Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá tác động của chế độ thủy động lực vùng ven bờ ảnh hưởng đến diễn biến xói bồi bờ biển tỉnh Trà Vinh bằng một số phần mềm như MIKE213FM, ARCGIS. Qua tính toán, khu vực ấp Bầu xã Hiệp Thạnh, khu vực Ba Động, Cồn Trứng ở Trường Long Hoà đang diễn biến sạt lở rất phức tạp. Kết quả trên làm cơ sở để đưa ra những biện pháp khả thi cho công tác quản lý, quy hoạch, kiểm tra, giám sát và lựa chọn các công trình chỉnh trị hợp lý, hiệu quả phục vụ phát triển bền vững khu vực nghiên cứu..
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ THỦY ĐỘNG LỰC VÙNG VEN BỜ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN DIỄN BIẾN XÓI BỒI BỜ BIỂN TRÀ VINH
TS Nguyễn Hữu Nhân, ThS Phan Mạnh Hùng, PGS TS Hoàng Văn Huân
CN Quách Đình Hùng, ThS Đỗ Thị Hồng Thư
Viện Kỹ thuật Biển
Tóm tắt: Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá tác động của chế độ thủy
động lực vùng ven bờ ảnh hưởng đến diễn biến xói bồi bờ biển tỉnh Trà Vinh bằng một số phần mềm như MIKE21/3FM, ARCGIS Qua tính toán, khu vực ấp Bầu xã Hiệp Thạnh, khu vực Ba Động, Cồn Trứng ở Trường Long Hoà đang diễn biến sạt lở rất phức tạp Kết quả trên làm cơ sở
để đưa ra những biện pháp khả thi cho công tác quản lý, quy hoạch, kiểm tra, giám sát và lựa chọn các công trình chỉnh trị hợp lý, hiệu quả phục vụ phát triển bền vững khu vực nghiên cứu
Từ khóa: thủy động lực, sóng, bồi xói, mô hình toán, ven bờ, Trà Vinh
Summary: This paper presents the results of study on the hydrodynamic – wave –
deposition/erosion phenomenon in the coastal southern province of Tra Vinh Hydrodynamic, wave and sediment transport modules in M ike 21/3 FM modelling software as well as ArcGis are used to give general picture on hydrodynamic, wave and erosion/deposition process in Tra Vinh province of coastal southern Viet Nam The result of simulation showed that bank erosion in Bầu hamlet of Hiep Thanh commune, Ba Dong and Con Trung hamlets of Truong Long Hoa commune are taking place considerably Based on these results of paper, the manager is able to propose feasible measures to reduce negative impacts as well as promote exploitation of positive aspects for the sustainable development in the southern Viet Nam
Keywords: Hydrodynamics, Wave, Erosion/Deposition, M odeling, Coastal zone, Tra Vinh
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bờ biển tỉnh Trà Vinh kéo dài từ cửa Cung Hầu đến cửa Định An có chiều dài khoảng 65km đang diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị xói lở với tốc độ nhanh trong thời gian qua bởi chịu tác động trực tiếp, mạnh mẽ của quá trình biến đổi thủy động lực Biển Đông và dòng chảy thượng nguồn sông M êKông Hậu quả là: Hàng trăm héc ta đất canh tác ven biển bị mất; Nhiều khu vực rừng phòng hộ ven biển bị xói mòn và làm suy giảm tác dụng bảo vệ; M ột số khu bãi biển có lợi thế phát triển du lịch dịch vụ đang chịu sự tác động bởi sóng và dòng chảy gây xói lở nghiêm trọng, có nguy cơ làm thiệt hại không chỉ cơ sở hạ tầng mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Trà Vinh tại các khu vực này
