Vùng Bắc Hưng Hải thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng gồm đất đai của 4 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên 205.210 ha được giới hạn từ 20036 đến 21007 vĩ độ Bắc, 105050 đến 106038 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp sông Đuống, phía Nam giáp sông Luộc, phía Đông giáp sông Thái Bình, phía Tây giáp sông Hồng. Đây là vùng dân cư đông đúc, là trung tâm kinh tế lớn của đồng bằng Bắc Bộ, có tiềm năng lớn về thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Trong vùng đã hình thành nhiều khu đô thị, công nghiệp lớn, sản xuất hàng hoá, phát triển các khu chế xuất, hàng công nghiệp, nông nghiệp, tiêu dùng. Thấy rõ được tầm quan trọng của vùng và yêu cầu cho phát triển, ngay từ khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, năm 1956 1958 đã tiến hành khảo sát lập Quy hoạch thuỷ lợi với sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quốc. Từ dự án Quy hoạch này, công trình đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải đã ra đời năm 1957 với mục tiêu cung cấp nước tưới cho 150.200 ha và tiêu cho 181.200 ha qua cống An Thổ và 4.400 ha bằng trạm bơm tiêu cho vùng Gia Lương. Năm 1973 1974 đã tiến hành hoàn chỉnh thuỷ nông, năm 1992, Viện Quy hoạch Thuỷ lợi đã tiến hành nghiên cứu bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi.
Trang 1BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THỦY VĂN
HỆ THỐNG THUỶ NÔNG BẮC HƯNG HẢI
CHƯƠNG I MỤC TIÊU, YÊU CẦU TÍNH TOÁN THUỶ VĂN
I.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LƯU VỰC VÀ NHIỆM VỤ QUY HOẠCH
Vùng Bắc Hưng Hải thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng gồm đất đai của 4tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội, có tổng diện tích tựnhiên 205.210 ha được giới hạn từ 20036' đến 21007' vĩ độ Bắc, 105050' đến
106038' kinh độ Đông Phía Bắc giáp sông Đuống, phía Nam giáp sông Luộc,phía Đông giáp sông Thái Bình, phía Tây giáp sông Hồng
Đây là vùng dân cư đông đúc, là trung tâm kinh tế lớn của đồng bằng Bắc Bộ, cótiềm năng lớn về thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội Trong vùng đã hìnhthành nhiều khu đô thị, công nghiệp lớn, sản xuất hàng hoá, phát triển các khuchế xuất, hàng công nghiệp, nông nghiệp, tiêu dùng Thấy rõ được tầm quantrọng của vùng và yêu cầu cho phát triển, ngay từ khi hoà bình lập lại ở miềnBắc, năm 1956 - 1958 đã tiến hành khảo sát lập Quy hoạch thuỷ lợi với sự giúp
đỡ của chuyên gia Trung Quốc Từ dự án Quy hoạch này, công trình đại thuỷnông Bắc Hưng Hải đã ra đời năm 1957 với mục tiêu cung cấp nước tưới cho150.200 ha và tiêu cho 181.200 ha qua cống An Thổ và 4.400 ha bằng trạm bơmtiêu cho vùng Gia Lương
Năm 1973 - 1974 đã tiến hành hoàn chỉnh thuỷ nông, năm 1992, Viện Quy hoạchThuỷ lợi đã tiến hành nghiên cứu bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi
I.2 MỤC TIÊU CỦA RÀ SOÁT QUY HOẠCH
Mục tiêu của rà soát quy hoạch hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải đợt này lànhằm điều chỉnh bổ sung các giải pháp trước mắt và sau năm 2010 đáp ứng chochuyển đổi cơ cấu sản xuất trong vùng, tiêu thoát nước phòng chống lũ bảo vệmôi trường sinh thái, phát triển bền vững
I.3 MỤC TIÊU YÊU CẦU TÍNH TOÁN THUỶ VĂN
Nghiên cứu tính toán thuỷ văn vùng, đánh giá tình hình diễn biến thời tiết khíhậu, lũ, kiệt đáp ứng với yêu cầu của tính toán Quy hoạch thuỷ lợi hệ thống BắcHưng Hải
I.4 ĐƠN VỊ,THỜI GIAN THỰC HIỆN
Chuyên đề thuỷ văn do Phòng Thuỷ văn, Viện Quy Hoạch thuỷ lợi thực hiện,thời gian thực hiện từ 8/2005 - 4/2006
Trang 2CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC
II.1 PHẠM VI VỊ TRÍ ĐỊA L Ý
Hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng nằmtrong địa phận của 4 tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nộikéo dài từ 20036' đến 21007' vĩ độ Bắc, 105050' đến 106038' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp sông Đuống
- Phía Nam giáp sông Luộc
- Phía Đông giáp sông Thái Bình
- Phía Tây giáp sông Hồng
Với tổng diện tích tự nhiên 200.200 ha trong đó phần diện tích trong đê là185.600 ha
II.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH
Địa hình lưu vực có xu thế dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Theo tài liệu
đo đạc địa hình phân bố diện tích theo cao độ như sau:
- Đất có cao trình lớn hơn +5 m là 3.610 ha
Địa hình có thể phân chia thành các khu vực như sau:
Vùng ven sông Hồng, sông Đuống mức cao trung bình là +4,0m
Vùng ven sông Luộc, sông Thái Bình cao trình trung bình từ +1,0 đến 1,2 m, chỗthấp nhất đạt +0,5m
II.3 ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỠNG.
- Đất trong vùng gồm các loại đất phù sa màu trung tính, cát pha, thịt nhẹ
- Đất phù sa màu trung tính, ít chua, thành phần cơ giới là đất thịt trung bình.Hai loại đất này tập trung hầu hết ở vùng đất cao ven sông Hồng gồm các huyệnVăn Giang, Yên Mỹ, Văn Lâm, Khoái Châu, và một phần của huyện Ân Thi, mộtphần nhỏ ven sông Thái Bình
- Loại đất phù sa màu xám nhạt Loại này có thành phần cơ giới thịt trung bìnhnặng thích hợp cho trồng lúa Loại này phân bố ở vùng trung tâm hệ thống chạydài từ Bắc xuống Nam gồm các phần còn lại của huyện Văn Lâm, Mỹ Hào, CẩmGiàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tiên Lữ, Tứ Kỳ, Ân Thi, Phủ Cừ, Thanh Miện,Ninh Giang
II.4 MẠNG LƯỚI SÔNG NGÒI
II.4.1 HỆ THỐNG SÔNG SUỐI NGOÀI VÙNG
Các sông bao ngoài của hệ thống
Vùng Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 sông lớn Các sông này cung cấp nguồnnước chủ yếu cho hệ thống từ các cống lấy nước tự chảy hoặc các trạm bơm dọc
Trang 3sông Sự dao động mực nước về mùa kiệt, mùa lũ có ảnh hưởng quyết định tớiviệc lấy nước và tiêu nước của hệ thống.
Mùa kiệt nếu mực nước xuống quá thấp thì khả năng lấy nước cho tưới hạn chế,đặc biệt xảy ra kiệt nặng ở các sông như các năm 2004, 2005 Mùa lũ, mực nướcsông càng cao như ven triền sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc, sông Thái Bìnhnên việc tiêu úng nội đồng rất khó khăn, lượng nước mưa phải tiêu ra sông TháiBình qua cống Cầu Xe, và ra sông Luộc qua cống An Thổ
- Sông Hồng
Sông Hông là biên phía Tây của hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải kéo dài từngã ba sông Đuống đến ngã ba sông Luộc, cống Xuân Quan trên đoạn sông này
là cửa lấy nước chính vào hệ thống Bắc Hưng Hải với lưu lượng thiết kế P75% là
75 m3/s Số liệu thực đo mực nước cống Xuân Quan về mùa kiệt dao động từ1,39m đến 2,48m vào thời kỳ tưới ải tháng XI, mực nước dao động từ 1,97 đến3,25m Từ năm 1990, có sự điều tiết của hồ Hoà Bình, mực nước cống XuânQuan cao hơn so với trạng thái tự nhiên chưa có hồ từ 16 đến 20 cm
- Sông Đuống
Sông Đuống là biên giới phía Bắc của hệ thống, với lòng sông rộng, khoảng cáchgiữa hai đê khá lớn Là một phân lưu lớn của sông Hồng, mực nước về mùa kiệtbiến động lớn Mực nước mùa kiệt xuống khá thấp, Hmin = 1,82m ngày26/IV/1958, việc lấy nước tự chảy vào hệ thống rất khó khăn vì cao độ đất vùngnày cao, muốn lấy nước vào hệ thống phải dùng bơm có cột nước cao Về mùamưa mực nước sông Đuống cao, việc lấy nước vào hệ thống tiện hơn, nhưng ảnhhưởng tới việc tiêu úng nội đồng Hiện nay có 3 cống lấy nước phù sa vào hệthống đó là Cống Vàng, Phú Mỹ, Môn Quản lây nước vào kênh nổi (kênh Bắc vàkênh Nam trạm bơm Như Quỳnh) để phục vụ tưới cho vùng Gia Lâm, GiaThuận
Sông Thái Bình
Là sông biên giới phía Đông của hệ thống, sông bị ảnh hưởng thuỷ triều, về mùacạn, mực nước sông rất thấp, việc lấy nước từ sông vào hệ thống rất khó khăn Vềmùa lũ mực nước ngoài sông lớn uy hiếp tới hệ thống đê gây khó khăn cho việctiêu úng Phần đoạn sông từ ngã ba sông Đuống tới sông Mía không thể tiêu tựchảy ra sông Thái Bình, đoạn cuối sông Thái Bình thẳng từ Cầu Xe ra có thể tiêuúng cho hệ thống khi mực nước ngoài sông thấp hơn nội đồng
Sông Luộc:
Là biên giới phía Nam của hệ thống, mực nước ngoài sông Luộc cao nên việctiêu tự chảy khó khăn chỉ tiêu bằng hệ thống trạm bơm lớn Cuối sông Luộc,cống An Thổ là cống tiêu nước lớn nhất của hệ thống ra sông Luộc khi mực nướcnội đồng cao hơn ngoài sông
Về mùa kiệt mực nước sông Luộc xuống thấp nên việc lấy nước tưới khó khăn,hiện nay chỉ có một số sông nhỏ lấy nước cho phần diện tích ven sông
II.4.2 MẠNG LƯỚI SÔNG TRONG HỆ THỐNG
Mạng lưới sông trục trong hệ thống Bắc Hưng Hải khá dày đặc Hệ thống sôngtrục chính đó là:
Trang 4+ Sông Kim Sơn còn có tên gọi là sông chính Bắc từ cống Xuân Quân đến CầuCất là trục dẫn nước tưới chính của hệ thống.
