó từng người nông dânhoặc các tổ hợp tác, HTX nhỏ lẻ không thể tự lo cho mình được
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới
Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiêncứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tínhcạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩmcũng như đtôi lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia
Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗigiá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗi giá trịtrong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâm đếnviệc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian,
Trang 29giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó.
Fearne và Hughes (1998) cũng đã phân tích được những ưu điểm vànhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị:
Ưu điểm:
Giảm mức độ phức tạp trong mua và bán; giảm chi phí và tăng chấtlượng sản phẩm; giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới; giá cảđầu vào ổn định; cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên
sự tin tưởng lẫn nhau
đề mà chuỗi giá trị ngành chè Kenya, chuỗi giá trị ngành Cacao Indonesia gặpphải và những vấn đề liên quan đến sinh kế của những người sản xuất nhỏ,những người dễ bị tổn thương Những nghiên cứu về cấu trúc thị trường,những kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa nhữngchuỗi giá trị đó Điều quan tâm của nghiên cứu này là những “mối quan hệ”giữa các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions,Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork)đến những người nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ và những người làmthuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển nhưKenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tácnhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan hệ ràng buộc, giá trịgia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng
Trang 30lợi nhuận thấp nhất Chính v chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tácnhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuậnnhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợinhuận cao hơn.
Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008, đã
đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị củangành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang pháttriển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thịtrường nhỏ lẻ và ít có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thịtrường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cảđầu vào tăng cao đang gây ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nôngdân có quy mô sản xuất nhỏ lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần ra khỏi thịtrường và không tham gia được vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt ra chochuỗi giá trị ở các nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượngsản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật tư đầu vào cùng với sự phối hợp hànhđộng trong chuỗi
2.2.2 Nghiên cứu về chuỗi giá trị ở Việt Nam
- Trong Luận án tiến sĩ “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liênkết kinh tế của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam” của tác giả ĐỗThị Đông năm 2011 đã nêu bật những đối tượng tham gia vào chuỗi giá trịcủa ngành may, từ đó chỉ ra các mối liên kết kinh tế có trong ngành dệt may.Mặt khác, tác giả đã đánh giá việc tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp may
và các khâu khác trong quá trình tạo ra và đưa sản phẩm đến tay người tiêudùng bao gồm liên kết dọc và liên kết ngang giữa các chủ thể trong ngànhmay Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia củangành may xuất khẩu Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu
- Kinh nghiệm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản (2010),chủ biên PGS.TS Đinh Văn Thành Thực tế cho thấy, tham gia vào chuỗi giá
Trang 31trị toàn cầu đang là xu thế phổ biến hiện nay và sự tham dự này mang lại lợiích kinh tế và xã hội to lớn, kể cả đối với các nước đang và kém phát triển.Hiện tại, Việt Nam đang là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớntrong khu vực và thế giới với nhiều sản phẩm đặc trưng như cà phê, điều, hồtiêu, chè, gạo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nông nghiệp Việt Nam đãbộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây truyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch,chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Vì vậy, dù là một trong những quốcgia hàng đầu xuất khẩu nông sản, nhưng tính bền vững trong sản xuất chưacao, đang bộc lộ những khuyết điểm lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đếnthu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ Nông sản của Việt Nam đãtham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhýng mới chỉ dừng lại ở việc cung cấpðầu vào là nông sản thô, trong khi giá trị gia tãng ðối với hàng nông sản lạichủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt ðộng thýõng mại Hay nói cáchkhác, Việt Nam mới tham gia ðýợc ở khâu tạo ra giá trị ít nhất trong chuỗi giátrị toàn cầu.
