LONG THỊ PHƯƠNG TÊ N Đ Ề T À I : “ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LỚP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHƯỢNG TIẾN, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI N
Trang 1LONG THỊ PHƯƠNG TÊ
N Đ Ề T À I :
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LỚP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHƯỢNG TIẾN, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh Tế & PTNT Khóa học : 2014 – 2018 Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu
Thái nguyên, năm 2018
Trang 2LONG THỊ PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LỚP TẬP HUẤN KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHƯỢNG TIẾN, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh Tế & PTNT Khóa học : 2014 – 2018 Hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Giảng viên hướng dẫn: ThS Lành Ngọc Tú
Thái nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp:“Đánh giá hiệu quả các lớp tập huấn trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu thực sự của bản
thân, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyênngành, tìm hiểu, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học
của ThS Lành Ngọc Tú.
Các số liệu, bảng biểu, và những kết quả trong khóa luận là trungthực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinhnghiệm hiện có
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Thái nguyên, ngày tháng 06 năm 2018
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực củabản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ từ các anh chị cơ sở thực tập và sựhướng dẫn chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn: ThS Lành Nọc Tú.Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế vàPhát triển nông thôn đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt quãng thời gian tôi họctập tại trường giúp tôi có thêm nhiều kiến thức về nông nghiệp nông thôn.Tôi xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Phượng Tiến đã giúp đỡ và tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu.Tôi xin cảm ơn đoàn tình nguyện viên Hàn Quốc cùng người dân xóm
Tổ đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ trong đợt thực tập cuối cùng này.Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm chăm sóc động viên tôitrong quá trình học tập tích lũy kiến thức
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Lành Ngọc Tú,người đã giảng dạy, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luậntốt nghiệp của mình
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2018
Sinh viên
Long Thị Phương
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phượng Tiến 29Bảng 4.2: Bảng diện tích một số cây trồng chính của xã Phượng Tiến năm
2015 - 2017 32Bảng 4.3: Một số vật nuôi chính của xã Phượng Tiến tính đến thời điểm
1/10/2017 34Bảng 4.4: Tình hình dân số vào lao động xã Phượng Tiến giai đoạn 2016 -
2017 36Bảng 4.5: Một số lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tại xã Phượng
Tiến năm 2015 47Bảng 4.6: Một số lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tại xã Phượng
Tiến năm 2016 48Bảng 4.7: Một số lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tại xã Phượng
Tiến năm 2017 50Bảng 4.8: Những lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và số lượng
người tham gia lớp tập huấn tại các xóm 53Bảng 4.9: Ý kiến đánh giá của người dân về các lớp tập huấn 55Bảng 4.10: Mức độ áp dụng khóa tập huấn của người dân vào thực tế 56Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng nội dung tập huấn trồng trọt
vào thực tế tại các xóm 58
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BGH Ban giám hiệu
BHYT Bảo hiểm y tế
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóaGTVT Giao thông vận tải
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kỹ thuật
NTM Nông thôn mới SU
Saemaul Unđong THCS
Trung học cơ sở UBND
Ủy ban nhân dân VH – TT
Văn hóa – thể thao
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
1 1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.Mục tiêu chung
2 1.2.2.Mục tiêu cụ thể 2
1.3.Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2.Ý nghĩa trong tực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
4 2.1.Cơ sở lý luận 4
2.1.1.Khái niệm về tập huấn và khuyến nông 4
2.1.2.Khái niệm về chương trình nông thôn mới
8 2.1.3.Một vài nét về xây dựng nông thôn mới
8 2.2.Cơ sở thực tiễn của đề tài 9
2.2.1.Chương trình nông thôn mới trên thế giới
9 2.2.2.Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam 16
2.2.3.Chương trình nông thôn mới tại Định Hóa
19 2.2.4.Chương trình nông thôn mới tại xã Phượng Tiến 20
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
Trang 93.3.Nội dung nghiên cứu 23
3.4.Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1.Phương pháp chọn mẫu 24
3.4.2.Phương pháp thu thập số liệu 24