+ Sông Điện Biên là sông dẫn nước tưới chủ yếu của hệ thống được nối từ ÂuLực Điền của sông Kim Sơn tới sông Cửu An Sông lấy nước tưới của sông KimSơn tưới cho tiểu khu Nam Cửu An Trên sông có nhiều hệ thống cầu, mặt cắt cohẹp, lòng sông bồi lắng, khả năng chuyển nước bị hạn chế
Sông Tây Kẻ Sạt là sông khá rộng và sâu nối sông Kim Sơn và sông Cửu An lấynước của sông Kim Sơn qua cống Tranh, là trục dẫn nước tưới quan trọng chotiểu khu Bình Giang - Bắc Thanh Miện, Đông Nam sông Cửu An và một phầntiểu khu Tây Nam Cửu An
+ Sông Đình Đào là sông nối giữa sông Kim Sơn và sông Cửu An như sông ĐiệnBiên và sông Tây Kẻ Sặt Đây là sông trục tiêu chính phía Bắc chuyển nước tiêu
từ sông Kim Sơn và sông Tràng Kỷ rồi đổ ra Cầu Xe - An Thổ Hiện nay mặt cắtkhá lớn nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tiêu của hệ thống
+ Sông Cầu An là sông chính Nam của hệ thống từ trạm bơm Uyển đến Cự Lộc.Đoạn từ ngã ba sông Điện Biên tới Cự Lộc, mặt cắt sông tương đối lớn, là trụctiêu chính phía Nam của hệ thống Hiện nay đoạn sông này chưa được nạo véttheo yêu cầu tiêu Đoạn từ cầu Sài Thị đến trạm bơm Uyển bị bồi lắng, mặt cắt bị
co hẹp và nông hạn chế tới việc tiêu thoát
+ Sông Tràng Kỷ: Là sông tưới tiêu kết hợp, sông dẫn nước tưới cho phần phíaĐông của khu Gia Thuận, một phần tiểu khu Bắc Kim Sơn, Bắc Cẩm Giàng, thị
xã Hải Dương Đoạn từ ngã ba Kim Sơn tới cầu Cẩm Giàng mặt cắt khá rộng vàsâu, đoạn từ cầu Cẩm Giàng tới cầu Guột bị thu nhỏ và nông, nhất là đoạn cầuGuột mặt cắt quá nhỏ ảnh hưởng tới việc tiêu nước cho phần phía Đông của tiểukhu Gia Thuận
+ Sông Đình Dù là sông dẫn nước cung cấp nước cho trạm bơm Văn Lâm vàNhư Quỳnh Đoạn từ ngã ba sông Kim Sơn đến cầu Như Quỳnh khẩu độ mặt cắt
đủ để dẫn nước tưới Sau trạm bơm Như Quỳnh, mặt cắt tuyến sông bị thu hẹp,rất khó khăn cho việc chuyển nước
+ Sông Cầu Bây là trục dẫn nước tưới tiêu kết hợp của tiểu khu Gia Lâm, sônglấy nước từ sông Kim Sơn và tiêu vào sông Kim Sơn qua cống Xuân Thuỷ
+ Sông Thạch Khôi - Đoàn Thượng là trục dẫn nước tưới quan trọng của tiểu khuGia Lộc - Tứ Kỳ Hiện nay trên đoạn sông này có nhiều cầu, cống qua sông, mặtcắt bị thu hẹp không đảm bảo dẫn nước tưới
+ Sông Bá Liêu - Trai Vực là một trong những trục dẫn nước tưới của tiểu khuGia Lộc - Tứ Kỳ Hiện nay mặt cắt sông bị thu hẹp không đảm bảo dẫn nướctưới
+ Sông Đại Phú Giang là sông trục dẫn nước chính của tiểu khu Đông Nam Cửu
An, sông lấy nước từ sông Cửu An ở phía trước cống điều tiết (cống Neo) để tướicho tiểu khu Đông Nam Cửu An
+ Sông Hoà Bình là sông trục dẫn nước tưới chính của tiểu vùng Tây Nam Cửu
An, sông Hoà Bình nối với sông Cửu An bằng sông Bản Kẻ - Phượng Tường và
Trang 5sông Nghĩa Trụ Sông được nạo vét thường xuyên nhưng hiện nay vẫn chưa đảmbảo nước tưới.
Ngoài một số sông chính nêu trên trong hệ thống còn có các trục kênh mươngdẫn nước tới các trạm bơm tưới, tiêu để phục vụ cho yêu cầu tiêu và cấp nước
CHƯƠNG III TÀI LIỆU QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN
III.1 LƯỚI TRẠM QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG, ĐO MƯA VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
Trong vùng nghiên cứu đã thiết lập được mạng lưới trạm đo mưa khá dày đặc.trong đó có 3 trạm khí tượng đặc trưng cho vùng là Hà Nội, Hải Dương, HưngYên, 15 trạm đo mưa đã được thiết lập, cho tới nay còn 9 trạm đo trong đó có 2trạm khí tượng là Hưng Yên và Hải Dương
BẢNG 1: THỐNG KÊ LƯỚI TRẠM KHÍ TƯỢNG ĐO MƯA TRONG VÙNG
trạm
1 Hải Dương 106 0 18' 20 0 57' KH 1960 Nay
2 Hưng Yên 106 0 03' 20 0 40' KH 1960 Nay
3 Bần Yên Nhân 106 0 02' 20 0 57' Mưa 1960 1985
4 Ninh Giang 106 0 22' 20 0 46' Mưa 1960 Nay
5 Ân Thi 106 0 05' 20 0 49' Mưa 1960 Nay
6 Thanh Miện 106 0 14' 20 0 47' Mưa 1960 1990 Ngừng đo
8 Kim Động 106 0 03' 20 0 44' Mưa 1960 1990 Nt
9 Tiên Lữ 106 0 08' 20 0 39' Mưa 1960 1990 Nt
10 Văn Giang 105 0 55' 20 0 57' Mưa 1960 Nay
11 Cẩm Giàng 106 0 14' 20 0 38' Mưa 1960 Nay
12 Tứ Kỳ 106 0 25' 20 0 48' Mưa 1960 Nay
13 Khoái Châu 105 0 58' 20 0 51' Mưa 1960 1988 Ngừng đo
14 Phú Lương 105 0 42' 21 0 43' Mưa 1960 Nay
15 Gia Lương 106 0 11' 21 0 01' Mưa 1960 Nay
III.2 TRẠM THUỶ VĂN VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
Trạm đo mực nước, lưu lượng cơ bản
Trên dòng chính sông Hồng có trạm Hà Nội (trạm cấp I) đo mực nước, lưulượng, phù sa, trạm Hưng Yên đo mực nước
Trên sông Đuống có trạm cấp I là Thượng Cát đo mực nước lưu lượng phù sa.Trạm Bến Hồ đo mực nước (trạm cấp III)
Trên sông Luộc: Có trạm cấp I Triều Dương, trạm cấp III đo mực nước ChanhChử
Trên sông Thái Bình có trạm Cát Khê đo mực nước, lưu lượng, trạm cấp III đomực nước là Phả Lại
Trang 6Ngoài ra còn các trạm đo mực nước trong hệ thống Bắc Hưng Hải như Cầu Xe,
An Thổ, Xuân quan, Báo Đáp, Bá Thuỷ, Cống Tranh, Kênh Cầu, Lực Điền, CốngNeo, Cầu Cất
Bảng 2: DANH MỤC TRẠM ĐO CƠ BẢN VÀ CHUYÊN DÙNG TRONG HỆTHỐNG
1 Hà Nội Hồng 105 0 51' 21 0 01' I 1902 Nay Cơ bản
2 Hưng Yên Hồng 106 0 03' 20 0 39' III 1955 Nay Cơ bản
3 Thượng Cát Đuống 105 0 52' 21 0 04' I 1957 Nay Cơ bản
4 Bến Hồ Đuống 106 0 04' 21 0 04' III 1960 Nay Cơ bản
5 Phả Lại Thái Bình 106 0 10' 21 0 06' III 1960 Nay Cơ bản
6 Cát Khê Thái Bình 106 0 17' 21 0 02' II 1960 Nay Cơ bản
7 Phú Lương Thái Bình 106 0 20' 21 0 57' III 1960 Nay Cơ bản
8 Triều Dương Luộc 106 0 07' 20 0 39' II 1960 Nay Cơ bản
9 Chanh Chử Luộc 106 0 24' 20 0 44' III 1960 Nay Cơ bản
14 Cống Tranh Tây Kẻ Sặt III 1963 Nay Chuyên dùng
16 Lực Điền Điện Biên III 1974 Nay Chuyên dùng
Ghi chú: - Trạm cấp I đo lưu lượng, mực nước phù sa
- Trạm cấp II đo mực nước, lưu lượng
- Trạm cấp III đo mực nước
III.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÀI LIỆU
Tài liệu khí tượng thuỷ văn ở các trạm cơ bản có chất lượng đáng tin cậy đo đạcliên tục, hệ thống cao đô, mực nước đã được đưa về cao độ quốc gia