Cuốn sách cũng phân tích nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nói trên là
do sự lạc hậu về công nghệ trước và sau thu hoạch, trình độ hạn chế củanhững tác nhân tham gia chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu marketingphân phối và tiêu thụ Bên cạnh đó, các yếu tố tạo môi trường cho sự tham giahiệu quả vào chuỗi như dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng còn hạn chế Các chínhsách phát triển thương mại hàng nông sản còn nhiều bất cập Mặt khác, tronglúc tư duy phát triển, chúng ta quá trú trọng đến sản lượng, số lượng mà chưachú trọng đúng mức đến giá trị gia tăng Chính vì vậy, thay vì tiếp cận sảnlượng, vấn đề tiếp cận giá trị gia tăng đang trở thành yêu cầu cấp thiết
- Công trình nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biếnvới nông dân” của tác giả Hồ Quế Hậy (2007) đã trình bày bản chất mối liênkết kinh tế và nội dung của mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế
Trang 32biến với nông dân Đồng thời tác giả đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn củacác ngành mận, điều, thuốc lá trong việc hình thành mô hình liên kết giữadoanh nghiệp chế biến và nông dân Bên cạnh đó, tác giả chỉ rõ thực trạng môhình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và nông dân trồng bôn vải ởViệt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy, hoàn thiện mối liên kếtnày bao gồm các giải pháp vĩ mô của nhà nước và các giải pháp của doanhnghiệp chế biến.
Xuất phát từ thực trạng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến
và nông dân trồng bông, tác giả đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơbản để hoàn thiện mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến vớinông dân trồng bông vải bao gồm các giải pháp đối với bản thân doanhnghiệp bao gồm phát triển mô hình mua bán thỏa thuận sau thu hoạch, hợpđồng ràng buộc đầu vụ và tiến tới xây dựng mô hình liên kết thông qua chế độtham dự cổ phần đồng thời cần hoàn thiện nội dung của mô hình liên kết theohướng đa dạng và linh hoạt Xây dựng vùng chuyên canh bông vải tạo độnglực thúc đẩy hình thành và phát triển các mô hình liên kết kinh tế giữa doanhnghiệp chế biến với nông dân trồng bông vải
- Luận văn thạc sỹ “Các giải pháp gắn kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ
cá Tra ở huyện An Giang”, (2009) Nguyễn Mạnh Cường đã phân tích, hệthống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêuthụ thủy sản nói chung và sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá Tra nói riêng.Đồng thời, đánh giá thực trạng vấn đề gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêuthụ cá Tra tại huyện An Giang và đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu
- Đề tài cấp Bộ “Vấn đề liên kết bốn nhà trong phát triển nông nghiệpViệt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” của tácgiả Nguyễn Thị Thủy và các thành viên, năm 2011: Làm rõ tính tất yếu củamối liên kết giữa bốn nhà: Nhà nông - Nhà nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhà
Trang 33khoa học, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn; phân tích thực trạng mối liên kết đó ở Việt Nam qua hơn 20 năm đổimới trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường liên kết bốn nhàtrong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam.
- Tác giả Nguyễn Văn Thường và Nguyễn Thế Nhã trong cuốn “Đổi mới
tổ chức quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa” Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 2001: trình bàycác đặc điểm có ảnh hưởng đến tổ chức và quản lý các doanh nghiệp nôngnghiệp Nhà nước ngành hàng Cà phê và Cao su; Phân tích quá trình hìnhthành hệ thống Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Daklak
và tiến trình đổi mới tổ chức, quản lý của Doanh nghiệp này trong ngành càphê và ca cao; Đồng thời cuốn sách đưa ra những giải pháp chủ yếu về tổchức và phát triển chế biến, tiêu thụ cà phê trong các doanh nghiệp nôngnghiệp nhà nước ở tỉnh Daklak cũng như giải pháp vĩ mô nhằm phát triểnngành hàng cà phê tại tỉnh Daklak
Bên cạnh cá công trình nghiên cứu trên còn một số bài báo đăng trên cácbáo và tạp chí của tác giả như: Trần Tiến Khải “Liên kết dọc trong chuỗi giátrị nông sản: nhìn từ vụ Bianfshco”, thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 31/3/2012;
Lê Bền, “Bài học từ cây cà phê, chè ở Sơn La”, báo Nông nghiệp Việt Namngày 03/4/2012
Như vậy, việc nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm trong đó có cả sảnphẩm nông nghiệp ở trong nước và nước ngoài đã rất nhiều, đồng thời cónhững nghiên cứu cụ thể để phát triển cụ thể theo từng sản phẩm như: ChuỗiXoài, chuỗi bưởi, chuỗi cà phê, chuỗi chè Thái Nguyên và tại Sơn La cũng cónhững nghiên cứu về chuỗi giá trị nhãn Sông Mã Nhưng theo tác giá thìnhững nghiên cứu trên phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng địađiểm cụ thể Chúng ta không chỉ áp dụng một cách triệt để vào một sản phẩm
Trang 34nào đó của một khu vực nào đó Muốn có một nghiên cứu tốt, một nghiên cứuthực sự sẽ tác động đến sự phát triển của một sản phẩm nông nghiệp nào đónhư với tỉnh Yên Bái chúng ta cần phải có những nghiên cứu cụ thể, đề xuấtphát triển chuỗi đó, cũng như là căn cứ để đề xuất giải pháp với sự giúp đỡcủa chính quyền nhằm phát triển chuỗi một cách bền vững.