Vấn đề cấp bách đặt ra là để bảo vệ tính mạng người dân, tài sản và cơ sở hạ tầng, góp phần phát triển KTXH và bảo vệ môi trường tại khu vực huyện Duyên Hải nói riêng và Trà Vinh nói chung cần phải có một nghiên cứu thấu đáo, đủ cơ sở khoa học để giải thích và đánh giá đúng nguyên nhân và cơ chế xói lở cũng như bồi lắng bờ biển cửa sông khu vực nghiên cứu, từ đó có cơ sở cho những giải pháp kỹ thuật phù hợp đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH bền vững
Trang 2II PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ S Ố LIỆU S Ử DỤNG
a) Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là vùng bờ biển Trà
Vinh, được chia thành các tiểu vùng
nghiên cứu trong đó có 3 tiểu vùng chính:
Hiệp Thạnh, Trường Long Hòa, Dân
Thành (Hình 1)
b) S ố liệu sử dụng
Số liệu địa hình: Địa hình trên bờ (bề
rộng 100 m và chiều dài 30 km) và dưới
nước (bề rộng 1 – 1,2 km và chiều dài 30
km) như Hình 2 được lấy từ kết quả thực
đo vào năm 2010 và 2011 Bên cạnh đó số
liệu còn được bổ sung từ các dự án điều
tra cơ bản thực hiện bởi Viện Khoa học Thủy lợi M iền Nam (Viện KHTLMN, 2010) và Viện Kỹ thuật Biển (Viện KTB, 2009) Địa hình tại các vùng khác của Biển Đông được lấy từ GEBCO của
Trung tâm dữ liệu hải dương học Anh Quốc có độ phân giải 30″ × 30″
Hình 2: Địa hình đo đạc trên cạn và dưới nước năm 2010, 2011
Số liệu trường gió nền được trích từ kết quả mô hình khí hậu toàn cầu CFSR (Climate Forecast
System Reanalysis) của Trung tâm dự báo môi trường thuộc Cơ quan quản lý đại dương và khí quyển M ỹ (NCEP/NOAA)
Số liệu trường sóng: Số liệu sóng quan trắc tại một số vị trí đo đạc năm 2010, 2011 và kế thừa
số liệu tại một số vị trí đo đạc thuộc dự án điều tra cơ bản năm 2009, 2010 như Hình vẽ 3, phục
vụ mục đích hiệu chỉnh và kiểm định mô hình M IKE21 SW
Hình 1: Vị trí vùng nghiên cứu
Trang 3Hình 3: Vị trí các trạm đo mực nước, dòng chảy, sóng, hàm lượng bùn cát lơ lửng ven bờ
III XÂY DỰNG MÔ HÌNH TOÁN
3.1 Thiết lập mô hình toán số
M ô hình nghiên cứu vùng mở rộng được thiết lập cho toàn Biển Đông nhằm tính toán sóng nước
sâu làm biên cho các mô hình nghiên cứu chi tiết hơn, các biên chính của mô hình mở rộng là eo
biển Đài Loan, eo M alacca, eo Sulu và eo Luzon (Hình 4)
Tại Vùng nghiêu cứu (VNC) mở rộng, ngoài các cửa sông Cửu Long còn có các sông khác có
thể ảnh hưởng như: Đồng Nai, Sài Gòn,Vàm Cỏ,Thị Vải, sông Bồ Đề, Gành Hào, M ỹ Thanh
Phạm vi không gian vùng nghiên cứu chính bao trùm từ cửa M ỹ Thanh (Sóc Trăng) đến mũi
Long Hải, Vũng Tàu (Hình 5)
Trạm đo dòng chảy Trạm đo sóng Trạm đo bùn cát lơ lửng
BC1 BC2 S1
S2 DC2
DC1
DC3
Hình 5: Lưới tính và địa hình đáy biển khu vực
Biên mở
Biên mở phía Đông
Biên mở
phía Bắc
Hình 4: Phạm vi vùng nghiên cứu mở rộng
Biên mở Nhà Bè
Biên mở sông Mekong
Biên mở Cái Lớn
Trang 4- Cơ sở dữ liệu (CSDL) địa hình đáy và bờ lòng dẫn là bộ số liệu đã tích lũy từ rất nhiều nguồn đảm bảo độ tin cây tương đối, CSDL địa hình tại các cửa sông là số liệu điều tra năm
2009, 2010 của tổng cục thủy lợi và giá trị thực đo từ đề tài này