Hệ thống trạm quan trắc mực nước nội đồng phục vụ cho công tác điều tiết, cáccống trên các sông trục chính phục vụ cho tưới, tiêu, thoát úng, các trạm nàyquan trắc định kỳ theo lịch, chế độ quan trắc không như các trạm cơ bản Cao độtrạm thuộc hệ thống cao độ Thuỷ lợi cũ, chất lượng tài liệu tin cậy có thể sử dụngcho nghiên cứu, tính toán
III.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TÀI LIỆU
Dùng quan hệ tưong quan mưa của các trạm kéo dài cho các trạm có số liệungắn
Dùng quan hệ mực nước lớn nhất, nhỏ nhất của các trạm để kéo dài mực nướccho các trạm thiếu tài liệu
Trang 7Đối với các trạm mực nước nội đồng bị ảnh hưởng do quá trình điều hành hệthống nên cần phải xem xét, đánh giá để đưa vào sử dụng.
CHƯƠNG IV ĐẶC ĐIỂM VỀ KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN
IV.1 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
IV.1.2 Hình thế thời tiết gây mưa lũ
Mưa năm trung bình nhiều năm trong vùng đạt từ 1.400 đến 1.600 mm Tuynhiên về mùa mưa do ảnh hưởng của mưa bão, áp thấp, hội tụ đường đứt, lượngmưa trong mùa mưa từ tháng V tới tháng X chiếm tới 80 - 85 lượng mưa năm,còn lại là mùa khô Lượng mưa do ảnh hưởng của bão có thể đạt tới 300 - 400mm/ngày và 350 - 450 mm trong 3 ngày và 400 - 500 mm trong 5 ngày
Vùng trung tâm hệ thống lượng mưa lũ nhỏ hơn trong vùng Đông Nam hệ thống.Lượng mưa trận lũ xảy ra khá lớn ở các vùng như Tứ Kỳ, Ninh Giang, ThanhMiện với lượng mưa ngày lớn nhất 300 - 400 mm trong khi đó vùng phía Bắc của
hệ thống như Thuận Thành, Gia Lương, Văn Giang, lượng mưa ngày lớn nhất đođược chỉ đạt 200 - 280 mm (Thuận Thành 204 mm ngày 12/9/1985, Văn Giang
248 mm ngày 5/11/1996, Bần Yên Nhân 281 mm ngày 14/6/1965)
Sự xuất hiện mưa trận lũ lớn nhất giảm dần từ Đông Nam hệ thống tới Tây vàTây Bắc của hệ thống tương ứng với sự suy giảm của cường độ mưa bão khi đổ
bộ và ảnh hưởng vào vùng Đông Bắc Bắc Bộ
Xét về tỷ trọng lượng mưa tháng IX so với năm trong vùng càng xa biển như GiaLâm, Thuận Thành tỷ lệ này chỉ đạt 13 đến 14% những vùng gần biển phía NamĐông Nam hệ thống tỷ lệ này đạt tới 14 đến 16% so với lượng mưa năm
IV.1.3 Phân vùng khí hậu
Vùng nghiên cứu nằm trong phạm vi hẹp, nên có sự đồng nhất về khí hậu Nềnnhiệt độ trung bình năm không sai lệch đáng kể, đạt 23,3 đến 23,4 0C
Căn cứ vào sự diễn biến nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi và lượng mưa có thể phân chiavùng nghiên cứu thành hai vùng
Trang 8- Vùng phía Bắc và phía Tây Bắc của lưu vực có lượng mưa trung bình năm nhỏhơn vùng phía Nam và Đông Nam của lưu vực Vùng này nằm trong khu vực cáchuyện Văn Lâm, Văn Giang, Lương Tài, Thuận Thành.
Vùng phía Nam và Đông Nam của lưu vực nghiên cứu gồm các huyện thuộcHưng Yên, Hải Dương
IV.2 CÁC ĐẶC TRƯNG KHÍ HẬU
IV.2.1 Nhiệt độ:
Nhiệt độ trung bình năm trong vùng biến động từ 23,40C ở Hải Dương tới 23,30C
ở Hưng Yên, 23,6 0C ở Hà Nội Nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất tháng 1 đạt16,3 0C tại Hải Dương, 16,5 0C tại Hà Nội Tháng VII có nhiệt độ trung bìnhtháng cao nhất đạt 29,2 0C ở Hải Dương và Hà Nội, 28,9 0C ở Hưng Yên Nhiệt
độ tối cao đo được đạt 38,2 0C (5/VII/1967) tại Hải Dương, 39,4 0C trong nhiềunăm tại Hưng Yên, 42,8 0C tháng V/1926 tại Hà Nội Nhiệt độ tối thấp đo đượcđạt 2,7 0C (12/I/1955) tại Hà Nội, 3,2 0C (18/XII/1975) tại Hải Dương, 4,9 0C (31/I/1977) tại Hưng Yên Ba tháng trong năm VI, VII, VIII có nhiệt độ trung bìnhtháng khá cao từ 28 - 29 0C
BẢNG 3: NHIỆT ĐỘ TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
Đơn vị: 0C
Hải Dương 1960 - 2004 16.3 17.2 19.8 23.6 27.0 28.8 29.2 28.4 27.3 24.6 21.2 17.8 23.4 Hưng Yên 1960 - 2004 16.4 17.2 19.9 23.7 26.9 28.6 28.9 28.2 27.1 24.5 21.2 17.7 23.3
Hà Nội 1960 – 2004 16.5 17.3 20.0 23.9 26.9 28.9 29.2 28.6 27.5 25.0 21.5 18.2 23.6
IV.2.2 Số giờ nắng
Số giờ nắng trung bình năm đạt 1.623 giờ tại Hải Dương, 1.473 giờ tại HưngYên, 1.589 giờ tại Hà Nội Tháng II, III có số giờ nắng trung bình tháng nhỏ nhấttrong năm, tháng 2, 3 đạt từ 42 đến 48 giờ Tháng VII có số giờ nắng trung bìnhtháng cao nhất đạt 198 giờ tại Hải Dương, 177 giờ tại Hưng Yên, 193 giờ tại HàNội
BẢNG 4: TỔNG SỐ GIỜ NẮNG TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
Đơn vị (Giờ)
Hải Dương 1960 - 2004 79 48 42 85 188 172 198 176 182 175 149 128 1623 Hưng Yên 1960 - 2004 65 45 50 101 154 169 177 164 166 143 135 104 1473
Hà Nội 1960 - 2004 74 47 47 90 183 172 195 174 176 168 138 124 1589
IV.2.3 Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm trong vung biến đổi từ 82-85 % Vùng phía bắccủa khu vực độ ẩm tương đối thấp chỉ đạt 82 %, vùng trung tâm và phía đôngnam của khu vực đạt 85 % Độ ẩm tháng thấp nhất trung bình đạt 80-83 % vào
Trang 9các tháng XII,I khi mà gió mùa đông bắc hoạt động mạnh, độ ẩm cao nhất trungbình tháng VIII, IX khi có mưa nhiều đạt từ 87-89 %
BẢNG 5: ĐỘ ẨM TƯƠNG ĐỐI TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
IV.2.4 Bốc hơi Piche
Lượng bốc hơi Piche trung bình nhiều năm đạt 992 mm tại Hải Dương, 884 mmtại Hưng Yên, 1.000 mm tại Hà Nội Tháng VII có lượng bốc hơi tháng trungbình lớn nhất đạt 110 mm tại Hải Dương, 96,0 mm tại Hưng Yên, 121 mm tại HàNội Tháng III có khí hậu ẩm ướt mưa phùn, lượng bốc hơi tháng trung bình đạtnhỏ nhất 53,0 mm tại Hải Dương, 50 mm tại Hưng Yên, 56,2 mm tại Hà Nội
BẢNG 6: BỐC HƠI ỐNG PICHE TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
Đơn vị: mm
Hải Dương 1960 - 2004 77.3 58.5 53.0 57.2 86.6 100.5 110.1 78.6 78.9 97.5 100.0 93.8 992.1 Hưng Yên 1960 - 2004 65.9 49.7 50.0 56.5 83.1 89.4 95.8 73.9 73.4 82.8 84.3 79.1 883.8
Hà Nội 1960 - 2004 70.5 58.4 56.2 65.0 95.3 96.8 120.8 83.6 86.0 96.1 87.9 83.7 1000.3
IV2.4 Tốc độ gió.