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
2.3.1 Các chỉ tiêu kinh tế
a) Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất: Giá trị sản xuất (GO); Chi phí trung gian (IC); Giá trị tăng thêm (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI); Lợi nhuận(Pr)
- Giá trị sản xuất (GO - Gross Output)
Là doanh thu (hoặc đầu ra) của từng tác nhân, được tính bằng lượng sảnphẩm nhân với đơn giá Để đơn giản, người ta chỉ xtôi xét những sản phẩmchính Trong phân tích ngành hàng, giá trị sản phẩm sẽ được phân tích khácnhau trong phân tích tài chính và phân tích kinh tế
- Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost)
Là chi phí về những yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất, kinhdoanh Chi phí trung gian trong ngành hàng được tính theo chi phí vật chấtcủa luồng vật chất tạo nên sản phẩm Sản phẩm của các tác nhân đứng trướcthuộc chi phí trung gian của các tác nhân đứng liền kề sau nó Các chi phítrung gian khác là những chi phí ngoài ngành
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added)
Là giá trị mới tạo thêm của mỗi tác nhân do hoạt động kinh tế về việc sửdụng tài sản cố định, vốn và đầu tư lao động dưới ảnh hưởng của chính sáchthuế của Nhà nước
Công thức tính: VA = GO - IC Giá trị gia tăng VA có thể bằng 0,dương hoặc âm
Trang 35Giá trị gia tăng là phần không tính trùng giữa các tác nhân Vì vậy, trongnền kinh tế quốc dân, tập hợp toàn bộ giá trị gia tăng của mọi tác nhân sẽ tạonên tổng sản phẩm quốc dân của đất nước (GNP = ∑ VA) Như vậy, nếu mộttác nhân nào đó có VA > 0 thì nghĩa là tác nhân đó đã góp phần tạo nên GNPcho nền kinh tế Trong chuỗi giá trị, giá trị gia tăng là thước đo về giá trị đượctạo ra trong nền kinh tế Khái niệm này tương đương với tổng giá trị được tạo
ra bởi những người vận hành chuỗi (doanh thu của chuỗi = giá bán cuối cùng
* số lượng bán ra) Giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm là hiệu số giữagiá mà người vận hành chuỗi bán được trừ đi giá mà người vận hành chuỗi đó
đã bỏ ra để mua những nguyên liệu đầu vào mà những người vận hành chuỗi
ở công đoạn trước cung cấp, và giá của những hàng trung gian mua từ nhữngnhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ không được coi là mắt xích trong chuỗi.Nói tóm lại, “giá trị mà được cộng thêm vào hàng hoá hay dịch vụ tại mỗikhâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó” (Mc Cormick/Schmitz).Một phần của giá trị gia tăng được tạo ra được giữ lại trong chuỗi, còn mộtphần khác thì được giữ lại bởi những nhà cung cấp nằm ngoài chuỗi Các bộphận của giá trị gia tăng:
+ Chi phí về tiền lương và phụ cấp (W-Wage)
+ Thuế và các khoản phải nộp (T- Taxes): Là các khoản thuế và cáckhoản phải nộp mà các tác nhân phải đóng góp cho Nhà nước
+ Chi phí khác về tài chính (FF- Financial Fee): Là khoản trả lãi tiềnvay, nộp bảo hiểm và các chi phí tài chính khác của các tác nhân Nếu tácnhân chỉ sử dụng vốn tự có, không phải trả lãi tiền vay thì sẽ không có chi phí
về tài chính
+ Lãi gộp (GPr - Gross Profit): Là khoản lợi nhuận thu được sau khi trừ
đi tiền thuê lao động, thuế và các chi phí tài chính
GPr = VA - (W + T + FF)
Trang 36Nếu lãi gộp > 0 có nghĩa là tác nhân đã thu được khoản lãi trong kinhdoanh Lãi gộp GPr là yếu tố linh hoạt, nó biến đổi theo sự biến đổi của cácđẳng thức trên Cũng như giá trị gia tăng, lãi gộp cũng có thể âm, dương hoặcbằng 0.
Lãi gộp GPr bao gồm 2 đại lượng là hao mòn tài sản cố định và lãi ròng.+ Hao mòn tài sản cố định (A - Amotization) được tính hàng năm nhằmmục đích tái sản xuất tài sản cố định
Có ba phương pháp tính khấu hao, đó là: khấu hao đường thẳng, khấuhao theo số dư giảm dần, khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng sốđơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra Để đơn giản, trong nghiên cứunày chúng tôi tính khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng Mứckhấu hao trung bình hàng năm của vườn cây được tính bằng nguyên giá tàisản cố định (TSCĐ) chia cho số năm khai thác Để tính nguyên giá TSCĐphải tập hợp tất cả các chi phí vào tài khoản 241 sau đó mới hình thành tài sản
cố định Thời điểm ghi nhận TSCĐ là thời điểm kết thúc giai đoạn trồng mới,đưa vườn mận vào khai thác Các chi phí phát sinh trong giai đoạn khai tháctính vào chi phí hoạt động trong kỳ
+ Lãi ròng NPr (Net Profit): Là phần lãi sau khi lấy lãi gộp trừ đi phầnhao mòn tài sản cố định NPr = GPr - A
Lãi ròng cũng có thể là số dương, âm hay bằng 0 Lãi ròng là một chỉtiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình sản xuấtkinh doanh Đó là phần thu được của các tác nhân sau khi trừ đi toàn bộ mọichi phí và các khoản phải nộp Thông thường các tác nhân sử dụng lãi ròngNPr vào việc mở rộng sản xuất hoặc nâng cao đời sống
b) Những chỉ tiêu phản ánh HQKT
- GO, VA, MI, Pr lần lượt tính cho 1 ha đất trồng trọt
- GO, VA, MI, Pr lần lượt tính trên 1 ngày công lao động
Trang 37- GO, VA, MI, Pr lần lượt tính trên 1 đồng chi phí trung gian.