- Do vị trí tại Tân Châu và Châu Đốc cách rất xa vùng ven biển Trà Vinh, nên ta có thể dùng
số liệu lưu lượng bình quân ngày
- CSDL về hàm lượng phù sa lơ lửng và tải lượng phù sa lơ lửng tại Tân Châu và Châu Đốc là tài liệu thực đo Do các mặt cắt này cách rất xa vùng ven biển Trà Vinh, nên ta có thể dùng
số liệu bình quân ngày
- Bộ số liệu sơ bộ về độ nhám, tính chất cơ lý của trầm tích
- Các CSDL phụ khác là các lớp GIS và ảnh vệ tinh
3.2 Kết quả hiệu chỉnh – kiểm định mô hình
a) Kết quả hiệu chỉnh – kiểm định mô hình thủy động lực
- Tối ưu tốc độ tính toán để bảo đảm tính khả thi và tiến độ nghiên cứu, bảo đảm thông số CFL<=1 trong mọi kiểu thời tiết
- Hệ số M anning từ 15 – 40 theo không gian
- Hệ số tán xạ nằm trong khoảng từ 0,2 – 1000 m2/s
- Bước tính tối ưu là 3 giây
- Các đoạn biên mở đặt ở vị trí đủ xa, sao cho ảnh hưởng sai số trên biên là tối thiểu cho VNC
b) Kết quả hiệu chỉnh – kiểm định mô hình sóng (SW)
Lưới tính theo góc phổ sóng tối ưu là lưới bao gồm 18 bước lưới
Hiệu ứng không ổn định dẫn đến sóng bạc đầu với hệ số Gamma là 0,8
Bước tính thời gian phổ sóng tối ưu là bội số của bước lưới dòng chảy là 5
Phổ sóng ban đầu là phổ sóng Zero và được tính xấp xỉ theo công thức Jonswap với các thông số như sau:
- Hệ số dạng σa là 0.07; hệ số dạng σb là 0,09; Hệ số đỉnh là 3,3
- Các thông số sóng: Đà sóng là 10 km, chu kỳ tại đỉnh là 2,5 giây
c) Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định thông số mô hình vận chuyển bùn cát
- Lũy thừa trong công thức tính tốc độ rơi các flocs hạt đại diện cho lớp bùn nhão là 50 và lớp bùn chặt là 5
- Ứng suất bắt đầu bồi tụ của các flocs hạt đại diện cho lớp bùn nhão là 0,04 và lớp bùn chặt
- Tỷ trọng khô các hạt đại diện cho lớp bùn nhão là 2640 và lớp bùn chặt là 2638
Trang 5
Hình 8: So sánh kết quả tính toán và thực đo thành phần vận tốc dòng chảy trung bình theo trục
x và trục y trạm Trường Long Hoà (DC2)
Hình 6: Kết quả tính toán và thực đo mực nước, lưu lượng tại trạm Cổ Chiên (DC1)
Hình 7: Kết quả tính toán và thực đo mực nước, dòng chảy tại trạm Định An (DC3)
Trang 6Hình 11: So sánh nồng độ bùn cát lơ lửng tại ven bờ xã Hiệp T hạnh (BC1) và T rường Long Hoà (BC2)
Tóm lại, việc hiệu chỉnh các thông số mô hình tính toán, các CSDL nhập và kiểm định chất lượng số liệu tính toán đã được thực hiện một cách cẩn thận, bài bản và có độ tin cậy Kết quả bước nghiên cứu này có ý nghĩa then chốt cho việc tính toán dòng chảy, cũng như tính sóng, vận chuyển bùn cát tại VNC
IV KẾT QUẢ TÍNH TOÁN
4.1 Chế độ thủy động lực học (HD) hiện trạng
Thủy động lực vùng bờ biển Trà Vinh phụ thuộc vào chế độ bán nhật triều có cường độ rất mạnh ở Biển Đông Nam Bộ, chế độ thủy văn hạ lưu sông M ekong và hải văn Biển Đông của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Đông Nam Á với sự tương phản sâu sắc giữa thời kỳ gió mùa Tây Nam (TN) và gió mùa Đông Bắc (ĐB)
Trong điều kiện bình thường tốc độ dòng chảy tại những vị trí gần cửa sông như Hiệp Thạnh, Đông Hải trung bình từ 0,4 – 0,7 m/s, cao hơn dòng chảy các vị trí ven bờ như Trường Long Hòa, Dân Thành trung bình từ 0,1 – 0,3 m/s Dòng chảy do thủy triều ra vào các cửa sông, đặc biệt là 2 cửa sông Cung Hầu và Định An, chiếm ưu thế trong số các yếu tố