Tốc đọ gí trung bình tháng năm đạt 1,1-2,4 m/s Tốc độ gió lơn nhất khi có bão
đổ bộ hoặc ảnh hưởng vào khu vực đạt trên 40 m/s 23/8/1980 tại Hải Dương,40,0 m/s tại Hưng Yên ngày 23/5/1978 Hướng gió thịnh hành về mùa đông làgió đông bắc, về mùa hè là gió đông nam
BẢNG 7: TỐC ĐỘ GIÓ TRUNG BÌNH THÁNG, NĂM
IV.2.5 Đặc điểm mưa
Mưa năm trung bình nhiều năm trên vùng nghiên cứu đạt 1.400 tới 1.600 mm.Vùng mưa lớn thường xuất hiện ở khu vực phía Nam và Đông Nam của hệ thống
Trang 10với lượng mưa trung bình năm đạt 1.548 mm tại Ninh Giang, 1.648 mm tại HưngYên, 1.523 mm tại Hải Dương.
Vùng mưa nhỏ thường xảy ra ở phía Bắc và Tây Bắc của hệ thống như ThuậnThành 1.417 mm, Văn Giang 1.415 mm, Ân Thi 1.418 mm, Thanh Miện 1.453mm
Trong năm mùa mưa từ tháng V tới tháng X với tổng lượng mưa trong mùa mưađạt 80 đến 85% lượng mưa năm Trong mùa mưa, mưa lớn tập trung vào haitháng VII, VIII với tổng lượng mưa trung bình chiếm 30 đến 35% lượng mưanăm, tháng VIII có lượng mưa trung bình tháng chiếm từ 18 - 20% lượng mưanăm Ba tháng mùa khô XI, I, II có lượng mưa khá nhỏ với tổng lượng mưa chỉđạt từ 3,5 đến 4,5% lượng mưa năm Tháng XII và tháng I có lượng mưa thángnhỏ nhất chỉ chiếm 0,8 đến 1,1% lượng mưa năm cho mỗi tháng
Hệ số biến sai Cv lượng mưa năm từ 0,18 đến 0,25, lượng mưa năm lớn nhất gấp2,5 đến 3 lần lượng mưa năm nhỏ nhất
Bảng 8 BẢNG TÍNH TOÁN TẦN SUẤT MƯA NĂM
Trang 11Nam và Đông Nam của hệ thống với lượng mưa năm lớn nhất đạt 2.300 đến2.500 mm Năm có lượng mưa năm nhỏ nhất đo được đạt 750 đến 1.000 mm.Lượng mưa lũ
Ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới kết hợp không khí lạnh, lượng mưa trận lũlớn nhất đạt từ 200 đến 420 mm/ngày, lượng mưa trong 3 ngày lớn nhất đo được
1978, 1980, 1984, 1985, 2004 là những năm có ảnh hưởng của bão vào khu vựcnghiên cứu
Bảng 9 ĐẶC TRƯNG LƯỢNG MƯA 1, 3, 5, 7 NGÀY MA X THIẾT KẾ NĂM (mm)
TT Trạm Đặc trưng
Thời kỳ tính Trung
138.2 404 10/11/1984 0.47 2.3 382 331 267 220
10/11/1984 0.43 1.6 462 413 347 296
8-2 ThuậnThành
X1
1960 - 1997
132.8 204.2 12/9/1985 0.31 1.1 258 237 209 187
13/9/1985 0.35 1.2 387 352 305 269 X5 208.8 426.3 9-13/9/1985 0.32 1 409 377 333 298 X7 232.5 476 7-13/9/1985 0.29 1.3 446 410 361 322
131.4 248 5/11/1996 0.35 0.7 256 238 212 190
31/8/1994 0.36 0.5 379 353 316 284 X5 220.4 368.7 21-25/8/1972 0.33 0.3 407 382 347 316
29/8/1972 0.33 0.4 450 422 381 347
-135.2 330 22/9/1978 0.4 1.9 325 288 240 205
23/9/1978 0.34 1 401 368 322 286
Trang 1221-X5 224.9 417.9
24/7/1980 0.33 0.9 445 410 362 323
26/8 1/9/1975 0.34 1 517 475 417 371
-5 Tứ Kỳ
X1
1960 -
2004 141.7 410 22/9/1978 0.44 2.2 376 328 266 221
23/9/1978 0.43 1.7 496 441 368 313
25/9/1978 0.42 1.1 534 484 416 362 X7 257.5 596.4 26/8-1/9/1975 0.4 1.3 589 533 456 395
2004 143.8 340 22/9/1978 0.39 1.3 325 294 252 219 X3 202.9 396.5 21-23/7/2004 0.37 1 431 395 344 304
24/7/2004 0.36 0.5 469 437 391 352
1/9/1975 0.36 0.9 542 499 438 390
2004 151.8 377.9 27/10/1974 0.48 1.4 386 345 290 247
28/10/1974 0.39 0.7 429 395 348 309 X5 236.9 440.7 9-14/9/1985 0.36 0.5 468 436 390 351
31/8/1975 0.36 0.5 504 469 420 378
2004 137.7 288 24/7/1980 0.37 0.7 282 261 231 206
24/8/1980 0.4 1 416 379 329 288 X5 220.6 499.9 20-24/7/1980 0.39 1.3 495 448 385 335
24/7/1980 0.4 1.4 547 494 422 366 9
18-Bần
Yên
Nhân X1
1960 -
1985 136.1 281.1 14/6/1965 0.37 1 289 264 230 203
14/6/1965 0.41 1.8 463 411 342 291
15/6/1965 0.34 1.7 484 434 369 320
Trang 1311-X7 249.5 458.8 9-15/9/1985 0.34 1.3 519 473 411 362
10 Ân Thi X1
1960 -
2004 140.5 318 10/11/1984 0.38 1 301 276 240 212
X3 191.9 406 11-13/9/1985 0.39 0.8 404 372 327 291 X5 216.6 434.7 9-13/9/1985 0.36 0.5 431 401 357 321
31/8/1975 0.36 0.9 490 451 396 352 11
25-Mưa
diện X1
1960 -
IV.3 Nhận xét về khả năng sinh thuỷ và hạn úng, lũ.
