1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành

10 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 35,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành Về tổ chức bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp năm 1992, quan điểm cơ bản đã được khẳng định là:

Trang 1

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1

I Khái quát về chủ tịch nước 1

II Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành 2

1 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội… 3

2 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ 5

3 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao 6

4 Đánh giá mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành 8

KẾT LUẬN 8 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Bộ máy nhà nước ta là một hệ thống các cơ quan có mối quan hệ mật thiết với nhau theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Do vậy, Chủ tịch nước - một trong những cơ quan quan trọng hàng đầu trong bộ máy nhà nướcmuốn hoàn thành tốt vai trò, trách nhiệm của mình thì phải gắn bó chặt chẽ với các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là với các cơ quan

nhà nước ở trung ương Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Mối

quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành” cho bài tập lớn của mình

NỘI DUNG

I Khái quát về chủ tịch nước

Trong hệ thống bộ máy nhà nước của các nước hiện đại hầu như đều có một thiết chế đặc biệt với những tên gọi khác nhau như: Vua, Hoàng đế, Tổng thống, Đoàn chủ tịch, Hội đồng liên bang, Hội đồng nhà nước, Chủ tịch nước Những cơ cấu này cũng có vị trí rất khác nhau trong bộ máy nhà nước ở từng nước nhưng đều

có một quy định chung là Nguyên thủ Quốc gia – Người đứng đầu Nhà nước, đại diện nhà nước về đối nội và đối ngoại

Trong cơ chế nhà nước ta, thiết chế nguyên thủ quốc gia được tổ chức khác nhau qua các bản Hiến pháp Ở Hiến pháp năm 1946 và 1959 là Chủ tịch nước Đến Hiến pháp năm 1980 là Hội đồng nhà nước, và hiện nay,tại Hiến pháp năm

1992 trở lại hình thức Chủ tịch nước Sự hiện diện trở lại thiết chế Chủ tịch nước cá nhân vừa tiếp thu những ưu điểm của mô hình lần trước, vừa giữ được sự gắn bó

Trang 3

giữa Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện các chức năng Nguyên thủ quốc gia vừa đảm bảo sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ cấu trong bộ máy nhà nước

Tại Điều 101 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định vị trí, tính chất của Chủ tịch

nước: “Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại”

Về trật tự hình thành: Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm, khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu Chủ tịch nước mới

Chủ tịch nước được trao quyền hạn rộng lớn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Xét trên nhiều phương diện, Chủ tịch nước là cơ quan có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phối hợp thống nhất giữa các

cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước

II Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành

Về tổ chức bộ máy Nhà nước trong Hiến pháp năm 1992, quan điểm cơ bản đã được khẳng định là: Toàn bộ quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội, và có sự phân công phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lực chức năng, quyền hạn của mình với sự phối hợp chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền

lực Nhà nước Cùng với quy định “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước”

(Điều 101 Hiến pháp năm 1992), các quy định khác về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toàn án nhân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể hiện rõ quan điểm đó, cụ thể là:

1 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 4

Theo điều 83 Hiến pháp năm 1992: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của

nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Mà “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp năm 1992) Cho nên, để

thực hiện tốt các chức năng là người đứng đầu của mình, giữa Chủ tịch nước và Quốc hội có mối quan hệ đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với nhau, biểu hiệu cụ thể như sau:

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội theo sự giới thiệu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, với nhiệm kỳ như nhiệm kỳ của Quốc hội; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội (Điều 102 Hiến pháp năm 1992) Quy định này nhằm đảm bảo sự gắn bó và tính trách nhiệm của Chủ tịch nước trước Quốc hội

Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước thì cũng có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệmChủ tịch nước (Khoản 7 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001) Điều này được áp dụng khi Chủ tịch nước mắc sai phạm, có lỗi thiếu trách nhiệm gây ra ảnh hưởng lớn đến quốc gia, hoặc vì lý do sức khỏe… Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước (Khoản 6 Điều 84 Hiến pháp năm 1992), đồng thời có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội (Khoản 9 Điều 84 Hiến Pháp 1992)

Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên hội đồng quốc phòng và an ninh (Khoản 7 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001)

Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 1992)

Trang 5

Trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ được phê chuẩn bởi Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 1994)

Chủ tịch nước có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành Chủ tịch nước công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh (Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 1992)

Ví dụ: Ngày 12/12/3013, văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố 8

Luật và 1 pháp lệnh (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng; Luật việc làm; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy; Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Luật tiếp công dân; Luật đấu thầu; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật đất đai; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ) vừa được Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua

Ngoài ra, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Chủ tịch nước còn công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội Hiện tại, quyền này của Chủ tịch nước chưa được quy định trong Hiến pháp mà chi được quy định tại Điều 57 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Ví dụ: Ngày 9/12/2013, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết của Quốc hội quy định một số điểm thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11 Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hộiđể công bốquyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ralệnh tổng động

Trang 6

viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương (Khoản 5, Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 1992)

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp, trong trường hợp cần điểu tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản (Điểu 98 Hiến pháp năm 1992)

Theo Điều 105 Hiến pháp năm 1992: “Chủ tịch nước có quyền tham dự các

phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội” Quy định này nhằm mục đích tạo điều

kiện để Chủ tịch nước theo sát được ý kiến của tập thể Ủy ban thường vụ Quốc hội khi thảo luật và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định:

Chủ tịch nước có quyền “ Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp

lệnh trong thời hạn 10 ngày từ ngày pháp lệnh đó được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất”.