3.4.3.Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Phượng Tiến 25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Phượng Tiến 25
4.1.2.Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 31
4.2.Đánh giá thực trạng của các khóa tập huấn trên địa bàn xã Phượng Tiến
45 4.2.1.Thực trạng đào tạo tập huấn và mức độ áp dụng các khóa tập huấn tại xã Phượng Tiến huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 45
4.2.2.Những lớp tập huấn và mô hình người dân áp dụng trên địa bàn các xóm
50 4.3.Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật từ các lớp tập huấn 57
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 57
4.3.2 Hiệu quả xã hội 59
4.3.3 Hiệu quả môi trường 59
4.4 Một số thuận lợi, khó khăn của xã Phượng Tiến trong quá trình áp dụng nội dung tập huấn, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các lớp tập huấn 60
4.4.1.Thuận lợi 60
4.4.2.Khó khăn 61
4.4.3.Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả các lớp tập huấn 62
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1.Kết luận 63
5.2.Kiến nghị 64
5.2.1.Đối với nhà nước 64
5.2.2.Đối với người dân 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn có tầm chiến lược của Đảng vàNhà nước Trong thời gian qua cấp ủy chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo,chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp và huy động tối đa nguồn lực.Sau nhiều năm thực hiện chương trình đã đem lại cho người dân cuộc sống sung túchơn Tuy nhiên, cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao thì sự chênh lệch giữa thunhập và mức sống dân cư khu vực nông thôn và thành thị ngày càng lớn Tốc độphát triển không đều cũng diễn ra giữa các khu vực ở nông thôn, đặc biệt là khu vựcmiền núi Có rất nhiều khó khăn ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông thôn như:
tỷ lệ đói nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phươngthức sản xuất kém hiệu quả… ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông thôn, xâydựng nông thôn mới Trước tình hình đó để xây dựng nông thôn mới chính phủ đãđưa ra 19 tiêu chí, trong đó tiêu chí 10 và 11 là tăng thu nhập và giảm tỷ lệ hộnghèo Để tăng thu nhập cho người dân cần có các biện pháp tác động vào ngườitrực tiếp sản xuất đó là tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho người nông dân Cáclớp tập huấn góp phần nâng cao nhận thức, kỹ thuật sản xuất của người nông dân
Từ đó nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo nâng cao đời sống của người dân khuvực nông thôn đáp ứng được tiêu chí số 10 và 11 trong bộ tiêu chí quốc gia xâydựng nông thôn mới
Hiện nay Phượng Tiến là một xã khó khăn của huyện Định Hóa, tỉnh TháiNguyên Trong những năm vừa qua, thực hiện chương trình NTM với sự phấn đấukhông ngừng của cán bộ các cấp ngành địa phương, và sự nỗ lực của người dân xãPhượng Tiến đã đạt được những thành quả nhất định Như hộ gia đình ông HoàngVăn Anh qua lớp tập huấn chăn nuôi thủy sản ông đã áp dụng nội dung vào thực tế.Ông cho biết: “Với gần 6 sào ruộng (trong đó 1,5 sào làm chuôm), tôi đã thả khoảng5.700 con cá giống gồm cá chép, trôi và rô-phi đơn tính Trong khoảng hơn 2 tháng
Trang 11chăm sóc, thu được trên 2 tạ cá, trừ mọi chi phí còn lãi khoảng 8 triệu đồng tiềnlãi/lứa”[6].Tuy nhiên số hộ gia đình áp dụng được các nội dung tập huấn còn ít chonên tốc độ giảm nghèo vẫn còn chậm, đời sống nhân dân chưa cao Hiệu quả củacác chương trình NTM chưa rõ rệt.
Nhận thấy tầm quan trọng của các khóa tập huấn và sự nhất trí của BGH nhà
trường tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả các lớp tập huấn trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Phượng Tiến -Định Hóa - Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá các lớp tập huấn về chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên địa bàn xãPhượng Tiến, huyện Định Hóa Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình ápdụng các lớp tập huấn vào thực tế Đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao hiệu quả của các lớp tập huấn, góp phần quan trọng trong xây dựngnông thôn mới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phượng Tiến
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của người dân xã Phượng Tiến trongquá trình áp dụng nội dung các lớp tập huấn vào thực tế
- Đưa ra một số nguyên nhân, giải pháp nâng cao hiệu quả các lớp tập huấn,nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình nông thôn mới
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên củng cố được những kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế,củng cố lý thuyết đã học và biết cách thực hiện một đề tài
- Giúp sinh viên xác định được các phương pháp học tập và làm việc một cách
có hiệu quả
Trang 12- Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên có điều kiện học hỏi, củng cốkiến thức, kỹ năng chuyên môn cho bản thân sau khi ra trường sẽ thực hiện tốt côngviệc đúng chuyên ngành của mình.