- GO, VA, MI, Pr lần lượt tính trên 1 đồng tổng chi phí
2.3.2 Phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận trong chuỗi
Lợi nhuận = Doanh thu trong kỳ - chi phí bỏ ra trong kỳ
Theo Kaplinsky và Morris (2001) thì công thức tính lợi nhuận trongchuỗi như sau:
Cách tính toán lợi nhuận, chi phí, sử dụng các chi phí từng phần Số liệuchi phí gồm tất cả các thông tin về lao động, vật tư đầu vào, nhiên liệu, khấuhao và chi phí khác GTGT trong chuỗi giá trị cũng được phân bổ cho cả tácnhân bên ngoài như những nhà nhập khẩu, nhà phân phối và các nhà bán lẻ tạithị trường bên ngoài
Trang 38PHẦN IIIĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ trồng quế với các tác nhânkhác trong chuỗi giá trị quế trên địa bàn xã Phong Dụ Thượng, huyện VănYên, tỉnh Yên Bái
Thời gian thực tập từ ngày 15/08/2017 - 21/12/2017
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội xã Phong Dụ Thượng
Vị trí địa lý
- Điều kiện khí hậu, thủy văn
+ Điều kiện khí hậu
- Đặc điểm kinh tế - xã hội:
- Điều kiện kinh tế
+ Về trông trọt
Trang 39+ Về chăn nuôi
- Điều kiện xã hội
+ Dân số
+ Lao động
+ Văn hóa- giáo dục
- Xác định các mối liên kết dọc giữa hộ trồng quế với các tác nhân kháctrong chuỗi giá trị quế
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa hộ trồng quế và cáctác nhân khác trong chuỗi giá trị quế trên địa bàn xã Phong Dụ Thượng,huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.3 Phương pháp nghiên cứu thực hiện
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin:
3.3.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập tài liệu về các văn bản chỉ đạo của huyện, huyện đang đượctriển khai về phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi tại Sở NN& PTNT,Chi cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, Chi cục Phát triển nông thôn,Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trung tâm khuyến nông, Liên minhHợp tác xã, Sở Công thương, Sở Khoa học và Công nghệ huyện Văn Yên,phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Văn Yên; Thu thập số liệu
về tình hình thực hiện chuỗi giá trị quế tại huyện Văn Yên Tài liệu thứ cấpđược thu thập từ các nguồn thông tin đã công bố chính thức của các cơ quanNhà nước, các công trình nghiên cứu của tập thể, cá nhân, tổ chức về tác độngcủa tín dụng đến sản xuất kinh doanh nông nghiệp, và các tài liệu liên quankhác, các báo cáo, tổng kết về thực hiện chủ chương và chính sách tài chínhtín dụng của địa phương Những thông tin thống kê về phát triển kinh tế củađịa phương, tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng địa phương Nguồn tài
Trang 40liệu tổng hợp được thu thập từ các báo cáo KT - XH của xã cung cấp, sáchbáo và các tài liệu có liên quan.
3.3.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp
- Phiếu điều tra được xây dựng dựa trên những thông tin cần thu thập Nội dung của phiếu bao gồm những thông tin cơ bản khái quát về hộđiều tra; Tình hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm từ quế; Thông tin về mối liên kết giữa các tác nhân cung ứng vật tư đầu vào…
- Chọn địa điểm nghiên cứu: Trên địa bàn xã Phong Dụ Thượng có tất
cả là 11 thôn Để có được số liệu điều tra trên tôi đã tiến hành phỏng vấn lựachọn ngẫu nhiên 30 hộ trồng quế trên 3 thôn có tổng số hộ dân trồng quếnhiều nhất, đó là thôn 1, 2, 7 Các hộ được chọn phỏng vấn là những hộ códiện tích quế lớn và kinh nghiệm sản xuất lâu năm trên địa bàn xã dựa trêndanh sách của UBND xã cung cấp
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp đại diện hộ nông dân vớiphiếu câu hỏi điều tra
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Các bước chọn mẫu được tiến hành như sau:
Bước 1 Căn cứ trên khả năng thực hiện và quỹ thời gian cho phép vàđặc điểm địa bàn nghiên cứu
Bước 2 Chọn 3 thôn trong 11 thôn tại xã để phỏng vấn sâu về sản xuấtkinh doanh trồng quế
Bước 3: Chọn mẫu cụ thể đối với các tác nhân trong chuỗi
* Đối với tác nhân là hộ trồng quế
Chọn hộ dựa trên sự lựa chọn và thu xếp gặp gỡ của cán bộ địaphương Khóa luận sử dụng phương pháp phỏng vấn có sử dụng bảng hỏi đốivới 25 hộ nông dân trồng quế, thảo luận nhóm với một số cá nhân có liênquan đến hoạt động sản xuất quế