tự nhiên chi phối chế độ thủy động lực học khu vực ven biển Trà Vinh do vậy vị trí xã Trường Long Hòa là nơi sự phân chia hướng dòng chảy ven bờ tại khu vực nghiên cứu
các vị trí ven bờ trong 1 năm kết quả tính toán
Vị trí ven bờ
Trang 7Trong các điều kiện thời tiết cực đoan như: bão nhiệt đới cấp 12 đổ bộ vào vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (tương tự bão Linda, năm 1997), các đợt gió mùa ĐB, gió mùa
TN (gió cấp 6 ÷ 7), các yếu tố thủy động lực (HD) tại vùng bờ biển Trà Vinh tăng đột biến, dẫn đến những tác động tiêu cực cho vùng nghiên cứu, như:
- M ực nước dâng do gió trong bão cấp 12 hoặc do gió mùa ĐB cấp 7 hoạt động liên tục trong
2 ngày có thể làm mực nước tổng hợp tăng lên từ 30 ÷ 90cm so với khi thời tiết bình thường
- Tốc độ dòng chảy tổng hợp khi có bão cấp 12 hoặc khi có gió mùa ĐB và gió mùa TN lớn tại VNC có thể tăng lên 1,3 lần (có thể lên đến 1,8m/s) so với khi lặng gió, đặc biệt lớn khi hướng gió và hướng truyền triều trùng nhau Đối với các vị trí gần bờ, dòng chảy lên đến hơn 1,2 m/s (xem hình 12, 13) Đây là tốc độ gây xói đáy và sạt lở bờ khá mạnh, nhất là vùng đất yếu và phù sa mịn tại VNC Tốc độ dòng chảy giữa gió mùa Đông Bắc và Tây Nam tại các vị trí không có quá nhiều chênh lệch
4.2 Chế độ sóng biển hiện trạng
- Sóng ven bờ biển Trà Vinh là kết quả sự tương tác của nhiều yếu tố: sóng từ Biển Đông lan truyền đến, sóng do gió tại chỗ, tính chất và cấu trúc của địa hình và tính chất và cấu trúc
HD, hiện tượng khúc xạ, nhiễu xa, vỡ sóng, sự tương tác bên trong của các thành phần phổ sóng…
- Sóng tại ven bờ biển Trà Vinh chịu ảnh hưởng rất mạnh của địa hình đáy, đường bờ biển và dao động mực nước (do triều là chính) Có hiện tượng phân kỳ liên tục năng lượng sóng dọc theo các nhánh sông Đó là cơ chế chính làm giảm độ cao sóng trong sông Điều này có thể thấy thông qua kết quả mô phỏng, giá trị chiều cao sóng tại 2 vị trí gần 2 cửa sông Cung Hầu
và Định An thấp hơn so với chiều cao sóng tại khu vực ven biển của Trường Long Hòa và
Hiệp Thạnh
Trường Long Hoà Dân Thành Đông Hải
Đông Hải Dân Thành
Trường Long Hoà Hiệp Thạnh
Hình 14: Trường mực nước và dòng chảy trong gió mùa TN (a) và gió mùa ĐB (b)
Trang 8- Trong các điều kiện thời tiết cực đoan như: bão nhiệt đới cấp 12 đổ bộ vào vùng ĐBSCL, các đợt gió mùa ĐB, gió mùa TN, sóng rất mạnh và tác động tiêu cực lên ven bờ biển Trà Vinh Sóng lớn khi có bão cấp 12 hoặc khi có gió mùa ĐB lớn tại VNC (kết hợp với tốc độ dòng chảy tăng lên 1,5 lần và độ sâu ngập nước tăng lên 30-90cm so với khi lặng gió) sẽ đặc biệt nguy hiểm, gây ra sạt lở bờ biển, bồi lấp cửa sông, san bằng địa hình đáy và phá hủy hệ sinh thái ven bờ biển tại VNC So với các vị trí khác, những vị trí ven bờ đoạn cuối Trường Long Hòa hay ở Dân Thành có độ cao sóng cao hơn địa hình ở những vị trí này sâu hơn, vì vậy năng lượng sóng ít bị tiêu hao gây ra năng lượng sóng hội tụ tại khu vực này
