Nội dung chính trong tuyên bố: Thành lập một Hiệp hội hợp tác khu vực giữa các nước Đông Nam Á được gọi là Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN.. Với tôn chỉ và mục đích hoạt động là: Thúc
Trang 1I MỞ ĐẦU:
Đông Nam Á là khu vực có lịch sử phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trên trục lộ giao thông hàng hải Quốc tế Hiện nay đây đã trở thành khu vực năng động
và phát triển của châu Á Để đạt được thành quả đó không thể không nhắc đến vai trò của ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Trải qua hơn 4 thập kỉ tồn tại và phát triển ASEAN nay đã trở thành một tổ chức lớn mạnh Trong mỗi giai đoạn, từng thời kì, cấp độ liên kết cũng như sự phối hợp, hợp tác về tất cả các lĩnh vục nói chung và về chính trị - an ninh nói riêng luôn có sự khác biệt và ngày càng
hoàn thiện Để làm rõ cho luận điểm trên, nhóm chúng em chọn đề tài số 04 để
nghiên cứu và chứng minh
II NỘI DUNG:
1 Khái niệm hợp tác chính trị - an ninh.
An ninh là giữ vững, bảo vệ sự ổn định và không để cho vấn đề bất ổn sảy ra trong quốc gia, khu vực hay toàn thế giới
Chính trị là vấn đề duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiêm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước
Hợp tác chính trị an ninh là hợp tác giữa các quốc gia nhằm đảm bảo cho nên chính trị - an ninh không có xáo trộn, khủng hoảng, đảm bảo cho các lĩnh vực khác phát triển
2 Tiến trình hợp tác chính trị - an ninh luôn phù hợp với yêu cầu cầu hoàn cảnh thông qua các văn bản pháp lý:
II.1 Tuyên bố Băng cốc 1967.
Tình hình an ninh - chính trị thế giới và khu vực: Năm 1960 thế giới đang
trong tình trạng chiến tranh lạnh và trật tự thế giới hai cực Xô- Mỹ chi phối, diễn
ra sự đối đầu giữa các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
Trang 2Do khu vực có vị trí - chính trị quan trọng nên luôn bị hai siêu cường Liên Xô và
Mỹ đều muốn tranh thủ các quốc gia ASEAN, khiến cho khu vực này trở nên hết sức nhạy cảm, trở thành “bàn cờ chính trị” để các nước lớn thi thố quyền lực và ảnh hưởng của mình Do đó, hòa bình, an ninh của các quốc gia Đông Nam Á rất
dễ bị tổn thương Các nước Đông Nam Á khi đó đã bị phân thành 2 nhóm đối lập, chịu sự ảnh hưởng khác nhau của các cường quốc (Các nước Đông Dương và các nước thân phương Tây) Mặt khác, do sự kết thúc ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân cũ, vai trò của Mỹ và Anh trong khu vực bị suy giảm khiến các nước Đông Nam Á thân Mỹ, Anh không tìm thấy chỗ dựa tin tưởng về an ninh, tạo ra “khoảng trống quyền lực” của các nước phương tây trong khu vực (Pháp rút khỏi Đông Dương 1954, Hà Lan trao trả độc lập cho Indonesia, Anh trao trả độc lập cho Malaysia 1953 nhưng vẫn chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho Malaysia tới năm
1970 theo hiệp định phòng thủ chung Anh – Malaysia, Anh tuyên bố rút quân khỏi các căn cứ phía đông kênh đào xuy-ê năm 1967, Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam
Nội dung chính trong tuyên bố: Thành lập một Hiệp hội hợp tác khu vực
giữa các nước Đông Nam Á được gọi là Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Với tôn chỉ và mục đích hoạt động là: Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các Quốc gia Đông Nam á hoà bình và thịnh vượng; Thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc; Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học-kỹ thuật và hành chính; Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chính; Cộng tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề về buôn bán
Trang 3hàng hoá quốc tế, cải thiện các phương tiện giao thông, liên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân; Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam á; Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có tôn chỉ và mục đích tương tự và tìm kiếm các cách thức nhằm đạt được một sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các tổ chức này
Nhận xét: Trong nội dung của tuyên bố không hề đề cập đến vấn đề hợp tác,
liên minh về an ninh – chính trị, quân sự của các quốc gia thành viên tuy nhiên, tuyên bố Băng cốc đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với các nước Đông Nam
Á, hiệp hội ASEAN được hình thành sẽ tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ cùng pháp triển đối với các nước thành viên, thúc đẩy hơn nữa quá trình phát triển của mỗi quốc gia Sự liên kết này giúp các quốc gia hạn chế được sự đe dọa từ các nước lớn, có thể chống lại được sự can thiệp, ảnh hưởng của các quốc gia bá quyền cả
về kinh tế, chính trị và quân sự, giúp lấp đầy “khoảng chống quyền lực” Vậy nên
có thể thấy, tuyên bố Băng cốc 1967 ra đời có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu thực tế của hoàn cảnh khu vực
II.2 Tuyên bố ZOPFAN 1971.