a :Về khả năng sinh thuỷ:
Vùng nghiên cứu có lượng mưa trung bình năm toàn vùng là 1.500 mm, lượngdòng chảy sinh sản trực tiếp từ mưa và phần dòng chảy ngoại lai từ các hệ thốngsông đổ về và được lấy qua các hệ thống cống và trạm bơm như dòng chảy sôngHồng, sông Đuống, sông Luộc
Nếu tính toán cho dòng chảy sản sinh từ mưa thì lượng dòng chảy này được sảnsinh trong vùng 1,25 tỷ m3 Tuy nhiên lượng nước do mưa này chỉ được giữ lạitrong hệ thống kênh mương một phần nhỏ còn lại là tiêu thoát ra biển Về mùakhô để đảm bảo cho cấp nước phải lấy nước từ hệ thống sông Hồng qua cốngXuân Quan, 75% m3/s với P = 85% Khi mực nước sông Hồng tại Xuân Quanxuống thấp dưới 1,00 m vào ngày 19 tháng II/2006 do điều tiết của hồ Hoà Bìnhthì hạn chế lượng nước lấy vầo trong hệ thống
Về mưa lũ: Vấn đề tiêu úng nội đồng là cực kỳ khó khăn khi mực nước ngoàisông dâng cao và thời gian duy trì mực nước cao kéo dài
Trang 14Trục tiêu chính hệ thống là sông Kim Sơn, Cửu An, Đình Dù, Tràng Kỷ tiêu cho
hệ thống qua hai cống tiêu Cầu Xe,An Thổ và các trạm bơm dọc sông Luộc, sôngĐuống, sông Thái Bình
Lượng nước tiêu lớn nhất của hệ thống ra hai cống Cầu Xe, An Thổ với lưulượng tiêu tổng cộng 337 m3/s
Khả năng tiêu phụ thuộc vào mực nước triều ngoài sông Luộc Khi mưa trong nộiđồng lớn với lượng mưa 5 ngày của trận mưa lớn nhất từ 400 tới 500 mm, lượngnước cần tiêu thoát rất lớn, nếu gặp kỳ triều kém, chân triều bị ảnh hưởng lũ nângcao duy trì thời gian dài thì thời gian tiêu thoát ít, gây úng lụt cục bộ các vùngtrong hệ thống
Năm 1985: Với mưa 5 ngày từ 400 tới 420 mm diện ngập úng trong vùng lên tới62.900 ha
Năm 1990 khi hồ Hoà Bình đưa vào vận hành mực nước thượng lưu cống XuânQuan về mùa kiệt được nâng cao 0,2 đến 0,25 m tạo điều kiện thuận lợi cho việclấy nước vào hệ thống Nhưng về mùa lũ, thời gian mực nước cao duy trì dài hơnnên khả năng tiêu thoát bị hạn chế nhất là khi có mưa lớn nội đồng gặp mực nướccao ngoài sông
CHƯƠNG V ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN NGUỒN NƯỚC MẶT
5.1 Chế độ mực nước.
Mực nước ngoài sông chính của hệ thống chụi ảnh hưởng của chế độ thuỷ vămcủa các dòng sông chảy qua vùng dự án như sông Hồng, sông Luộc, sôngĐuống , sông Thái Bình, ảnh hưởng của thuỷ triều về mùa cạn, mùa lũ Mựcnước còn chụi ảnh hưởng điều tiết của hồ Hoà Bình và Thác Bà trong mùa lũ vàmùa kiệt
Về mùa cạn ảnh hưởng của thuỷ triều trên sông Hồng có thể đạt giới hạn tối đavới khoảng cách 180-185 km từ biển, thực tế phía thượng lưu Hà Nội khoảng trêndưới 5-10 km Nếu dùng số liệu thực đo mực nước từng giò trong mùa cạn từtháng I tới tháng IV, của các trạm dọc sông Hồng từ Ba Lạt tới Hà Nội cho thấygiao động triều tại Hà Nội về mùa cạn có thể đạt từ 8-10 cm như trường hợp mựcnước trong 2 giờ từ ngày 28-30/III/1965 tại Hà Nội biên độ triều lớn nhất là 0.08
m ngày 28/III/1965 ứng với biên độ triều trong ngày tại Hòn Dấu là 2.67 m Ảnhhưởng của thuỷ triều về mùa cạn rõ nhất là từ dưới cống Xuân Quan 10 km trởxuống
Sông Đưống có độ dốc khá lớn , thuỷ triều xâm nhập không sâu, về mùa cạn chỉthường tới Bến Hồ với biên độ mực nước ngày nhỏ, trung bình ngày khoảng 0.20
m Tại trạm Thượng Cát không còn thấy ảnh hưởng của thuỷ triều
Trên sông Thái Bình về mùa cạn ảnh hưởng của thuỷ triều có thể lên tới cửasông Công trên sông Cầu, Bến Thôn trên sông Thương, Chũ trên sông Lục Nam
Trang 15Sông Luộc về mùa cạn chịu ảnh hưởng hoàn toà của thuỷ triều Tại Quý cao chỗnhập lưu của sông Luộc vào sông Thái Bình, chênh lệch triều lớn nhất đạt 2,25 m(tháng VII/1968 pha triiêù lên), 2, 26 m pha triều xuống.
Về mùa lũ mực nước lũ ngoài các sông rất cao Trận lũ lịch sử tháng VIII/1971trên sông Hông tại Hà Nội sao khi đã hoàn nguyên đạt 14,69 m, 7,59 m tại PhảLại
Về mùa lũ chênh lệch mực nước ngoài sông chính và nội đồng rất lớn , mựcnước cao nhất vượt cao trình mặt đất từ 2-7 m, lũ cao uy hiếp nghiêm trọng cáctuyến đê bao quanh hệ thống Bắc Hưng Hải Nếu đỉnh lũ gặp bão và triều cườngthì càng dâng cao hơn, thời gian duy trì mực nước cao kéo dài gây khó khăn choviệc tiêu thoát nước mưa trong nội đồng gây ngập úng nghiêm trọng trong hệthống thư trận mưa gây úng nghiệm trọng vào thang IX/1985, tháng VIII/1980trong hệ thống Bắc Hưng Hải
Sau khi có hồ Hoà bình đi vào vận hành từ 1988-2004, mực nước hạ du sôngHồng vè mùa cạn, mùa lũ bị ảnh hưởng rõ rệt
Trạm Hà Nội trên sông Hồng :
Trước khi có hồ Hoà Bình Thác Bà mực nước thấp nhát tháng I là 2,1 m (I/1963),tháng II là 1,92 m (III/1956), thang III là 1,57 m (III/1956), thang IV là 1,67m(IV/1958) , sau khi có hồ Hoà bình do ảnh hưởng của điều tiết hồ mực nướcthấp nhất tại Hà Nội thấp nhất vào tháng I là 1,99 m (I//2004), tháng II là 1,38 m(20/2/2006), thang III là 1,58 m (8/3/2005) Do mực nước Hà nội xuông quá thấpnên mực nước tại cửa các cống lấy nước sau Hà Nôi như Xuân Quan chỉ đạt 1,00
m, điều này đã ảnh hưởng rất lơn tới việc lấy nước vào hệ thông Có thời điểm
do mực nước ngoài sông thấp , nước trong hệ thống lại chảy ngược ra sông
So sánh mực nước sông Hồng tại Hà Nội trung bình tháng giai đoạn trước khi có
hồ Hoà Bình 1956-1987 và sau khi có hồ Hoà Bình 1988-2004 như sau
Giai đoạn từ 1956- 1987 trước khi có hồ Hoà Bình và từ 1988-2004 sau khi có hôHoà Bình.Mực nuớc trung bình tháng I giai đoạn 1988-2004 thâp hơn mực nướctrung bình 1956-1987 là 0.10 m
Mực nước tri\ng bình giai đoạn 1988-2004 cao hơn giai đoan 1956-1987 là 0.11
m vào tháng II, 0.36 m vào tháng III, 0,52 m vào thang IV, 0,47 m vào tháng
V, ,05 m vào tháng Vi, 0,67 m vào thang VII
Từ tháng VII tới tháng I năm sau mực nước trung bình thời kỳ từ 1988-2004 luônnhỏ nhơn mực nức trung bình giau đoạn từ 1956-1987 khi không có điều tiết của
hô Hoà Bình Trị số này đạt 0,63m tháng VII, 1,51 m vào thang IX, 0,80 m vàotháng X., 0,73 m vào thang XI, 0,44 m vào thang XII, 0,1 m vào tháng I
Mực nức trung bình cao nhất có sự biến đổi vào các tháng nhu sau :
Giá trị mực nước trung bình cao nhất trong giai đoạn về mùa lũ từ thang VI-Xgiai đoạn 1988-2004 giảm hơn giai đoạn từ 1956-1987 đạt 0,14 m vào thang VI,0,44 1 m vào tháng VIII, 1,59 vào thang IX, 0,9 vào thang X
Giá trị trung bình mực nước nhổ nhât trong thời kỳ mùa kiệt giai đoạn 1988-2004sau khi có hồ Hoà bình tăng lên so với thờ kỳ 1956-1987 trước khi có hồ là
Trang 160,42m vào tháng III, 0,57 m vào thang IV, tuy nhiên lại giảm 0,10 m vào tháng I,0,05 m vào thang II là hai thang có nhu cầu dùng nước cao ở hạ du sông Hồng.