Hình 15: Trường sóng tại vùng nghiên cứu trong gió mùa Đông Bắc và Tây Nam
Hình 16: Biểu đồ so sánh giá trị trung bình chiều cao sóng tại các vị trí như trên hình 12
4.3 Chế độ bồi xói hiện trạng
Đối với xã Hiệp Thạnh: nhìn chung hiện tượng bồi xói xảy ra xen kẽ Tuy nhiên khu vực
phía Bắc hiện tượng xói xảy ra nhiều hơn so với khu vực phía Nam Đặc biệt tại khu vực ấp Bầu diễn biến xói lở ở đây khá lớn trung bình 2 ÷ 3 m/năm Khu vực này chịu sự chi phối của chế độ dòng chảy thủy triều vào ra cửa sông Cung Hầu với vận tốc dòng chảy trung bình vào khoảng 0,4 ÷0,5 m/s, cộng thêm chịu tác động trực tiếp từ sóng có chiều cao trung bình 0,7 ÷ 0,8 m đặc biệt là khi có gió mùa Đông Bắc Lực xung kích do sóng biển đã trực tiếp phá vỡ kết cấu bờ, bào mòn thành chân bờ, chuyển các dạng vật liệu kết cấu bờ và đáy chủ
Hiệp Thạnh
Trường Long Hoà
Dân Thành
Dân Thành
Trường Long Hoà Hiệp Thạnh
Vị trí ven bờ
Trang 9yếu là bùn sét cát mịn thành dạng lơ lửng, một phần được vận chuyển đi ra xa cũng như được vận chuyển xuống phía Nam bởi dòng chảy sóng, triều và hoàn lưu biển Đông
Đối với xã Trường Long Hòa: Nhìn chung hiện tượng xói lở chỉ xảy ra ở một số khu vực
như tại ấp Nhà M át (khoảng 1,2 km) do nằm gần cửa sông Bến Giá nên dòng chảy khá phức tạp, có hướng gần vuông góc với bờ, đặc biệt là khi triều dâng, nên có hiện tượng xâm thực
từ 0,5 ÷ 1 m/năm Ngoài ra đoạn từ khu du lịch Ba Động đến cuối xã Trường Long Hòa, hiện tượng sạt lở xảy ra khá mạnh mẽ, đặc biệt tại khu du lịch Ba Động và khu vực gần ấp Cồn Trứng có tốc độ sạt lở từ 2 – 3 m/năm Chiều cao sóng tại đây cao hơn các vị trí khác, đặc biệt là khi có gió mùa Đông Bắc Độ cao sóng trung bình là 1 m (cách bờ khoảng 1km, tại độ sâu khoảng 3 ÷ 5m) Do khu vực này có địa hình sâu hơn các vị trí khác nên sóng từ ngoài khơi truyền vào đến gần tới bờ mới có hiện tượng sóng vỡ, vì vậy xói lở ở đây diễn biến phức tạp
Đối với xã Dân Thành: Nhìn chung không có diễn biến bồi xói phức tạp Chỉ có tại đoạn ấp
Láng Cháo kéo dài xuống ấp M ù U thường bị sạt lở trung bình từ 2 ÷ 3 m/năm
Đối với xã Đông Hải: Hiện tượng bồi chi phối mạnh, tốc độ trung bình từ 1 ÷ 3 m/năm Bên
cạnh đó cũng xảy ra hiện tượng xói lở như ở đoạn giáp với xã Dân Thành và ấp Động Cao Tại khu vực giáp với xã Dân Thành có địa hình đáy bờ biển sâu hơn khu vực khác nên năng lượng sóng không bị tiêu hao nhiều ở ngoài xa Do vậy chiều cao sóng tại khu vực này cao hơn các vị trí về phía Nam, tác động đến diễn biến xói tại đây Còn khu vực thuộc ấp Động Cao bị ảnh hưởng dòng chảy của sông Hậu chảy qua cửa Định An, nên tốc độ dòng chảy khu vực này khá lớn so với các vị trí khác, trung bình từ 0,4 ÷ 0,7m/s
Đông Hải Dân Thành
Trường Long Hoà
Trường Long Hoà Dân Thành Đông Hải
Hình 17: Diễn biến bồi xói vùng nghiên cứu trên nền hiện trạng 1 năm khí hậu và bão cấp 12
trong 48 giờ
Trang 10V NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN
Có thể nói rằng, dòng chảy do thủy triều vào ra các cửa sông Cung Hầu và Định An chiếm
ưu thế trong các yếu tố tự nhiên chi phối đến chế độ thủy động lực học khu vực ven biển Trà Vinh Cụ thể là vùng bờ biển đoạn giáp cửa Cung Hầu thuộc ấp Chợ, ấp Bầu của xã Hiệp Thạnh
