những người nhìn kém thì môi trường cần thiết với họ là đảm bảo đủánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cungcấp thiết bị phóng đại hình ảnh.+
Trang 1B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I – Khái quát chung về người khuyết tật
1, Định nghĩa về người khuyết tật
Định nghĩa người khuyết tật dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phảnánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc conngười khi tham gia vào mọi hoạt đông kinh tế, chính trị, xã hội Họ phải được đảm bảo rằng
họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động đời sống như bất cứ công dân nàovới tư cách là các quyền của con người Với tư cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩakhái niệm người khyết tật như sau:
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với chủ thể khác.
2, Đặc điểm của người khuyết tật
Thứ nhất, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội
Người khuyết tật cũng là con người vì vậy, họ mang những đặc điểm chung như tất cảmọi người khác, họ có đầy đủ các quyền trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, donhững khiếm khuyết do tình trạng khuyết tật gây ra nên, người khuyết tật phải gánh chịu rấtnhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống: khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khókhăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáodục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội
Để khắc phục những khó khăn này, người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp
Trang 2đỡ chính với họ Những khó khăn ngày càng trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộngđồng đối với người khuyết tật.
Quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu cực, dẫn đến sự kỳ thị và phân biệtđối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau Trong cộng đồng,
nhiều dân cư coi người khuyết tật là “đáng thương”, không có cuộc sống “bình thường”, là
“gánh nặng” của xã hội Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết đến quy định
của pháp luật về người khuyết tật Từ đó, dẫn đến sự kì thị, phân biệt đối xử và nó diễn ra ởnhiều nơi, nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạtđộng xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính người khuyết tật
Hoạt động hỗ trợ người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt lớngiữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họ nhận được Sự hỗ trợ của nhànước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người Hầu hết ngườikhuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực nhưng lại ít được trợgiúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt động xã hội
Thứ hai, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật.
Luật người khuyết tật Việt Nam quy định các dạng khuyết tật bao gồm:
+ Khuyết tật vận động: là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện
dễ nhận thấy là khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm nắm Do đó, người khuyết tật vậnđộng gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động Ngườikhuyết tật vận động cần được sự hỗ trợ về phương tiện đi lại và đặc biệt là không gian cầnthiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển
+ Khuyết tật nghe, nói: Người khuyết tật nghe, nói là người có khó khăn đáng kể vềnói và nghe, dẫn đến hạn chế về đọc, viết, từ đó dẫn đến những hạn chế trong sinh hoạt, làmviệc, học tập, hòa nhập cộng đồng Để giảm bớt khó khăn, họ cần dùng phương tiện trợ giúp,ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp tổng hợp Người khuyết tật nghe, nói thường rất khó khăntrong việc thể hiện ngôn ngữ và tiếp nhận thông tin từ cộng đồng, bởi ngôn ngữ của họ làngôn ngữ kí hiệu
+ Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): là những người có tật về mắt làmcho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng Họ có hai giác quan thường rất phát triển:thính giác và xúc giác Đối với người khiếm thị công cụ hỗ trợ di chuyển là chiếc gậy trắng
Trang 3(hoặc các loại gậy thông thường) chữ nổi Braille, các công cụ hỗ trợ thông minh, lối đi thuậntiện và dễ nhận biết những người nhìn kém thì môi trường cần thiết với họ là đảm bảo đủánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cungcấp thiết bị phóng đại hình ảnh.
+ Khuyết tật trí tuệ được xác định khi: chức năng trí tuệ ở dưới mức trung bình (chỉ sốthông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân); bị thiếuhụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chămsóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự địnhhướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; Tật xuất hiện trước 18tuổi Người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thườngcủa họ và người thân cả về trí tuệ, trí nhớ, về chú ý, về kỹ năng giao tiếp xã hội; cuối cùng là
Sau khi Luật NKT được ra đời, các quy định sau đó đã được hoàn thiện hơn với nhữngnghị định, chỉ thị từ cơ quan nhà nước Nhà chung cư và việc sử dụng các công trình côngcộng, dịch vụ đối với NKT cũng được đặc biệt chú trọng quan tâm
Đầu tiên, quy định về nhà chung cư và dịch vụ công cộng cho người khuyết tật đượcquy định tại Điều 39, 40 Luật người khuyết tật như sau:
“Điều 39 Nhà chung cư và công trình công cộng
1 Việc phê duyệt thiết kế, xây dựng, nghiệm thu công trình xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp nhà chung cư, trụ sở làm việc và công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã
Trang 4hội phải tuân thủ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng để bảo đảm người khuyết tật tiếp cận.