- Trạm Xuân Quan trên sông Hồng:
Đây là trạm lấy nước chính vào hệ thông Bắc Hưng Hải Mực nước trung bìnhtháng thời kỳ 1988-2004 sau khi có hồ Hoà Bình cao hơn trước khi có hồ HoàBình (1960-1987 ) và tháng III, thang IV, tháng V là 0,36 m, riêng hai tháng I, IIgiảm là hai thang dùng nước nhiều cho hệ thống Bắc Hưng Hải, mực nước trungbình tháng I, II sau khi có hồ lại giảm đi so với trước khi có hồ, giảm 0,27 m vàotháng I, 0,05 m vào tháng II Các tháng mùa lũ do có sự điều tiết của hồ , mựcnước trung bình tháng chỉ thực sự giảm từ tháng 0,46 m vào tháng VIII, 1,57 mvào tháng IX, 0,95 m vào tháng X
Mực nước trung bình cao nhất trong các tháng mùa lũ thời kỳ sau khi có hồ hoàbình thực sự giảm từ tháng VIII là 0,48 m, 1,45 m vào tháng IX, 1,13 m vàotháng X Mực nước trung bình tháng nhỏ nhất sau khi có hồ Hoà Bình thực sự chỉtăng vào tháng III là 0,53 m và 0,3 m vào tháng IV Hai tháng I, II là 2 thángdùng nước cao ở hạ du , mức nước trung bình cao nhất sau khi có hồ lại giảm sovới trước khi có hồ Hoà Bình
Mực nước thấp nhất tuyệt đói đạt 1,00 m vào lúc 19 h 20/II/2006 Tháng II năm
2006 có thời điểm mực nước hạ lưu công Xuân Quan lại cao hơn mực nướcthượg lưu cống (ngoài sông Hông) là 0,13 m Điều này đã làm cho lưu lượngnước trong đồng chảy ra ngoài sông chính
Mực nước thấp nhất tuyệt đối trước khi có hồ Hoà bình đạt 1,85 m vào tháng I,1,75 m vào tháng II, 1,51 m vào tháng III, 1,35 m vào thang IV, sau khi có hồmực nước thấp thất đo được 1,21 m vào tháng I/2006, 1,00 m vào thang II/2006,1,13 m vào tháng III/2006 Hồ hoà bình đã giữ lại lượng nước không điều tiết đẻđảm bảo dòng chảy cơ bản của sông Đà gây nên sự hạ thấp mực nước ở hạ dusông Hồng
Trên sông Đuống tại trạm Thượng Cát :
Mực nưởc trung bình thời kỳ 1988-2004 sau khi có hồ Hoà Bình trong các thángmùa kiệt cao hơn thời ky 1957-1987 trức khi có Hồ và đạt 0,07 m vào tháng II,0,33 m vào tháng III, 0,36 m vào tháng IV, 0,31 m vào thang V, riêng thang Imực nước lại giảm hơn 0,07 m Mực nước trung bình tháng về mùa lũ thời kỳ1988-2004 chỉ giảm đi so với thời kỳ từ 1957-1987 bắt đầu từ tháng VIII là -0,45
Do bị ảnh hưởng của Thuỷ triều mực nước trung bình các tháng mùa kiệt sau khi
có hồ Hoà Bình từ tháng I- V tăng so với trước khi có hồ từ 0,03 – 0,16 m Mực
Trang 17nước trung bình trong các tháng mùa lũ sau khi có hồ thực sự giảm từ tháng VIII,
IX, X với giá trị giảm trung bình đạt 0,19 m tại Cầu Xe, 0,23 m tại An Thổ vàotháng VIII, 0,01-0,05 m tại Cầu Xe và An Thổ từ tháng IX –XII Đặc trưng mựcnước xem ở bảng sau
Bảng 10 ĐẶC TRƯNG MỰC NƯỚC TRUNG BÙNH NHIỀU NĂM
TRƯỚC VÀ SAU KHI CÓ HỒ HOÀ BÌNH
Bảng 11 ĐẶC TRƯNG MỰC NƯỚC TRUNG BÌNH LƠN NHẤT
TRƯỚC VÀ SAU KHI CÓ HỒ HOÀ BÌNH
Trang 18Bảng 12 ĐẶC TRƯNG MỰC NƯỚC TRUNG BÙNH MIN THÁNG NHIỀU NĂM
TRƯỚC VÀ SAU KHI CÓ HỒ HOÀ BÌNH
Thời kỳ 1956-1987: tại trạm Hà Nội tổng lượng dòng chảy năm đạt 85,1 tỷ m3,
tỷ lệ phân qua sông Hồng là 75,9 % Tại trạm Thượng Cát là 27,5 tỷ m3 nước, với
tỷ lệ phân qua sông Đuống là 24,6 % Về mùa lũ tỷ lệ phân qua sông Hồng là74,2 %, qua sông Đuống là 25,9 %, về mùa cạn tỷ lệ này đạt 81,5 % qua sôngHồng, 19,6 % qua sông Đuống
Trang 19Thời kỳ 1988-2004: Tỷ lệ phân phối của dòng chảy năm qua sông Hồng là 76,0
% qua sông Đuống là 28,9 % Về mùa lũ tỷ lệ này đạt 73,0 5 qua sông Hồng,29,4 % qua sông Đuống, về mùa cạn tỷ lệ này đạt 81,5% qua sông Hồng và 27,2
% qua sông Đuống Như vây về dòng chảy năm, mùa lũ, mùa cạn tỷ lệ phânphối dòng chảy trung bình qua sông Đuống thời kỳ 1988-2004 đều tăng cao hơnthời kỳ 1956-1987
Bảng 12 Đặc trưng dòng chảy năm, mùa lũ, mùa cạn tại một số vị trí
Trạm Thời kỳ Dòng chảy năm Mùa lũ (VI-X) Mùa lũ (XI-V)
Qtb (m 3 /s)
Wtb (10 9
m 3 )
Tỷ lệ (%)
Qtb (m 3 /s)
Wtb (10 9
m 3 )
Tỷ lệ (%)
Qtb (m 3 /s)
Wtb (10 9
m 3 )
Tỷ
lệ (%) Sơn Tây 1956-1987 3560 112,1 100,0 6402 84,6 100,0 1315 24,1 100
1988-2004 3377 106,5 100,0 5845 77,3 100,0 1515 27,8 100
Hà Nội 1956-1987 2698 85,1 75,9 4748 62,8 74,2 1072 19,6 81,5
1988-2004 2566 80,9 76,0 4269 56,4 73,0 1288 23,6 84,9 Thượng
Cát 1956-1987 873 27,5 24,6 1656 21,9 25,9 257 4,7 19,6
1988-2004 975 30,7 28,9 1719 22,7 29,4 413 7,6 27,2
Trước khi có hồ Hoà Bình dong chảy năm chuyển qua sông Đuống là 27,5 tỷ m3
nước, dòng chảy năm ở phía dưới Phả Lai đạt tới 34,3 tỷ m3 (6,75 tỷ m3 thuộc lưuvực thượng du sông Thái Bình) Sau khi phân 48 % lượng nước này qua sôngKinh Thày còn lại 52 % lượng nước tương ứng là 17,8 tỷ m3 qua sông Thái Bình.Sau khi có hồ Hoà Bình lượng dòng chảy năm qua sông Đuống đạt 30,7 tỷ m3,dòng chảy qua sông Thái Bình vì thế mà tăng lên đạt 18,7 tỷ m3.Về mùa cạn,trước khi có hồ Hoà Bình dòng chảy bình quân mùa cạn qua sông Đuống là 4,7 tỷ
m3, sau khi có hồ Hoà Bình lượng dòng chảy mùa kiệt phân qua sông Đuông đạt7,6 tỷ m3, đạt tỷ lệ 27,2 % Xu thế dòng chảy kiệt tăng về phía sông Đuống sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho việc lấy nước dọc sông Đuống và sông Thái Bình vào hệthống
Trên sông Luộc tại Triều Dương tổng lượng dòng chảy năm phân qua sông này
là 8,5 tỷ m3 trước khi có hồ Hoà Bình, chiếm 7,8 % lượng nước của sông Hồngtại Sơn Tây và 10,0 % lượng nước sông Hồng tại Hà Nội Thời kỳ sau khi có hồHoà Bình không đo lưu lượng liên tục việc đánh giá tỷ lệ dòng chảy qua phân lưunày cong hạn chế Tuy nhiên so sánh mực nước trung bình qua 2 thời kỳ 1961-
1987 và 1988-2004 cho thấy mực nước trung bình thời kỳ 1988-2004 tăng 0,07 mvào tháng I, 0,15 m vào tháng II, 0,32 m vào tháng III, 0,25 m vào tháng IV, 0, 33
m vào tháng V Điều này đã phần nào tăng khả năng lấy nước vào các tháng mùakiệt dọc sông Luộc
Trang 20Bảng 13 Đặc trưng dòng chảy thang trước và sau khi có hồ Hoà Bình
04 1262 1189 1302 1483 2308 4891 8942 7622 4413 3359 2208 1433 Chên
Lệch -21 117 397 411 409 272 1284 1382- 2191 -766 -554- -246
Hà Nội 56-87 1044 887 763 906 1489 3464 5577 6603 4968 3130 2196 1371
88-04 981 941 1025 1898 1752 3479 6480 5560 3328 2501 1717 1121 Chên
Lệch -62 54 262 992 263 15 902
1043
-1640 -629 -480 -250 Thượng
Cát
57-87 237 177 155 187 406 1095 1978 2437 1697 1074 648 361 88-
04 336 310 347 406 639 1368 2718 2278 1279 928 628 405 Chên