bị ảnh hưởng bời dòng chảy của sông Tiền cũng như triều vào ra cửa Cung Hầu Hơn nữa, cửa Cung Hầu có hướng Tây Bắc - Đông Nam nên dòng chảy có xu thế áp sát bờ biển gây ra xói đáy
và bờ tại đây Ngoài ra, qua kết quả nghiên cứu cho thấy xã Trường Long Hòa có vị trí đặc biệt,
là nơi có sự phân chia dòng chảy ven bờ tại khu vực ven biển Trà Vinh
Vào gió mùa Đông Bắc, khu vực phía Bắc vùng bờ biển Trà Vinh từ xã Hiệp Thạnh đến đầu
xã Dân Thành thường xuyên hứng chịu tác động trực tiếp của sóng biển có chiều cao sóng từ 0,4
÷ 1 m Lực xung kích do sóng biển đã trực tiếp phá vỡ kết cấu bờ, chuyển vật liệu kết cấu bờ chủ yếu là bùn sét cát mịn sang dạng lơ lửng và phần lớn được vận chuyển xuống phía Nam bởi dòng hoàn lưu ven biển vận chuyển bùn cát dọc bờ Vào thời điểm này cũng là mùa khô nên lượng bùn cát từ các sông cung cấp cho vùng nghiên cứu thấp nên làm gia tăng khả năng bị xói lở bờ biển tại khu vực này
Vào gió mùa Tây Nam, chủ yếu khu vực bờ biển phía Nam vùng nghiên cứu từ cuối xã Dân Thành đến xã Đông Hải là chịu sự tác động của sóng bởi gió mùa này tuy nhiên chiều cao sóng không lớn, trung bình chiều cao sóng ven bờ chỉ từ 0,4 ÷ 0,5 m, trong khi đó các khu vực phía Bắc ven biển tỉnh Trà Vinh, chiều cao sóng ven bờ trung bình chỉ từ 0,1 ÷ 0,4 m Đồng thời giai đoạn này cũng là mùa mưa nên lượng bùn cát từ các sông cung cấp cao nên hiện tượng bồi tụ xảy ra nhiều vị trí tại khu vực nghiên cứu
Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu thấy rằng diễn biến bồi xói vùng bờ biển Trà Vinh không những chịu sự tác động dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu thông qua các cửa sông Cung Hầu, Định An mà còn bị ảnh hưởng bởi chế độ thuỷ triều, dòng hải lưu biển Đông cũng như ảnh hưởng sóng gần bờ Do các số liệu đầu vào cho mô hình như địa tầng trầm tích (chiều dày các lớp, sự phân bố, thành phần hạt ), cũng như số liệu bùn cát ở biên thượng lưu còn hạn chế nên kết quả mô phỏng vận chuyển bùn cát diễn biến bồi xói bờ biển có ý nghĩa trong việc phân tích đánh giá xu thế nhiều hơn mặt định lượng Mặc dù còn có một số mặt cần khắc phục như trên nhưng kết quả mô phỏng đã giúp làm rõ được chế độ thủy động lực học vùng bờ biển, cơ chế diễn biến bồi xói từ đó xác định được các yếu tố gây ra xói lở bờ biển cho từng tiểu khu vực tại tỉnh Trà Vinh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] ThS Phan M ạnh Hùng, 2012 Nghiên cứu chế độ thủy thạch động lực vùng ven biển Nam
Bộ, JICA
[2] TS Nguyễn Hữu Nhân, 2011 Nghiên cứu sự biến dạng của các yếu tố triều trên biển ven bờ
và các cửa sông Nam Bộ do nước biển dâng
[3] TS Nguyễn Hữu Nhân, 2011 Lập mô hình nghiên cứu nghiên cứu các quá trình thủy động học, sóng biển, vận chuyển bùn cát và bồi xói tại các bãi bồi ven biển từ Cửa Tiểu đến cửa Trần
Đề
[4] ThS Phan M ạnh Hùng, TS Nguyễn Hữu Nhân, 2012 Nghiên cứu hiện trạng cũng như dự báo chế độ thủy động lực, sóng, diễn biến bồi xói ven biển tỉnh Trà Vinh
[5] Danish Hydraulics Institute, 2009 Giáo trình hướng dẫn M ike 21/3 FM
-