2 Nhà chung cư, trụ sở làm việc và công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công trình
hạ tầng xã hội được xây dựng trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật phải được cải tạo, nâng cấp để bảo đảm điều kiện tiếp cận theo lộ trình quy định tại Điều 40 của Luật này.”
Điều 40 quy định về lộ trình cải tạo nhà chung cư, công trình công cộng như sau:
“1 Đến ngày 01 tháng 01 năm 2020, các công trình công cộng sau đây phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật:
a) Trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
b) Nhà ga, bến xe, bến tàu;
c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Cơ sở giáo dục, dạy nghề;
đ) Công trình văn hóa, thể dục, thể thao.
2 Đến ngày 01 tháng 01 năm 2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc, công trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công trình hạ tầng xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.
3 Chính phủ quy định chi tiết việc thực hiện lộ trình cải tạo đối với từng loại công trình quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.
Tiếp đó, Nghị định Nghị định 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật người khuyết tật cũngquy định về vấn đề này, theo đó:
“Điều 13 Thực hiện lộ trình cải tạo nhà chung cư, công trình công cộng
1 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, tổ chức và cá nhân sở hữu, quản lý, khai thác sử dụng công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư; công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội khác có trách nhiệm rà soát, xây dựng kế hoạch và bảo đảm điều kiện để thực hiện cải tạo điều kiện tiếp cận đối với NKT theo lộ trình sau đây:
Trang 5a) Đến năm 2015 có ít nhất 50% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với NKT;
b) Đến năm 2017 có ít nhất 75% trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật;
c) Đến ngày 01 tháng 01 năm 2020 tất cả trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà
ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với NKT;
d) Đến ngày 01 tháng 01 năm 2025, tất cả trụ sở làm việc; nhà chung cư; công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội khác chưa quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật.
2 Kinh phí thực hiện quy định tại Khoản 1 Điều này do cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, quản lý, khai thác sử dụng tự bố trí, huy động thực hiện.
3 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành liên quan rà soát, thống kê đánh giá thực trạng nhà chung cư; công trình công cộng chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với NKT theo từng loại công trình, hướng dẫn phương pháp, chỉ tiêu giám sát đánh giá việc thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng”.
Nhằm đảm bảo các công trình xây dựng nói chung, nhà chung cư và công trình côngcộng nói riêng có đủ điều kiện để NKT có thể sử dụng, nghĩa là công trình đó tạo dựng đượcmột môi trường kiến trúc mà NKT có thể đến và sử dụng các không gian chức năng trongcông trình, Bộ Xây dựng đã ban hành Bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình TheoTiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (TCXDVN 266:2002), khi xây mới các loại nhà ở phải bảođảm cho người khuyết tật vận động và khiếm thị tiếp cận sử dụng, đồng thời khuyến khích ápdụng cho việc cải tạo, nâng cấp các khu nhà ở cũ có tính đến nhu cầu sử dụng của NKT Cụthể như sau:
* Nhà ở để bảo đảm cho NKT sử dụng được đặt ở các vị trí ưu tiên sau:
- Có vị trí thuận lợi về giao thông, dễ đến cho NKT
- Gần những nơi có công viên, cây xanh, đường đi dạo
Trang 6- Gần các trung tâm dịch vụ thương mại, dịch vụ công cộng, gần trung tâm chăm sócsức khỏe.