- Kết quả của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho cho các nghiên cứu tiếp theo tại
xã Phượng Tiến, Huyện Định Hóa
1.3.2 Ý nghĩa trong tực tiễn
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương đưa ranhững kết luận mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển để các khóa tậphuấn sau đạt hiệu quả cao hơn
- Góp phần cho việc xây dựng nông thôn mới tại địa bàn xã Phượng Tiến
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về tập huấn và khuyến nông
Tập huấn là một khái niệm chỉ quá trình huấn luyện, hướng dẫn nhằm nângcao kỹ năng nghiệp vụ tập huấn cho cán bộ phụ trách chuyên môn Tức là khôngngừng bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ tập huấn Phổ biến cho cán bộ về các chủtrương chính sách mới Nâng cao kỹ năng lên lớp và giảng dạy Tập huấn đối tượng
là các cán bộ chuyên môn, khác với tập huấn là tập huấn khuyến nông tuy cũng làmột hoạt động tập huấn nhưng đối tượng của tập huấn khuyến nông là nông dân.Bắt đầu vào thời kỳ phục hưng (TK14) khi khoa học kỹ thuật ngày càng pháttriển với tốc độ cao thì việc phổ biến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nói chung, tiến bộ
kỹ thuật nông nghiệp nói riêng vào sản xuất ngày càng quan tâm
Khởi đầu là GS Rabelaiz (Pháp) đã làm công tác thống kê hiệu quả công táccủa những học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp ra trường từ những cơ sở đào tạo cóthực hành và không có thực hành Từ kết quả điều tra ông đã kết luận: Học sinh,sinh viên đào tạo ở những trường coi trọng thực tế thực hành khi ra công tác (đặcbiệt những năm đầu) có hiệu quả cao hơn những học sinh sinh viên tốt nghiệp ởnhững trường không coi trọng thực tế thực hành Từ đó ông đề ra phương pháp đàotạo là: Học phải đi đôi với thực hành và đó cũng chính là phương châm giáo dụccủa cha ông ta cho những thế hệ trẻ: “Học phải kết hợp với hành”
1661 GS Hartlib (Anh) đã viết cuốn “Tiểu luận về những tiến bộ học tập nôngnghiệp” đề cập rất sâu về học với hành trong nông nghiệp
1775 GS Heinrich Pastalozzi (Thuỵ Sỹ) đã thành lập 1 trường dạy nghề chocác trẻ em con nhà nghèo, trong đó có dạy nông nghiệp cách trồng trọt, chăn nôi,dệt vải lụa …
1806 GS Philip Emanuel (Thuỵ Sỹ) đã xây dựng 2 trường nông nghiệp thựchành ở Hofưyl Nội dung và phương pháp đào tạo cán bộ nông nghiệp ở đây đã có
Trang 14ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp đào tạo của các trường nông nghiệp châu Âu vàBắc Mỹ sau này …
Năm 1886 ở Anh sử dụng khá phổ biến từ “Extention” có nghĩa là “triển
khai-mở rộng” Trong công tác nông nghiệp khi ghép với từ “Agriculture” thành từ ghép
“Agricultural extention” có nghĩa là tăng cường triển khai, mở rộng phát triển nôngnghiệp Ở các trường đại học Cambridge, Oxford …cũng như trong các lĩnh vực sảnxuất nông nghiệp - nông thôn ở Anh sử dụng khá phổ biến từ “Agriculturalextention” Thời gian không lâu tất cả các quốc gia trên mọi châu lục đều sử dụngthống nhất từ Agricultural extention cho công tác phát triển nông nghiệp và pháttriển nông thôn Chữ Hán gọi là “khuyến nông” Agricultural extention thể hiện bảnchất, mục tiêu cơ bản của khuyến nông là mọi hoạt động nhằm:
Phát triển nông nghiệp: Sao cho diện tích cây trồng tăng, chủng loại cây trồng,vật nuôi phong phú, săng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi cao và chất lượng nôngsản phẩm tốt…đời sống người dân nông thôn ngày càng được cải thiện Ra sức pháttriển nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại, mối quan hệ giữa mọi người dântrong cộng đồng ngày càng tốt đẹp … Chúng ta cần hiểu và phân biệt sự khác nhaurất cơ bản Khuyến nông (khuyến công, khuyến diêm, khuyến học …) với khuyếnmại nông nghiệp Theo nghĩa Hán văn: Khuyến là khuyến khích, khuyên bảo người
ta nên làm một việc nào đó Khuyến học là khuyên bảo, khích lệ, tạo những thuậnlợi gắng sức học tập tốt… Khuyến nông là khuyến khích, tạo mọi thuận lợi làm chonông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển Khuyến mại nông nghiệp chỉ quan tâmchủ yếu đến lợi nhuận cho những cá nhân hay nhóm doanh nhân nào đó mà khônghoặc rất ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất của người nông dân Ví dụ: một đại lýkinh doanh vật tư nông nghiệp họ chỉ quan tâm đến làm thế nào để mua rẻ, bán đắt;làm thế nào bán được nhiều phân bón, bán được nhiều giống cây trồng vật nuôi để
có lợi nhuận cao Họ không quan tâm đến hướng dẫn và theo dõi kết quả nông dân
sử dụng những vật tư đó Thậm chí những vật tư phân bón đã mất chất lượng, giống
bị lẫn, giống không đúng chủng loại vẫn nói hay, tuyên truyền tốt, khuyến mại tốt
Trang 15để bán được nhiều, thu lời lớn …điều này trái ngược hẳn với bản chất và mục đíchcủa khuyến nông.