Lệch 99 132 192 218 233 273 740 -159 -418 -146 -21 44
Lưu lượng lấy qua cống Xuân Quan phụ thuộc vào lưu lượng dong chính sôngHồng chảy qua Hà Nội Theo quy trình vận hành giai đoạn hoàn chỉnh thuỷ nôngnăm 1973 , đẻ đảm bảo tươi với P=85 % lưu lượng lấy qua cống Xuân quan là 75
m3/s tương ứng với mực nước là 1,85 m tại thượng lưu và 1,75 m hạ lưu cống Lưu lương vào cống Xuân quan hoàn toà phụ thuộc vào dòng chảy thực tế quatrạm Hà Nội Để đảm bảo mực nước tại Hà Nội duy trì liên tục ở mức 2,30 -2,40
m lưu lượng tại Hà Nội phải đạt mức 950 – 1015 m3/s Để xem xét quá trìnhdiễn biến của lưu lương chảy qua Hà nội trong giai đoạn trước khi có hồ (1956-1987) và giai đoạn sau khi có hồ Hoà Bình 1988-2004 cho thấy như sau
So sánh giá trị trung bình lưu lượng tháng nhiều năn cho thấy giai đoạn sau khi
có hồ Hoà Bình tháng I giảm so với trước khi có hồ là 62 m3/s, tăng 55,0 m3/s vàotháng II, tăng 262 m3/s vào tháng III Lưu lương trung bình tháng nhỏ nhất thời
kỳ trước khi có hồ (1956-1987) đo được 757 m3/s vaotháng I, 669 m3/s vào tháng
II, 605 m3/s vào tháng III, sau khi có hồ Hoà Bình (1988-2004) giá trị này đạt 619
m3/s vào tháng I, 582 m3/s vào tháng II, 641 m3/s vào tháng III Lưu lượng thấpnhất tuyệt đối đo được sau khi có hồ Hoà Bình đạt 514m3/s vào tháng I, 448 m3/svào tháng II, 385 m3/s vào tháng III Do lưu lượng quá nhỏ nên mực nước tại HàNội xuông rất thấp Mực nước Hà nội xuống thấp nhất là 1,38 m ngày20/2/2006
Trang 21Bảng 13 ĐẶC TRƯNG LƯU LƯỢNG THÁNG,TRUNG BÌNH THÁNG NHỎ
NHẤT, NHỎ NHẤT TUYỆT ĐÔITẠI TRẠM HÀ NỘI
5.1.3 Đánh giá về tài nguyên nước mặt
Nguồn nước sản sinh tại chỗ: Với lượng mưa năm trung bình nhiiêù năm trongvùng dự án là 1500 mm, diện tích lưu vực là 1920 km2, tổng lượng dòng chảynăm trung bình là 1,25 tỷ m3, Qo=39.5 m3/s, Mo=20,4 l/s/km2 Tuy nhiên lượngdòng chảy trên không được trữ lại bởi các công trình hồ chứa để phục vụ cho cácnhu cầu cấp nước vì đây là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Nguồn nướccung cấp cho hệ thống vào mùa khô chủ yếu là lấy từ sông Hồng qua cống XuânQuan với lưu lượng thiết kế là Q=75 m3/s, mực nước thượng lưu cống là 1,85 m
hạ lưu là 1,75 m P=85 % Mực nước sông Hồng tại Xuân Quan Lưu lượng lấyvào qua cống Xuân Quan phụ thuộc chủ yếu vào mực nước sông Hồng, trongnhững năm gần đây do sự vận hành của hồ chứa Hoà Bình, Thác Bà, mực nướctrong thời kỳ tháng I, II, III luôn hạ thấp quá nhiều so với mực nước thiết kết,lượng nước lấy vào hệ thống thường không đủ khi nhu cầu dùng nước cao nhất làtrong thời kỳ đổ ải, phải lấy nước ngược vào trong hệ thống từ Cầu Xe, An Thổ
5.2 Dòng chảy lũ:
5.2.1 Mục nước lũ noài sông:
Mực nước lũ ngài sông có ảnh hưởng tới việc tiêu thoát nước trong hệ thông.Trên sông Hồng tại Hà Nôi: Theo số liệu thống kế tới năm 1987, giai đoạn chưa
có ảnh hưởng của hồ chứa Hoà Bình, mực nước lũ cao nhất đạt 14,69 m trongtrận lũ tháng VIII/1971 (Mực nước đã được hoàn nguyên), Mực nước lũ trungbình lớn nất đạt 10,98 m thời kỳ 1956-1987 trước khi có hồ Hoà Bình và đạt10,95 m thời kỳ 1998-2004
Trang 22Tại thượng lưu Cống Xuân Quan: Mực nước lớn nhất trung bình đật 10,38 m(1960-1987), 10,47 m (1988-2004) Quan hệ mực nước lớn nhất giữa 2 thời kỳtrước và sau khi có hồ Hoà Bình cho thấy cùng một cấp mực nước tại Hà Nội,mực nước tại Xuân Quan thời kỳ 1988-2004 cao hơn mực nước thời kỳ 1960-
Trạm Hưng Yên: Mực nước lũ cao nhất đạt 8,41 m vào tháng 8/1971, mực nước
lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 6,49 m thời kỳ 1956-1987, 6,71 m thời kỳ1988-2004
Trang 23Trên sông Luộc tại Triều Dương: Mực nước lũ cao nhất là 7,71 m trong trận lũthang 8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 5,52 m thời kỳ1956-1987, 5,77 m thời kỳ 1988-2004.
Trên sông Luộc tại An Thổ: Mực nước lũ cao nhất là 2,92 m trong trận lũ tháng8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 2,40 m thời kỳ 1956-
1987, 2,67 m thời kỳ 1988-2004
Trên sông Đuống tại Thượng Cát : Mực nước lũ cao nhất là 13,39 m trong trận lũthang 8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 10,55 m thời kỳ1956-1987, 10,51 m thời kỳ 1988-2004
Trên sông Đuống tại Bến Hồ : Mực nước lũ cao nhất là 9,26 m trong trận lũthang 8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 7,49 m thời kỳ1956-1987, 7,90 m thời kỳ 1988-2004
Trên sông Thái Bình tại Cát Khê : Mực nước lũ cao nhất là 6,74 m trong trận lũthang 8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 5,14 m thời kỳ1956-1987, 5,26 m thời kỳ 1988-2004
Trên sông Thái Bình tại Cầu Xe : Mực nước lũ cao nhất là 2,84 m trong trận lũthang 8/1971, mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm đạt 2,32 m thời kỳ1956-1987, 2,25 m thời kỳ 1988-2004
Bảng số 14 Đặc trung mực nước lũ lớn nhất tại các trạm
do mưa nội đồng sinh ra Mực nước cao nhất tại thương lưu các công đạt 5,6 mtại Báo Đáp, 3,64 m tại Kênh Cầu, 3,31 m tại Lực Điền, 2,98 m tại Cống Tranh,2,8 m tại Bá Thuỷ, 2,76 m tại, Cống Neo, 2,8 m tại Cầu Cất
Trang 24Bản vẽ số 2 Xu thế biến đổi của mực nước cao nhất tại trạm Hà Nội
Bản vẽ số 3 Xu thế biến đổi của mực
nước cao nhất tại trạm Thượng Cát
Trang 25Bản vẽ số 4 Xu thế biến đổi của mực nước cao nhất tại trạm Bến Hồ
Bản vẽ số 5: Xu thế biến đổi của mực nước cao nhất tại trạm Triều Dương
Trang 26Bản vẽ số 6: Xu thế biến đổi của mực nước cao nhất tại trạm An Thổ
Bản vẽ số 7 Xu thế biến đổi của mực nước cao nhất tại trạm Cầu Xe
Lưu lượng lũ
Trận lũ tháng VIII/1971 là trận lũ lịch sử lớn nhất xảy ra trên lưu vực
Trang 27sông Hồng Tại Sơn Tây Qmax hoàn nguyên đạt 37.800 m3/s tương ứngvới mực nước lũ là 19,8 m, tại Hà Nội Q max là 25.000 m3/s tương ứngvới mực nước lũ hoàn nguyên là 14,69 m, tại Thượng cát trên sôngĐuống là Q max là 9150 m3/s tương ứng với H max là 13,39 m, tại CátKhê trên sông Thái Bình Q max là 6420m3/s, H max là 6,74 m, tại TriềuDương trên sông Luộc Q max là 2460m3/s, H max là 7,71 m,
Bảng 15 Đặc trưng lưu lương, mực nước lũ lớn nhất tại các vị trí
Trạm Sông Q ma x Hma x
Thời gian quan trắc Ghi chú (m 3 /s) (m)
Sơn Tây Hồng 37800 19,80 21/8/1971 Hoàn nguyên