- Trong các khu ở phải thiết kế đường và hè thuận lợi cho NKT sử dụng Tất cả lối vàonhà ở phải làm đường dốc, vệt dốc lên vỉa hè cho xe lăn của NKT
- Trong khu nhà ở phải có biển báo, biển chỉ dẫn cho NKT
* Bãi để xe và điểm chờ xe:
- Bãi để xe phải bố trí chỗ để xe cho NKT, cứ 100 xe thì phải có 2 đến 3 chỗ để xe choNKT Chỗ để xe cho NKT phải được đặt ngay tại đường dốc hoặc lối ra vào của ngôi nhà vàphải có biển báo hoặc chỉ dẫn
- Bên cạnh chỗ đỗ xe phải có khoảng không gian thông thủy để NKT đi xe lăn lên vàxuống Chiều rộng từ 0,9m đến 1,2m, với xe buýt chiều rộng phải là 2,5m
- Tại các điểm chờ xe phải thiết kế vệt dốc hay đường dốc bảo đảm cho NKT đến đượccác phương tiện giao thông và phải được chiếu sáng tối thiểu là 54lux và có mái che
- Khi thiết kế đường dốc ở lối ra vào nhà ở, phải bảo đảm NKT không gặp sự thay đổiđột ngột về độ cao, nếu có sự thay đổi độ cao phải thiết kế đường dốc và đường dốc này phảibảo đảm phẳng, không gồ ghề, có độ nhám Chiều rộng của đường không được nhỏ hơn 1m.Hai bên đường dốc phải bố trí tay vịn Đường dốc cho người khiếm thị có lan can phụ làmthấp, có tấm lát dẫn hướng và đánh dấu vị trí dẫn tới đỉnh của đường dốc, chiếu nghỉ, chiếuđợi
- Nếu không thể thiết kế đường dốc thì phải thiết kế lối ra vào có bậc thuận tiện chongười đi lại khó khăn như người chống nạng, chống gậy và người khiếm thị, lối ra vào có bậcphải bảo đảm những yêu cầu sau: chiều cao bậc cho phép từ 0,1m đến 0,16m, bề rộng bậccho phép 0,25m đến 0,4m, không dùng bậc thang hở, phải bố trí chiếu nghỉ ở bậc phía trêncùng Nếu bậc thềm quá 3 bậc thì phải bố trí tay vịn
* Sảnh:
- Sảnh phải có kích thước đủ rộng để xe lăn dịch chuyển, đường kính 1,3m Tiền sảnhtối thiểu rộng 2,3m x 2,5m Kích thước giữa hai lớp cửa là 2,5m
- Nhà chung cư phải có biển báo, biển chỉ dẫn cho NKT ở sảnh
* Hành lang, lối đi:
Trang 7- Chiều rộng thông thủy của hành lang được lấy như sau: Nếu một xe lăn đi qua, khôngnhỏ hơn 1m Nếu một xe lăn đi qua và một người đi ngược chiều, không nhỏ hơn 1,5m Hai
xe lăn đi qua, không nhỏ hơn 1,8m
- Tại chỗ hành lang đổi hướng thì hành lang phải rộng 0,9m và nếu có cửa thì phải rộng1,2m Phải bố trí tay vịn ở hai bên hành lang ở độ cao 0,9m Góc quay ở những chỗ rẽ nên làmặt tường vòng cung hoặc mặt tường vuông góc
* Cầu thang, bậc lên xuống:
- Trong nhà chung cư được quy định như sau: không dùng cầu thang hình vòng cung,xoắn ốc, chiều rộng cầu thang không nên nhỏ hơn 1,2m Mặt bậc thang phải không trơn trượt
và không làm mũi bậc có hình vuông Không dùng cầu thang loại bậc hở Chiều cao của mộtđợt thang không được lớn hơn 1,8m và phải bố trí chiếu nghỉ Chiều rộng chiếu nghỉ khôngnhỏ hơn 0,8m Khoảng cách giữa mặt trên tay vịn với mặt bậc thang đầu tiên và mặt dốc phíacuối không được lớn hơn 1m theo chiều thẳng đứng Nếu nhà ở không có thang máy, phải có