Khuyến nông “Agricultural extention” là 1 thuật ngữ khó xác định thống nhấtbởi vì để đạt được mục tiêu cơ bản sao cho nông nghiệp phát triển, nông thôn pháttriển các nước khác nhau, các nhà khuyến nông khác nhau, nông dân khác nhauhiểu khuyến nông có khác nhau, do bởi khuyến nông:
Tổ chức bằng nhiều cách Mỗi quốc gia khác nhau có những cách tổ chứckhuyến nông khác nhau Mục tiêu cụ thể khuyến nông đối với nước công nghiệpphát triển khác với nước nông nghiệp và nông nghiệp lạc hậu có khác nhau
Phục vụ cho nhiều mục đích: Phát triển trồng trọt, chăn nuôi, chế biến bảoquản nông sản, thú y, bảo vệ thực vật, tổ chức quản lý sản xuất có khác nhau Mỗitầng lớp nông dân khác nhau hiểu nghĩa khuyến nông khác nhau Người trồng trọt,chăn nuôi …; người giàu, nghèo khác nhau hiểu khuyến nông khác nhau Ngườigiàu, trình độ dân trí cao cần thông tin và kinh nghiệm tổ chức sản xuất; ngườinghèo mong muốn ở khuyến nông sự huấn luyện và tài trợ
Khuyến nông, hiểu theo nghĩa rộng, là khái niệm chung để chỉ tất cả những
hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn
Như trên đã nói bởi khuyến nông hoạt động lĩnh vực rộng, cho nhiều đối tượngkhác nhau… nên đến nay trên thế giới có khá nhiều định nghĩa khuyến nông khácnhau: Theo một số tác giả, Hiện nay có hàng trăm định nghĩa khuyến nông Ví dụ:Peter Oakley & Cristopher Garferth Khuyến nông là cách đào tạo thựcnghiệm dành cho những người dân sống ở nông thôn Đem lại cho họ những lờikhuyên và những thông tin cần thiết giúp giải quyết những vấn đề khó khăn trở ngạicủa họ Khuyến nông cũng nhằm mục đích nâng cao năng suất, phát triển sản xuất.Hay nói một cách khái quát là làm tăng mức sống cho người nông dân
Thomas: Khuyến nông là ý tổng quát chỉ mọi công việc có liên quan đến pháttriển nông thôn Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó người lớn
và trẻ em được học bằng cách thực hành
Trang 16Adams: Khuyến nông là tư vấn cho nông dân giúp họ tìm ra những khó khăntrở ngại trong cuộc sống và sản xuất, đồng thời đề ra những giải pháp khắc phục.Khuyến nông còn giúp cho nông dân nhận biết những cơ hội của sự phát triển.Maunder: Khuyến nông như một dịch vụ hay một hệ thống giúp cho nông dânhiểu biết phương pháp canh tác, kỹ thuật cải tiến tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập.Làm cho mức sống của họ tốt hơn và nâng cao trình độ giáo dục của nông dân.
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) Khuyến nông bao hàm các ý: Cung cấpnhững hiểu biết về kỹ thuật và tổ chức quản lý sản xuất cho nông dân; Là quá trìnhđào tạo phi chính quy; Truyền đạt thông tin cho nông dân; Là thiết kế thực hiện cáchoạt động giúp nông dân để: Nâng cao sản lượng nông nghiệp, nâng cao hiệu quảsản xuất cải thiện mức sống và thu nhập cho nông dân, cải tiến phương pháp và kỹthuật canh tác Nâng cao hiểu biết và kỹ năng sản xuất nâng cao địa vị xã hội chonông dân Là quá trình chuyển tải TBKT từ cơ quan nghiên cứu đến nông dân.Năm 2000 Cục Khuyến nông Việt Nam, tổng hợp từ nhiều khái niệm khuyếnnông của các quốc gia, các tác giả và đúc kết thực tiễn hoạt động khuyến nông củanước ta đã đề xuất khái niệm khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo
và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủtrương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm vềquản lý kinh tế, những thông tin về thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyếtđược các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đờisống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới” Khái niệmtrên đã thể hiện rõ bản chất công việc cũng như mục tiêu cuối cùng của Khuyếnnông là:
Hoạt động khuyến nông thực chất là làm công tác đào tạo nông dân (truyềnthông - huấn luyện nông dân) Nông dân biết và tự quyết mọi hành động của họ.Nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá,
xã hội …cho người nông dân [2]
Trang 172.1.2 Khái niệm về chương trình nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộngđồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khangtrang, sạch đẹp Phát triển sản xuất toàn diện trong mọi lĩnh vực nông nghiệp, côngnghiệp và dịch vụ, nếp sống văn hoá của người dân được cải thiện, môi trường và
an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của ngườidân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề về kinh tế - xã hội, mà làvấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho bộ mặt nông thôn được hoàn toàn thay đổi,nhận thức của người dân được nâng cao Việc đó phần nào giúp cho nông dân cóniềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thônphát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh [10]
2.1.3 Một vài nét về xây dựng nông thôn mới
Trong giai đoạn hiện nay 2015 – 2017 cùng với sự phát triển chung của cảnước Nông nghiệp - nông dân - nông thôn ở nhiều địa phương đã đạt được nhữngthành tích khá toàn diện Trong đó ngành nông nghiệp tiếp tục được phát triển tốt,tốc độ khá do đẩy mạnh và tiếp cận các ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơcấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa nên năng suất chất lượng hiệuquả trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được nâng cao Tình hình nông dân đãtừng bước khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng vàcủng cố Nâng cấp đời sống tinh thần của nhân dân được cải thiện, công tác xóa đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm thu được kết quả quan trọng, hệ thống chính trị cơ
sở được tăng cường, quyền dân chủ trong nhân dân được phát huy, tình hình an ninhchính trị trật tự trị an toàn xã hội được giữ vững
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn ở địaphương chúng ta đang cần phải đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết đó là: sựphát triển về kiến trúc cơ sở hạ tầng - văn hóa xã hội, môi trường nông thôn phần
Trang 18lớn là còn mang tính tự phát triển định hướng, công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và đổi mới phương thức sản xuất trong nông dân - nông thôn còn chậm Côngnghiệp - Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ ở địa phương chiếm tỷ trọng thấp, nôngnghiệp phát triển thiếu bền vững, năng suất lao động thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế xãhội chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống của người dân Tỷ lệ lao độngnông thôn chưa qua đào tạo còn cao, nông dân còn thiếu công ăn việc làm dẫn đếnnguồn thu nhập thấp
Trước tình hình đó Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thônmới nhằm thay đổi một cách làm căn bản toàn diện bộ mặt của nông thôn Tạo độnglực trong phát triển nông nghiệp nông dân và nông thôn Nâng cao đời sống vật chấttinh thần của người dân Do vậy, xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng hợp
về phát triển nông thôn với 05 nội dung cơ bản đó là: Nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, năng lực của người dân phát triển kinh tế xã hội, phát triển sản xuất vàxây dựng các hình thức sản xuất có hiệu quả trong nông thôn, phát triển văn hóa -
xã hội, môi trường và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Nhằm nâng cao đờisống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, mục đích là thu hẹp khoảng cáchgiữa người nông thôn và thành thị, tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp,công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn, góp phần thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương đất nước
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Chương trình nông thôn mới trên thế giới
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiệnnay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộngđồng thế giới Hiện nay nhiều nước trên thế giới đang thực hiện chương trìnhnông thôn mới như:
Tại Mỹ chương trình “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp.Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủcho hầu hết các vùng của đất nước Nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng
Trang 19khắp cho những nơi thiếu mưa Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăngcường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngànhnông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồngrất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo nhữngmáy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúpphát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốctrừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường là quá phổ biến.Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieotrồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sảnphẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hảisản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá Ngành nông nghiệp Mỹ đã pháttriển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra đểphản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh
tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nôngnghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đìnhcho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đailớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giốngnhư một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo raquy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớnhơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trangtrại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởinhững cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máymóc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại vàtrung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế
kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích
190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rấtmạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên
90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số
Trang 20nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trangtrại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêmthu nhập cho mình [13]
Nhật bản: “ mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hìnhthành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triểnvùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của
cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗilàng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công củaphong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đấtnước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốcgia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thànhcông nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinhnghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được nhữngngười sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khuvực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là pháttriển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình.[13]
Hàn quốc: “ Phong trào làng mới”
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốcchỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điệnthắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nướcnông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất củachính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo Phong trào Làngmới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệplực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệuquả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nôngdân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giaothông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng
Trang 21được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụngcanh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tănggiá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ởnông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân.
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong
8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối vớiđường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đườngngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (HànQuốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồchứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất vàcác tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bànbạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phươngtiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975,trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó,tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao,giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúcđẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã
có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngưnghiệp cho biết : Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mìnhvươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được HànQuốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nôngthôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật
tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự ánnào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thicông, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi
Trang 22làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phongtrào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các
dự án
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sảnxuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới,khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựngvùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn đểchế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vaythúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tănglên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định nhân
tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinhthần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia
và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài trợ mởcác lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹnăng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hộiđồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai,dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương.Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựachọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiếtlập lại các HTX kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dânbầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đadạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nôngsản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bìnhquân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Trang 23Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàndân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tậphuấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầutất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970,phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đâyđược coi là một kỳ tích của phong trào SU Phong trào SU của Hàn Quốc đã biếnđổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹphơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tíchlũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã gópphần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có [13]
Thái Lan: “sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước”
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thônchiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nôngnghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cánhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong tràohọc tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học vàcác hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cườngcông tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranhvới các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh côngtác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý,
từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phụchồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn cóliên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học,phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lượctrong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nôngnghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc,góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông
Trang 24nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điệnvừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tậptrung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệpnông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyềnthống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cânđối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nôngnghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biếnnông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp pháttriển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờmột số chính sách sau:
Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất
của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lạimặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chấtlượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa,tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu chochế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển vàcàng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị chonông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chươngtrình Quỹ làng
Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường
xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, TháiLan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thếgiới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân cóhành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho ngườitiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợcho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, thực phẩm
Trang 25chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ,Nhật Bản và EU chấp nhận.
Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu
hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước
để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa chocác quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuấtkhẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước
để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chếbiến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhàmáy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấugiá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiếncông nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệpchế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong
Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác
xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chếbiến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chếbiến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệpxúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ vàkhoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; BộĐầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn [13]
2.2.2 Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam
Chương trình phát triển nông thôn mới ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn là cơ quan đầu mối, triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia vềnông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 (Thủ tướng chính phủ, 2010) [12]
Chương trình này gồm 11 nội dung: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Pháttriển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thunhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chứcsản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát
Trang 26triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thôngtin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địabàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Với 11 nội dung này, chương trìnhnông thôn mới có 19 tiêu chí để đánh giá Việc triển khai chương trình nông thônmới lấy xã là xuất phát điểm Các địa phương xây dựng nông thôn mới từ xã, nếuđạt tiêu chí đánh giá thì được công nhận là xã nông thôn mới, huyện nông thôn mới
và tỉnh nông thôn mới (Thủ tướng chính phủ, 2009) [11]
Điều đáng chú ý ở đây là cần làm rõ cụm từ “nông thôn mới” Một số ngườicho rằng, sự “mới” của nông thôn ở đây là mới về các tiêu chí đánh giá sự phát triểnnông thôn mới và mới ở xuất phát điểm từ xã Việc đánh giá nông thôn theo một hệthống các tiêu chí về kinh tế, chính trị, xã hội, tổ chức là khá toàn diện và được coi
là mới
Theo quyết định 491/QĐ-Ttg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng chínhphủ về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới có 3 Bộ tiêu chí đánh giá sự phát triểnnông thôn bao gồm: Bộ tiêu chí cho cấp Xã nông thôn mới, Huyện nông thôn mới
và Tỉnh nông thôn mới Bộ tiêu chí của xã nông thôn mới gồm 19 tiêu chí: Quyhoạch (1 tiêu chí); Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại (8 tiêu chí);Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí); Văn hóa- xã hội-môi trường (4 tiêu chí); Hệthống chính trị (2 tiêu chí)
Nếu đạt được 19 tiêu chí đó thì được công nhận là xã nông thôn mới Tiêu chíđánh giá huyện nông thôn mới là những huyện phải có 75% số xã đạt tiêu chuẩn xãnông thôn mới Tỉnh nông thôn mới phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt tiêu chuẩnhuyện nông thôn mới (Thủ tướng chính phủ, 2009) [11]
Như vậy, cái “mới” trong chương trình phát triển nông thôn là nhìn nhận sựphát triển nông thôn mang tính tổng hợp và đa ngành và xã phải đạt được 19 tiêuchí trên Đây là cách nhìn nhận toàn diện và phù hợp Các nước châu Á, nhất làĐông Á như Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc cũng có nhiều kinh nghiệm khácnhau trong chọn điểm xuất phát cho phát triển nông thôn Các tiêu chí trong Bộ tiêu
Trang 27chí quốc gia về nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quantrọng và có tính chiến lược để thực hiện thành công Nghị quyết 26-NQ/TW của Hộinghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X về phát triển nông nghiệp,nông dân, nông thôn, là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân của Ðảng, nhànước, đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực Trong 03 năm qua, Chínhphủ cùng các Bộ, ngành, các cấp ủy, chính quyền cùng cả hệ thống chính trị vàđông đảo nhân dân đã chung vai, góp sức thực hiện Chương trình và đã đạt đượcnhiều kết quả quan trọng; tạo nên nhiều chuyển biến mới trong nông nghiệp, bộ mặtnông thôn được đổi mới, đời sống nông dân được nâng lên Nông nghiệp, giữ đượcmức tăng trưởng ổn định, phát triển tương đối toàn diện; năng suất, chất lượngnhiều loại cây trồng vật nuôi được nâng lên; sản xuất tăng thu nhập, xóa đói giảmnghèo đạt được nhiều tiến bộ; đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết sản xuất hiệu quảdựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ Xây dựng nông thôn mới đã trở thànhphong trào quần chúng sôi nổi và tương đối đều khắp trong cả nước; bộ máy chỉ đạothực hiện từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức thống nhất, đồng bộ Các cơ chếchính sách được ban hành khá đồng bộ và kịp thời Nhận thức về Chương trình từcác cấp ủy, chính quyền đến người dân được nâng cao; công tác quy hoạch, lập đề
án xây dựng nông thôn mới, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có chuyển biến rõ rệt.Nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng, mặc dù ngân sách Trungương hỗ trợ còn có hạn, nhưng các địa phương đã chủ động sử dụng nguồn lực từngân sách địa phương, lồng ghép từ các chương trình, dự án khác, từ các nguồn vốntín dụng và thu hút, huy động mạnh mẽ sự tham gia của các doanh nghiệp và đónggóp tự nguyện của người dân Công tác kiểm tra giám sát được tăng cường Vai tròcủa hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố và nâng lên Quyền và vai trò làmchủ của nhân dân được đề cao, vai trò lãnh đạo của Ðảng ở nông thôn được tăngcường, an ninh trật tự ở nông thôn được giữ vững Ðời sống của nông dân được cảithiện rõ rệt, an sinh xã hội ngày càng được đảm bảo; các điều kiện về giáo dục, y tế,văn hóa tiếp tục được cải thiện Theo báo cáo tổng hợp của Ban Chỉ đạo, đến nay có
185 xã đạt 19 tiêu chí; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước tăng từ 4,7 tiêu
Trang 28chí/xã năm 2011 lên 8,47 tiêu chí/xã năm 2014; có 93,1% số xã hoàn thành quyhoạch chung; 81% số xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; có khoảng trên9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, bao gồm: mô hìnhsản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn, gắnsản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân;thu nhập của dân cư nông thôn năm 2013 tăng hơn 1,8 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộnghèo nông thôn đến hết 2013 là 12,6%, giảm bình quân 2% năm trong thời điểmkinh tế khó khăn [14].