Sau tuyên bố Bangkok 8 - 8-1967 mở đầu tiến trình hợp tác ASEAN thì tuyên
bố ZOPFAn 1971 tiếp tục là một bước tiến quan trọng trong chặng đường hoàn thiện và cung cố ASEAN
Tình hình an ninh -chính tri khu vực: Hơn bốn năm sau Tuyên bố Bangkok,
ngày 27/11/1971 tại Kualar Lumpur (Malaysia) Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về khu vực Hòa bình, Tự do, Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Neutrality – gọi tắt là ZOPFAN; ZOPFAN Concept hay Tuyên bố Kualar Lumpur)
Sau thất bại Mậu Thân 1968 Nixon hứa hẹn đưa nước Mỹ “thoát ra khỏi chiến tranh Việt Nam trong danh dự”, đưa ra học thuyết Nixon – Mỹ giảm cam kết ở châu Á – Thái Bình Dương và kêu gọi các đồng minh chia sẻ trách nhiệm; Liên
Xô đưa ra đề nghị xây dựng an ninh tập thể ở châu Á, tăng cường hạm đội Thái Bình Dương v.v… làm cho chính giới và các nhà nghiên cứu chiến lược dự báo sẽ
Trang 4có “khoảng trống quyền lực” ở Đông Nam Á và phỏng đoán những thế lực có thể lấp vào “khoảng trống quyền lực” đó
Nội dung của tuyên bố:
Tuyên bố khẳng định “quyết tâm sử dụng những cố gắng cần thiết bước đầu để đảm bảo việc công nhận và tôn trọng Đông Nam Á là một khu vực Hòa bình, Tự
do và Trung lập, không có sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức và phương cách nào của các nước ngoài khu vực Các nước Đông Nam Á cần phối hợp nỗ lực nhằm
mở rộng các lĩnh vực hợp tác để góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết, mối quan hệ gắn bó hơn nữa”
Nhận xét: Tuyên bố quan trọng này đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài
của ASEAN là xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài Giúp kết hợp lực lượng của bản thân các nước Đông Nam Á để lấp khoảng trống quyền lực và kịp thời ngăn chặn các nước ngoài lợi dụng cơ hội này để can thiệp vào nền chính trị và kinh tế của các nước trong khu vực Đây là bước đi kịp thời và đúng đắn trong thời điểm an ninh chủ quyền của một tổ chức còn non trẻ Tuyên bố còn là bước đệm cho những phát triển sau này của ASEAN, củng cố thêm vị thế trên trường quốc tế
II.3 Tuyên bố Bali và Hiệp ước Bali 1976
Tình hình khu vực: Trong khu vực: Việt Nam thống và các nước Đông
Dương khác dành được độc lập Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt
là công nghệ thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ Các nước xã hội chủ nghĩa đang lâm vào khủng hoảng sâu sắc Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình và hợp tác phát triển Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế
Trong giai đoạn đầu sau khi thành lập các hoạt động của ASEAN mới chỉ
dừng lại ở mức độ tạo ra nền tảng hợp tác và khởi động cho các hoạt động hợp tác
Trang 5bằng một số hoạt động chung nhằm để giải quyết các vấn đề chính trị trong và ngoài nước Như vậy thì việc củng cố cơ cấu tổ chức và tiến lên hợp tác toàn diện
là một nhu cầu rất cần thiết Ngày 24/2/1976, tại Bali, Indonesia, nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali)
Nội dung cơ bản của hiệp ước bali
Quy định các nguyên tắc nền tảng cơ bản:
Hợp tác phát triển có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội.