hệ thống nâng hoặc hạ xuống bằng các thiết bị chuyên dụng gắn vào lan can hoặc ròng rọc.Hai bên cầu thang đặt tay vịn cao 0,9m
* Thang máy
Thang máy là giải pháp giao thông chiều thẳng đứng tốt nhất cho người khuyết tật(NKT) Bảng điều khiển trong buồng thang máy được lắp đặt ở độ cao không quá 1,2m vàkhông thấp hơn 0,9m tính từ mặt sàn thang máy đến tâm nút điều khiển cao nhất Trên cácnút điều khiển phải có các ký tự hoặc tín hiệu cảm nhận được từ xúc giác và hệ thống chữ nổiBrain dành cho người khiếm thị Nút điều khiển trước cửa buồng thang máy được lắp đặt ở
độ cao không quá 1,2m và không thấp hơn 0,9m so với mặt sàn Các nút điều khiển đặt ở mặttường bên, cách mặt tường liền kề 0,3m đến 0,5m Các ký tự nổi và hệ chữ Brain được đặtngay bên trái nút mà chúng ký hiệu
* Lối thoát nạn
Trong nhà ở nhất thiết phải có lối thoát nạn cho NKT khi gặp sự cố Trên đường thoátnạn phải có chỗ dành cho NKT ở cùng một độ cao và đầu đường thoát nạn phải có cầu thangbộ
* Cửa đi
Trang 8- Cửa đi trong nhà ở thiết kế bảo đảm cho NKT sử dụng, không gây cản trở nguy hiểm,
dễ đóng mở và phải được bố trí ở những nơi đi lại thuận tiện và an toàn
- Với loại cửa đóng mở tự động cũng phải bảo đảm chiều rộng thông thủy không nhỏhơn 0,8m Trên các cửa tự động phải có biển chỉ dẫn, đồng thời có bề mặt tiếp xúc ở cả haimặt cửa để báo hiệu và có tín hiệu âm thanh báo khi đã đi qua cửa cho những người khiếmthị
- Các phụ kiện của cửa như tay nắm, tay kéo, ổ khóa, khóa và những chi tiết khác trêncửa cần bảo đảm cho NKT sử dụng Những phụ kiện này được lắp đặt ở độ cao cách mặt sànhay mặt đất từ 0,8m đến 1,2m Đối với loại cửa trượt, các phụ kiện cửa phải sử dụng được từ
cả hai phía
- Cửa ra vào để người khiếm thị sử dụng, điểm khởi đầu và điểm kết thúc của bậc thềm
và trước cửa thang máy, nên lát tấm lát có cảm giác để nhắc nhở
* Cửa sổ, ban công, logia
- Cửa sổ thiết kế phải bảo đảm an toàn cho NKT Chiều rộng cửa sổ không nhỏ hơn1,2m Bậu cửa sổ đặt ở độ cao cách mặt sàn không lớn hơn 0,7m
- Cửa sổ trong các buồng, phòng phải bố trí để người ngồi xe lăn có thể quan sát ra bênngoài một cách thoải mái Góc nhìn khi ngồi xe lăn giới hạn từ 27o đến 30o
- Ban công và logia trong nhà phải có chiều rộng không nhỏ hơn 1,4m để xe lăn có thểquay được Chiều cao lan can tại ban công, logia không nhỏ hơn 1m
* Tay vịn
Tay vịn phải dễ nắm và được liên kết chắc chắn với tường Nên dùng tay vịn trònđường kính từ 25mm đến 50mm và được lắp đặt ở độ cao 0,9m so với mặt sàn Đối với ngườingồi xe lăn, khoảng cách từ mặt sàn đến tay vịn là 0,75m
III - Thực hiện các quy định về nhà chung cư và sử dụng các công trình, dịch vụ công cộng đối với người khuyết tật trên địa bàn Hà Nội.