Những quy định trên cho thấy tính phái sinh gắn bó giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội Tuy hiện nay Chủ tịch nước được tách thành một thiết chế riêng nhưng vẫn nghiêng về phía Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với Quốc hội

2 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ

Theo Điều 109 Hiến pháp năm 1992: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của

Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Cho nên với chức năng đại diện cho nhà nước, Chủ tịch nước

phải có mối quan hệ mật thiết với Chính phủ, góp phần tạo nên sự thống nhất và phân công giữa các cơ quan với nhau Điều này được thể hiện như sau:

Tại Điều 103 Hiến pháp năm 1992 quy định như sau:

Trang 7

- Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ (Khoản 3)

- Chủ tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ (Khoản

4, sửa đổi bổ sung năm 2001) Trong thời gian Quốc hội không họp Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước quyết định tạm đình chỉ công tác của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (Khoản 3 Điều 20 Luật tổ chức Chính phủ)

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch nước (Điều 109 Hiến pháp năm 1992).Hàng quý, sáu tháng, Chính phủ gửi báo cáo công tác của Chính phủ đến Chủ tịch nước (Điều 38 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001)

Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự phiên họp của Chính phủ; trình Chủ tịch nước quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước; (Điều 38 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001) Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ (Điều 105 Hiến pháp năm 1992)

Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện những quyết định của Chủ tịch nước (Khoản 1 Điểu 20 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001)

Nhìn chung, mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ đã thể hiện rõ sự tăng cường vai trò của Chủ tịch nước đối với bộ máy hành pháp, đồng thời thấy được sự phối hợp gắn bó giữa Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ

3 Quan hệ giữa Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Theo Hiến pháp năm 1992, tại Điều 134 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao

là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân địa phương và các Tòa án quân sự Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt

Trang 8

và các tòa án khác… ”; Điều 137: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Quan hệ giữa Chủ tịch

nước với hai cơ quan trên cũng là mối quan hệ quan trọng Theo các quy định của pháp luật hiện hành, mối quan hệ đó biểu hiện như sau:

Điều 103 Hiến pháp năm 1992 quy định:

- Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 3)

- Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Khoản 8)

Trong thời gian Quốc hội không họp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước (Điều 16, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002); Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm

và báo cáo công tác trước Chủ tịch nước (Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002)

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về những trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình (Khoản 6 Điều 33 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; Khoản 4 Điều 25 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002) Chủ tịch nước bằng quyết định của mình, thành lập Hội đồng đặc xá để tham mưu, tư vấn giúp Chủ tịch nước trong việc xem xét quyết định đặc xá Hội đồng đó có sự tham gia của các cấp lãnh đạo của cơ quan tư pháp, cơ quan bảo vệ pháp luật

Trang 9

Ví dụ: Theo quy định số 697/2010/QĐ-CTN của Chủ tịch nước, Tòa án nhân

dân tối cao có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn và tập hợp hồ sơ, danh sách người đang được hoãn, đình chỉ chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá nhằm thực hiện chủ trương “đặc xá rộng rãi vì 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”

Như vậy, pháp luật hiện hành quy định mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đã góp phần đảm bảo cho Chủ tịch nước liên kiết, phối hợp với tất cả các cơ quan trong cơ chế nhà nước

4 Đánh giá mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành

Từ sự phân tích trên ta có thể thấy Chủ tịch nước ta hiện nay nghiêng về cơ quan lập pháp hơn hành pháp, tư pháp, hay nói cách khác, Chủ tịch nước nghiêng

về phía Quốc hội, gắn bó mật thiết với Quốc hội Nhìn chung, vị trí, vai trò, thẩm quyền và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo pháp luật hiện hành về cơ bản là phù hợp

KẾT LUẬN

Qua sự phân tích trên đây, ta thấy được tầm quan trọng của Chủ tịch nước Việt Nam trong bộ máy nhà nước cũng như mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt không thể tách rời giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương Vì vậy, để củng cố bộ máy nhà nước và đạt hiệu quả cao trong công việc quản lý nhà nước cần phải làm cho thể chế Chủ tịch nước ngày càng phát huy được vai trò, chức năng quan trọng đối với đất nước; đặc biệt cần thiết chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước ở trung ương

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb

Công an nhân dân, Hà Nội (2013)

2 Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học quốc gia

Hà Nội, nxb Đại học quốc gia Hà Nội (2006)

3 Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Bùi Xuân

Đức, Nxb Tư pháp Hà Nội (2004)

4 Chế định Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành – Thực trạng và phương

hướng thực hiện, Lê Thị Hoa, Hà Nội (2012).

5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001

6 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001

7 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002

8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002

9 http://chinhphu.vn

10.http://baodientu.chinhphu.vn/

11.http://www.cpv.org.vn

12.http://www.vietnamplus.vn

13.http://doc.edu.vn/

Ngày đăng: 27/03/2019, 10:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w