Hiệp ước nhằm thúc đẩy hòa bình vĩnh viễn, tình hữu nghị và hợp tác lâu bền
giữa nhân dân các bên tham gia Hiệp ước, góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và quan hệ chặt chẽ hơn giữa các nước Đông Nam Á
Nhận xét: Thông qua Hiệp ước Bali 1976 Các nước thành viên ASEAN đã xác
lập được nguyên tắc hoạt động và hợp tác, đây là sự kiện pháp lý quan trọng làm nền tảng cho sự hợp tác và phát triển của ASEAN Theo đó, quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN bước đầu được cải thiện Hai nhóm nước bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao Hợp tác chính trị - an ninh được đặt nền móng Với mục đích xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định để cùng phát triển là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng như khu vực
II.4 Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân –
SEANWFZ 1995.
Tình hình an ninh - chính trị: Chiến tranh lạnh chính thức chấm dứt vào năm
1991 cùng với sự kiện Liên Xô sụp đổ đã đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với tình hình thế giới Trật tự hai cực Xô – Mỹ tan rã, quan hệ quốc tế dần chuyển
Trang 6từng bước từ đối đầu sang đối thoại làm nảy sinh xu thế mới trên thế giới: toàn cầu hóa, đa dạng hóa, đa phương hóa,… theo hướng linh hoạt
Toàn cầu hóa về kinh tế chiếm giữ vị trí quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, kinh tế được ưu tiên phát triển và trở thành chủ đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay Ổn định chính trị xã hội, củng cố sức mạnh quốc gia tăng cường hợp tác quốc tế
Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nhất là khu vực Đông Nam Á, từ cuối thập
kỷ 80 đầu thập kỷ 90 là một khu vực phát triển kinh tế năng động Nhóm các nước ASEAN luôn giữ được tỉ lệ tăng trưởng, Chính phủ các nước cam kết thực hiện chính sách mở cửa hội nhập hợp tác kinh tế Đối với Đông Nam Á, việc giải quyết vấn đề Campuchia chính là chìa khóa để đạt được cam kết trên
Liên Xô tan rã và phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới đã tác động đến Việt Nam: mất thành trì xã hội chủ nghĩa, mất nguồn viện trợ kinh tế và đảm bảo an ninh
Nội dung Hiệp ước: Các thành viên ASEAN đã cam kết rõ trong hiệp ước, đó
là “không phát triển, sản xuất, tìm kiếm, sở hữu hay kiểm soát vũ khí hạt nhân; không triển khai, lắp đặt, tàng trữ hoặc vận chuyển vũ khí hạt nhân bằng bất kỳ phương tiện nào” Hiệp ước cũng quy định rằng các nước ASEAN “không tiến hành thử hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân” đồng thời “không thải nguyên liệu và chất phóng xạ trên đất, xuống biển và trên không trung hoặc cho phép các nước khác làm việc đó”
Bên cạnh việc cải thiện nền kinh tế, khối cũng tập trung trên hòa bình và sự ổn định của khu vực Ngày 15 tháng 12 năm 1995, hiệp ước Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân được ký kết với mục tiêu biến Đông Nam Á trở thành vùng không vũ khí hạt nhân
Nhận xét sự phù hợp trong tiến trình hợp tác chính trị - an ninh: Trong bối
cảnh “phi hạt nhân hóa” khu vực ASEAN đang được các quốc gia đặc biệt quan
Trang 7tâm, SEANWFZ đã và đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai kế hoạch hành động tăng cường hiệp ước SEANWFZ, trong đó việc tích cực tham vấn và thúc đẩy sự ủng
hộ của các quốc gia có vũ khí hạt nhân đối với hiệp ước này, vấn đề vũ khí hạt nhân được các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn
đa phương về các vấn đề liên quan đến giải pháp vũ khí hạt nhân, không phổ biến
vũ khí hạt nhân và việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình Tin tưởng rằng việc thiết lập một khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, một nhân tố thiết yếu của khu vực hòa bình, tự do sẽ góp phần vào việc củng cố an ninh của các quốc gia trong khu vực và tăng cường hòa bình an ninh quốc tế
Để tăng cường hiệu lực của SEANWFZ, ASEAN đã tiến hành tham vấn để các nước có vũ khí hạt nhân tham gia nghị định thư của hiệp ước SEANWFZ nhằm thể hiện cam kết tôn trọng của các nước này đối với hiệp ước