Chương trình xây dựng nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt đượcmột số kết quả quan trọng về kinh tế-xã hội và kinh nghiệm tổ chức chỉ đạo của cácngành, các cấp: Chủ trương lấy xã làm điểm xuất phát để phát triển nông thôn làphù hợp với yêu cầu và điều kiện nước ta hiện nay và đáp ứng được nguyện vọngcủa dân cư nông thôn Xã là cấp hành chính cuối cùng, có tư cách pháp lý để triểnkhai các hoạt động kinh tế-xã hội cho phát triển nông thôn Đã bước đầu xác địnhđược những cơ chế, chính sách cần đổi mới như phân cấp đầu tư xây dựng cơ bảncho huyện và xã, phát huy sự dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới, chínhsách đất đai và phát triển hạ tầng nông thôn và giải pháp cho dồn điền đổi thửa đểphát triển sản xuất, cơ chế, chính sách tài chính, cơ chế quản lý xây dựng cơ bản các
cơ sở hạ tầng phù hợp với chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới Tuynhiên có một số vấn đề bất cập nổi lên dưới đây đã làm giảm hiệu lực và hiệu quảcủa các nỗ lực đầu tư của nhà nước, của xã hội vào phát triển nông thôn
2.2.3 Chương trình nông thôn mới tại Định Hóa
Huyện Định Hóa hiện có 23 xã thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia xâydựng NTM, đến nay đã có 5 xã đạt chuẩn NTM bao gồm: Phượng Tiến, Bảocường, Đồng Thịnh, Phúc Chu, Trung Hội Hết năm 2017 phấn đấu thêm 3 xã vềđích NTM, thu nhập bình quân khu vực nông thôn tăng 14,2 triệu đồng/người/năm
so với năm 2011, nhận thức về chương trình xây dựng NTM của cán bộ, đảng viên
và nhân dân từng bước được nâng cao, hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư xâydựng, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới [9]
Trang 29Cùng với Chương trình xây dựng NTM, Chương trình giảm nghèo được triểnkhai tích cực tại địa phương, toàn huyện hiện có trên 27% hộ nghèo, nhiều chínhsách hỗ trợ về giáo dục đào tạo, nhà ở, chính sách tín dụng được triển khai đạt hiệuquả cao.
Bên cạnh đánh giá hiệu quả trong việc triển khai các chương trình, thông quaviệc khảo sát tại cơ sở, các đại biểu đoàn công tác đã đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt lànhững tồn tại trong công tác rà soát hộ nghèo; tình trạng sai sót thông tin trong cấpthẻ BHYT; vấn đề hiệu quả trong đào tạo nghề; một số địa phương chưa kịp thời ràsoát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chung và đề án xây dựng NTM giai đoạn 2016
- 2020, vấn đề giám sát đầu tư của cộng đồng còn mang tính hình thức[9]
2.2.4 Chương trình nông thôn mới tại xã Phượng Tiến
Nhận được sự quan tâm của nhà nước và cấc cấp chính quyền xã Phượng Tiếnhuyện Định Hóa đã dựa vào điều kiện thực tế của địa phương, xây dựng các dự ánphát triển phù hợp như: nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệuquả, đẩy mạnh công tác thủy lợi gắn với nuôi trồng thủy sản, khuyến khích pháttriển tiểu thủ công nghiệp… và đã có những kết quả bước đầu Đặc biệt xã PhượngTiến ngoài nhận được sự quan tâm của chính phủ còn nhận được sự quan tâm vàđầu tư của chính phủ Hàn Quốc Mở ra cho địa bàn xã một tương lai mới với nhiều
cơ hội phát triển và thay đổi cuộc sống của người dân trên địa bàn
Thực hiện Chương trình xây dựng NTM của tỉnh giai đoạn 2011-2015, xãPhượng Tiến đã kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn và Ban quản lý chương trình xây dựng NTM Xã đãtiến hành tổ chức rà soát hiện trạng các hạng mục, tiêu chí của xã để xác định nhữngthuận lợi, khó khăn Qua đánh giá bước đầu, Phượng Tiến cơ bản đã đạt 9/19 tiêuchí, đó là: điện, bưu điện, y tế, văn hóa, hệ thống tổ chức chính trị - xã hội, an ninhtrật tự xã hội, hình thức tổ chức sản xuất, giao thông và trường học Hiện nay, xãđang tiếp tục tập trung vào công tác quy hoạch, xây dựng các mô hình sản xuất phùhợp với địa phương để tạo bước chuyển biến về kinh tế Trước tiên, xã phát huy tối
đa mọi nguồn lực đã và đang có như tập trung thâm canh các mô hình nông, lâm,