Hà Nội Hồng 25000 14,69 22/8/1971 Hoàn nguyên
Thượng Cát Đuống 9150 13,39 22/8/1971 Thực đo
Cát Khê Thái Bình 6420 6,74 23/8/1971 Thực đo
Triều Dương Luộc 2460 7,71 22/8/1971 Thực đo
Xu thế biến đổi của lưu lượng lũ tại các trạm cho thấy
Lưu lượng lũ: Lưu lượng lũ lớn nhất năm có xu hướng giảm tại các trạm SơnTây, Hà Nội và tăng tại trạm Thượng Cát Với cùng cấp Qmax tại Sơn Tây, thời
kỳ 1988-2004 giá trị Qmax tại thượng Cát tăng lên so với thời kỳ 1958-1987,xem bản vẽ số 8 Xu thế biến đổi Qmax theo thời gian tại các trạm xem các bản
vẽ số 9,10,11
Bản vẽ số 8 Quan hệ Q max giữa Sơn Tây và Thượng Cát
Trang 28Bản vẽ số 9 Xu thế biến đổi của Qmax tại trạm Thượng Cát
Bản vẽ số 10 Xu thế biến đổi của Q max tại trạm Sơn Tây
Bản vẽ số 10 Xu thế biến đổi của Qmax tại trạm Sơn Tây
Trang 29Bản vẽ số 11 Xu thế biến đổi của Q ma x tại trạm Hà Nội
Từ kết quả phân tích trên cho thấy lũ bên sông Đuống có xu thế tăng cao trongthời kỳ 1988-2004, việc tiêu thoát nước lũ trong hệ thống Bắc Hưng Hải ra phíasông Đuống (nếu có) sẽ khó khăn hơn so với thời kỳ trước năm 1988
5.3: Chế độ thuỷ văn trong mùa kiệt
Về mùa kiệt dòng chảy trong sông chủ yếu là do nguồn nước ngầm cung cấp,dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất xuất hiện vào tháng III, giá trị này trước khi
có hồ Hoà Bình là 906 m3/s tại Sơn Tây tương ứng với mô só dòng chảy trungbình tháng là 6,3 l/s/km2, 764 m3/s tại Hà Nội , 157 m3/s tại Thượng Cát Sau khi
có hồ Hoà Bình trị số dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất lại xuất hiện vàotháng II đạt 1215 m3/s tại Sơn Tây, 946 m3/s tại Hà Nội, 316 m3/s tại ThượngCát.Tỷ lệ phân phối dòng chảy các tháng kiệt II, II, IV giữa Hà Nội Thượng Cátvới Sơn Tây cũng thay đổi qua hai thời kỳ như sau
Tại trạm Hà Nội trước khi có hồ Hoà Bình tỷ lệ này đat 81,1 % vào tháng I,82,6% vào tháng II, 84,3% vào tháng III Sau khi có hồ Hoà Bình tỷ lệ này giảmchỉ đạt 76,5 % vào tháng I, 77,8% vào tháng II, 77,4% vào tháng III
Tại trạm Thượng Cát trên sông Đuống tỷ lệ này đat 18,8 % vào tháng I, 16,9%vào tháng II, 17,4% vào tháng III Sau khi có hồ Hoà Bình tỷ lệ này tăng lên vàđạt 26,4 % vào tháng I, 26,8% vào tháng II, 26,7% vào tháng III
Như vây sau khi có hồ Hoà bình dòng chảy phân sang sông Đuống tăng cao hơn
so với trước khi có hồ Lưu lượng thấp nhất tuyệt đối trước khi có hồ Hoà bình từ
1902 tới 1987 tại Hà Nội là 330 m3/s (ngày 9/V/1960), tại Thượng Cát là từ
1957-1987 là 28,8 m3/s ngày 16/IV/1958 Sau khi có hồ Hoà Bình giai đoạn
Về mùa kiệt lưu lượng lấy vào hệ thống chủ yếu qua cống Xuân Quan, với lưulượng thiết kế là 75 m3/s và mực nước thiết kế là 1,85 m tại thượng lưu cống
Trang 30Bảng 15 Đặc trưng dòng chảy các tháng mùa kiệt
Trạm Thời kỳ tính Yếu tố XI XII I II III IV V
Sơn
Tây 1956-1987 Q(m 3 /s) 2762 1679 1286 1076 906 1067 1874
M(l/s/km 2 ) 19,2 11,7 9,0 7,5 6,3 7,4 13,1 1988-2004 Q(m 3 /s) 2208 1433 1292 1215 1346 1537 2268
M(l/s/km 2 ) 15,4 10,0 9,0 8,5 9,4 10,7 15,8
Hà Nội 1956-1987 Q(m 3 /s) 2196 1371 1043 888 764 901 1467
% QSơn Tây 79,5 81,7 81,1 82,6 84,3 84,5 78,3 1988-2004 Q(m 3 /s) 1717 1121 988 946 1042 1920 1713
% QSơn Tây 77,7 78,2 76,5 77,8 77,4 124,9 75,5 Thượng
Cát 1957-1987 Q(m 3 /s) 648 361 241 182 157 185 418
% QSơn Tây 23,5 21,5 18,8 16,9 17,4 17,4 22,3 1988-2004 Q(m 3 /s) 623 394 341 316 359 424 647
% QSơn Tây 28,2 27,5 26,4 26,0 26,7 27,6 28,5
Giai đoạn 1956-1987 lưu lượng thấp nhất đạt 380 m3/s ngày 8/V/1960 tại SơnTây, 314 m3/s ngày 09/V/1960 tại trạm Hà Nội trên sông Hồng, 26,0 m3/s tạingày 28/IV/1958 Thượng Cát trên sông Đuống Giai đoạn 1988-2005 lưu lượngnhỏ nhất đạt 460 m3/s tại ngày 23/II/1989 Sơn Tây, 448 m3/s ngày 23/II/1989 tại
Hà Nôi, 90,5 m3/s ngày 4/V/1988 tại Thượng Cát Mực nước sông Hồng tại HàNội xuống rất thấp vào thang I chỉ đạt 1,38 m ngày 20/II/2006 và 1,12 m ngày23/II/2007, mực nước tại thượng lưu cống Xuân Quan xuống rất thấp vào tháng
II là 1,00 m ngày 20/II/2006, 0,78 m lúc 19h ngày 23/II/2007 Sự hạ thấp mựcnước tại Hà Nội và Xuân Quan do tác động vận hành của hồ chứa Hoà Bình,Thác Bà, Tuyên Quang đã gây trở ngại lớn cho việc lấy nước vào hệ thông BắcHưng Hải Tại cống Xuân Quan nhiều giờ mực nước trong cống cao hơn mựcnước ngoài cống, do vậy nước trong đồng chảy ngước ra sông
Bảng 16 Đặc trưng lưu lượng nỏ nhất các tháng mùa kiệt (m3/s)
Trạm Tời XI XII I II III IV V Qmin Thời gian
Trang 31kỳ thống
Sơn Tây 56-87 1290 850 770 614 490 510 380 380 8/V/1960
Hà Nội 56-87 1030 740 670 570 436 366 314 314 9/V/1960
88-05 758 520 514 448 448 462 548 448 23/II/1989 Thượng
Bảng 17 Đặc trung về dòng chảy bùn cát tại một số vị trí
Trang 325.5 Thuỷ triều và xâm nhập mặn
Về mùa cạn ảnh hưởng của thuỷ triều trên sông Hồng có thể đạt giới hạn tối đavới khoảng cách 180-185 km từ biển, thực tế phía thượng lưu Hà Nội khoảng trêndưới 5-10 km Nếu dùng số liệu thực đo mực nước từng giò trong mùa cạn từtháng I tới tháng IV, của các trạm dọc sông Hồng từ Ba Lạt tới Hà Nội cho thấygiao động triều tại Hà Nội về mùa cạn có thể đạt từ 8-10 cm như trường hợp mựcnước trong 2 giờ từ ngày 28-30/III/1965 tại Hà Nội biên độ triều lớn nhất là 0.08
m ngày 28/III/1965 ứng với biên độ triều trong ngày tại Hòn Dấu là 2.67 m Ảnhhưởng của thuỷ triều về mùa cạn rõ nhất là từ dưới cống Xuân Quan 10 km trởxuống
Sông Đưống có độ dốc khá lớn , thuỷ triều xâm nhập không sâu, về mùa cạn chỉthường tới Bến Hồ với biên độ mực nước ngày nhỏ, trung bình ngày khoảng 0.20
m Tại trạm Thượng Cát không còn thấy ảnh hưởng của thuỷ triều
Trên sông Thái Bình về mùa cạn ảnh hưởng của thuỷ triều có thể lên tới cửasông Công trên sông Cầu, Bến Thôn trên sông Thương, Chũ trên sông Lục Nam Sông Luộc về mùa cạn chịu ảnh hưởng hoàn toà của thuỷ triều Tại Quý cao chỗnhập lưu của sông Luộc vào sông Thái Bình, chênh lệch triều lớn nhất đạt 2,25 m(tháng VII/1968 pha triiêù lên), 2, 26 m pha triều xuống
Bảng 19 MỰC NƯỚC ĐỈNH TRIỀU TRUNG BÌNH THÁNG (cm)
Thái Bình 86 74 74 85 104 154 209 241 120 161 132 109
Thái Bình -19 -25 -33 -19 12 90 168 209 185 102 51 3
Triều
Dương Luộc 68 51 38 50 36 191 290 308 314 229 199 148