2.5 Tuyên bố Bali II 2003.
Tình hình an ninh – chính trị: Hội nghị cấp cao ASEAN 9 diễn ra trong bối
cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, nổi bật là cuộc chiến Iraq, nguy cơ khủng bố ở khu vực, sự bùng phát của dịch SARS
Trước tình hình đó, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đi đến nhận thức chung là cần phải tăng cường đoàn kết và hợp tác trên mọi lĩnh vực, đồng thời mở rộng hợp tác với bên ngoài để vượt qua khó khăn và liên tục phát triển Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN (Bali II) được thông qua
Nội dung của tuyên bố: tuyên bố Ba li II một mặt giữ vững các nguyên tắc cơ
bản của ASEAN: Độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, đồng thuận và giải quyết hoà bình mọi tranh chấp, đồng thời đề ra những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ASEAN qua việc xây dựng cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột chính: Hợp tác chính trị - an ninh, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hoá - xã hội nhằm hiện thực hoá Tầm nhìn ASEAN 2020 Đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực
Trang 8Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II đề ra khuôn khổ cho việc hình thành Cộng đồng
ASEAN, trong đó có Cộng đồng An ninh ASEAN (APSC), hướng tới mục tiêu nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên một tầm cao mới và khẳng định xây dựng ASC dựa trên các nền tảng cơ bản như:
+ Thúc đẩy khái niệm an ninh toàn diện, trong đó nhấn mạnh Cộng đồng An ninh sẽ bao trùm tất cả các khía cạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội; nhấn mạnh ASC không nhằm hình thành một khối quân sự hoặc liên minh quân sự hay hướng tới một chính sách đối ngoại chung;
+ Tôn trọng các nguyên tắc chủ đạo của ASEAN như không can thiệp, ra quyết định bằng đồng thuận, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không đe dọa sử dụng
vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp…;
+ Tiếp tục đề cao và phát huy các cơ chế và công cụ sẵn có của ASEAN về hợp tác chính trị-an ninh như Tuyên bố ZOPFAN, Hiệp ước TAC, Hiệp ước SEANWFZ, Diễn đàn ARF…
+ APSC sẽ phát triển theo một quá trình tiệm tiến, với tốc độ phù hợp với tất
cả các bên;
+ APSC sẽ là một cộng đồng rộng mở, ASEAN sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước bè bạn và các bên Đối tác nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực;
+ Xác định các thành tố cơ bản cấu thành APSC gồm: xây dựng các chuẩn mực; ngăn ngừa xung đột; các cách tiếp cận để giải quyết xung đột, và kiến tạo hòa bình sau xung đột
Nhận xét về sự phù hợp trong tiến trình hợp tác an ninh – chính trị: Sự ra
đời của tuyên bố Bali II cùng các văn kiện khác đã đánh dấu bước chuyển mình trong hợp tác an ninh chính trị nói chung và trong lĩnh vực hình thành, chia sẻ chuẩn mực nói riêng khi APSC được chính thức ghi nhận, tiếp đó các nước ASEAN cùng nhau đề ra các chương trình, biện pháp, lộ trình cụ thể để tiến hành hoạt dộng xây dựng và chia sẻ chuẩn mực Một số chương trình hợp tác trong lĩnh vực này như: điều chình khuôn khổ thể chế ASEAN phù hợp với Hiến Chương
Trang 9thông qua các biện pháp, bao gồm chuẩn bị và thực hiện một chương trình làm việc chuyển tiếp trong trường hợp cần thiết phải cải cách các thiết chế cho phù hợp với Hiến Chương, xây dựng các nghị định thư hoặc các Hiệp định bổ sung, bao gồm các điều khoản chỉ dẫn, các quy định về thủ tục trong trường hợp cần thiết để thực hiện Hiến chương; hợp tác trong việc thực hiện kế hoạch hành động và xây dựng những chương trình cụ thể thực hiện kế hoạch, tăng cường hợp tác hàng hải giữa các nước ASEAN như thiết lập Diễn đàn hàng hải ASEAN; hợp tác toàn diện trong đó nhấn mạnh vào vấn đề an toàn hàng hải và an ninh khu vực là mối quan tâm chung của cộng đồng ASEAN