1, Thành tựu đạt được
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội đã và đang xây dựng cũng như cải tạo nhiềucông trình nhà chung cư, các công trình dịch vụ công cộng đáp ứng tiêu chuẩn để ngườikhuyết tật có thể dễ dàng tiếp cận Thực hiện quy định pháp luật, trong những năm qua cácquận, huyện, cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đã có những cố gắng vượt bậc
Trang 9trong việc bảo đảm điều kiện tiếp cận công trình công cộng đối với người khuyết tật, như:ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng công trình công cộng bảo đảm cho người khuyết tậttiếp cận; cải tạo, sửa chữa các công trình công cộng chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận BộXây dựng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho các đơn vị trong ngành và các đơn vị liên quantại Hà Nội sau khi ban hành qui chuẩn Hai năm qua cho thấy ý thức tiếp cận của các nhàquản lý xây dựng, nhà đầu tư, tư vấn, nhà thầu xây dựng đã được nâng lên Ở các đô thị lớntại Hà Nội, nhiều công trình công cộng mới được xây dựng đảm bảo các qui định Có thểthấy điều này ở các sân vận động, nhà thi đấu phục vụ SEA Games 22, khách sạn, trụ sở hànhchính, nhà văn hóa…
Chúng ta có thể nhận thấy những thiết kế thuận lợi cho người khuyết tật tại các khu nhàchung cư trên địa bàn Hà Nội thông qua các hình ảnh sau:
Nhà chung cư có lối đi dành cho người khuyết tật
Lối đi có tay vịn cho người khuyết tật
Trang 10Đặc biệt, ở một số trung tâm thương mại - dịch vụ trên địa bàn Hà Nội đã xây dựngnhững công trình vệ sinh khá thuận tiện để người khuyết tật có thể sử dụng:
Trên đây là một số hình ảnh về các thiết kế nhà vệ sinh dành cho người khuyết tật ở HàNội Với lối đi rộng, có tay vịn đây là thiết kế khá hoàn thiện để người khuyết tật có thể sửdụng một cách dễ dàng
2, Hạn chế
Tuy nhiên ở Hà Nội, việc xây dựng các công trình nhà chung cư và công trình dịch vụcông cộng dành cho người khuyết tật vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế, đó là:
Thứ nhất, tại Hà Nội số lượng những công trình nhà chung cư và công trình dịch vụ
công cộng cho người khuyết tật vẫn còn rất ít Theo khảo sát mới được tổ chức người khuyếttật quốc tế công bố chỉ 11% trong 137 công trình công cộng tại quận Hoàn Kiếm và Ba Đình(Hà Nội) người khuyết tật có thể sử dụng được thuận tiện Có thể thấy, đây là một khó khănrất lớn mà người khuyết tật đã và đang phải đối diện
Nhiều tòa nhà cao tầng, chung cư mới chưa được các chủ đầu tư quan tâm, xây dựngcác hạng mục hỗ trợ NKT Các khu văn phòng, tòa nhà tại Hà Nội mặc dù mới được xây
Trang 11dựng nhưng cũng không thấy bóng dáng nhà vệ sinh, lối đi riêng cho NKT Muốn lên đượccác tầng cao, nhiều người khiếm thị phải vất vả vượt qua những bậc thang ở tiền sảnh để vàođược thang máy Những người đi xe lăn nếu không có sự trợ giúp của người thân thì đànhchịu thua.
+ Thứ hai, vỉa hè Hà Nội chưa thuận tiện cho người khuyết tật Ở nhiều nước trên thế
giới, vỉa hè được thiết kế không chỉ thuận tiện cho người bình thường mà còn hỗ trợ cả chongười khuyết tật đi lại dễ dàng Tuy nhiên, hiện nay ở Hà Nội vẫn còn một số tuyến phố đượcthiết kế chưa thực sự thuận tiện cho người khuyết tật
Ví dụ đầu tiên đó là phố Liễu Giai, đây là một trong rất ít những phố ở Hà Nội đượccông nhận là đẹp nhất thủ đô Hầu như các đường phố tiếp giáp với phố này đều có thiết kếhiện đại Lòng đường được phân làn cho ôtô, xe máy, xe đạp tham gia giao thông một cáchkhá thuận tiện Nhưng hạ tầng cơ sở của các phố này đều chưa phù hợp với người cao tuổi,các cháu nhỏ và nhất là người khuyết tật sử dụng xe lăn
Đến tuyến phố này, rất dễ nhận thấy hai bên vỉa hè phố Liễu Giai đều tương đối cao sovới mặt đường Các lối lên xuống lại có bó vỉa hè hạ chìm vẫn cao hơn 2cm so với mặtđường và đường lên dốc chưa đủ độ thoai thoải giúp người khuyết tật sử dụng xe lăn lênxuống dễ dàng Các điểm dừng xe buýt, các lối đi qua đường dành cho người đi bộ cũng hầunhư chưa có lối lên vỉa hè đủ bề rộng 1,2m theo tiêu chuẩn
Đường dành cho người mù đi bộ trên vỉa hè phố Văn Cao - Hà Nội lát sai quy cách với đường gồ đặt nằm ngang (hình trái) Lối đi bộ trên vỉa hè dành cho người mù tại Bắc Kinh