2.6 Hiến chương ASEAN 2007.
Tình hình an ninh – chính trị: Trong bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, quan
hệ chính trị an ninh giữa nhiều quốc gia trở nên căng thẳng cụ thể là quan hệ giữa
Mỹ và Irac xung quanh vấn đề hạt nhân Khủng hoảng trong quan hệ Nga – Mỹ, Nga – Phương Tây liên quan đến vấn đề phòng thủ tên lửa ở Đông Âu Cũng như cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan sau khi thủ tướng Thaksin Sinawatra bị lật đổ,…
Được đánh giá là mộ trong những tổ chức khu vực thành công nhất, ASEAN đã
có những đóng góp tích cực cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác
và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương Trên nền tảng của thành công đó, ASEAN đã xác định mục tiêu phát triển cao hơn trong giai đoạn mới là xây dựng một cộng đồng ASEAN vững mạnh trên ba trụ cột là chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội vào năm 2015 Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, ASEAN sẽ phải khắc phục triệt để những hạn chế, khiếm khuyết đã tồn tại hơn 40 năm qua như: thiếu một khung pháp lý chặt chẽ, chưa có
tư cách pháp nhân, các hoạt động hợp tác còn lỏng lẻo, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động chưa hiệu quả, Chính vì lẽ đó, Hiến Chương ASEAN mới được xây dựng
Nội dung của Hiến chương: Là sự tổng hợp và hệ thống hóa có phát triển
thêm những nguyên tắc, mục đích, thỏa thuận trong các văn kiện đã có của
Trang 10ASEAN Điều quan trọng là Hiến chương khẳng định lại tình chất của ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ, chứ không phải là một tổ chức siêu quốc gia như EU
Hiến chương, về cơ bản, giữ các nguyên tắc chủ đạo và phương thức hoạt động của ASEAN, nhất là: không can thiệp vào công việc nội bộ, thâm vấn và ra quyết định bằng đồng thuận,… Nhưng điểm mới đáng chú nhất của hiến chương là tạo
ra khung pháp lý và khuôn khổ thể chế mới của ASEAN, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội và thiết thực hỗ trợ mục tiêu xây dựng Cộng đồng và liên kết ASEAN
Về tổ chức bộ máy, các cơ quan của ASEAN sẽ được sắp xếp theo mô hình hướng về 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN, với Hội nghị Cấp cao là cơ chế quyết định cao nhất (từ nay, sẽ họp thường kỳ hai năm một lần) Tiếp đó, đáng chú ý là:
Ba Hội đồng (cấp Bộ trưởng) về Cộng đồng Chính trị-an ninh, Kinh tế và Văn hoá-Xã hội, Hội đồng Điều phối (gồm các Ngoại trưởng); lập thêm Ủy ban các Đại diện thường trực (cấp Đại sứ) của các nước ASEAN đặt tại Jakarta, Indonesia; Tăng cường vai trò của Tổng Thư ký và Ban Thư ký ASEAN; Cơ quan Nhân quyền ASEAN; Ban Thư ký Quốc gia ASEAN
Nhận xét sự phù hợp của tiến trình hợp tác chính trị - an ninh : Hiến
chương ra đời đã tạo ra “chiếc áo mới” cho quan hệ hợp tác chính chị an – ninh giữa các quốc gia ASEAN, nâng cấp lên một mức độ liên kết cao hơn (mức độ liên kết cộng đồng) Theo đó, Hiến chương đã ghi nhận cụ thể hợp tác chính trị - an ninh là một trong ba trụ cột chính của ASEAN, ASEAN sẽ hoạt động trên một khung pháp lý vững vàng, trở thành một tổ chức hoạt động trên các quy tắc pháp lý; các thỏa thuận, quyết định sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc hơn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác ASEAN, đảm bảo yêu cầu giải quyết tình hình chính trị- an ninh bất ổn hiện tại cũng như trong tương lai
2.7 Kế hoạch tổng thể xây dựng APSC 2009.
Tình hình an ninh – chính trị: an ninh – chính trị tại một số các quốc gia
trong ASEAN có nhiều bất ổn Cụ thể, Cuộc đối đầu giữa Thái Lan và Campuchia