Trang 30ngư và tiểu thủ công nghiệp Đây là những bước đi quan trọng trong việc thúc đẩykinh tế, chuyển dịch ngành nghề, nâng cao thu nhập cho người nông dân Một trongnhững cách làm đem lại hiệu quả mà nông dân xã Phượng Tiến đang thí điểm đó là
mô hình nuôi cá ruộng Tuy đầu năm nay, do thiếu nước nên ảnh hưởng không nhỏđến việc nhân rộng mô hình nhưng xã đã thực hiện thí điểm cho 27 hộ nuôi cáruộng (tổng diện tích trên 3 ha với hơn 6 vạn con cá giống) Theo đó, mô hình nàyđang được triển khai trên 4 xóm: Nạ Liền, Nạ Què, Pa Trò và Pa Quải Anh HoàngVăn Anh, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã dẫn chúng tôi đi thăm mô hình củamột số hộ như: Hoàng Văn Bút, Hoàng Văn Đợi, Hoàng Văn Tứ, Lương VănHọc… Nhìn chung, các mô hình trên đều phát triển tốt Qua tìm hiểu, chúng tôi cònđược biết, gia đình anh Hoàng Văn Anh cũng là một trong những hộ thực hiện môhình này Anh cho biết: “Với gần 6 sào ruộng (trong đó 1,5 sào làm chuôm), tôi đãthả khoảng 5.700 con cá giống gồm cá chép, trôi và rô - phi đơn tính Trong khoảnghơn 2 tháng chăm sóc, thu được trên 2 tạ cá, trừ mọi chi phí còn lãi khoảng 8 triệuđồng tiền lãi/lứa” Do đó, chủ trương đầu tư xây dựng kênh mương nội đồng, phục
vụ tưới tiêu và nhân rộng mô hình sản xuất này là rất cần thiết và đang được tínhđến trong thời gian tới Rõ ràng đây là mô hình thâm canh rất phù hợp với bà connông dân và đặc biệt nó đem lại hiệu quả kinh tế cao” Anh cho biết thêm
Được biết, công tác trồng rừng sản xuất ở Phượng Tiến chưa bao giờ được đẩymạnh như hiện nay Trong 6 tháng đầu năm, diện tích trồng rừng của Phượng Tiếnđạt gần 130 ha, trong đó dự án trồng rừng sản xuất đạt 120 ha, trong khi kế hoạch
đề ra chỉ là 60 ha Nâng tổng diện tích phủ xanh của toàn xã lên 95% Nhìn chung,công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm tốt Về sản xuất tiểu thủcông nghiệp, trên địa bàn xã hiện có 2 doanh nghiệp tư nhân chế biến lâm sản và 1doanh nghiệp khai thác đá và vật liệu xây dựng Hiện tại, 3 doanh nghiệp này đanggóp phần giải quyết việc làm cho gần 60 lao động thường xuyên trên địa bàn vớimức thu nhập gần 3 triệu đồng/người/tháng Ngoài ra, mô hình chăn nuôi gà an toànsinh học cũng thu hút rất nhiều hộ gia đình tham gia bởi nó đem lại hiệu quả kinh tế
Trang 31cao Các mô hình chăn nuôi dê, gia súc, rau sạch, lúa bao thai cũng đã được quyhoạch và đi vào thực hiện.[6]
Mặc dù đã có những bước chuyển biến tích cực nhưng Phượng Tiến cũngđang phải đứng trước những khó khăn lớn Ông Mông Đức Quân, Bí thư Đảng ủy
xã, Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn của xã cho biết: Mặc dù xã có những thuận lợi và cơ bản đã đã đạtđược một số tiêu chí nhất định nhưng trước mắt còn rất nhiều thách thức, cần sự nỗlực của chính quyền và nhân dân Đến nay, việc quy hoạch và thực hiện quy hoạchvẫn là điều khó khăn nhất, đặc biệt là trong phát triển các khu dân cư mới Bởi vớiđặc thù của một xã miền núi, nhân dân sống không tập trung Bên cạnh đó, thu nhậpcủa nhân dân chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp (với 80% dân số làm nông nghiệp);
tỷ lệ hộ nghèo của xã còn khá cao (trên 33% với 322 hộ) trong khi tiêu chí củaNTM là dưới 10% Xã vẫn chưa có chợ để nhân dân giao lưu trao đổi hàng hóa.Một cái khó nữa là thu nhập bình quân theo đầu người/năm còn quá thấp (gần 5triệu đồng /người/năm)… Tất cả các yếu tố đó tác động không nhỏ đến việc xâydựng các tiêu chí khác như chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo, tăng thu nhập
và hình thức tổ chức sản xuất.[6]
Có thể nói, trước những nỗ lực của chính quyền và nhân dân, công cuộc xâydựng NTM của xã Phượng Tiến đã và đang có những chuyển biến tích cực Tuynhiên, do đặc thù của một xã miền núi có xuất phát điểm thấp nên gặp rất nhiều khókhăn cần sự đồng lòng chung sức của cấp Ủy, chính quyền và nhân dân Trong thờigian tới, xã cần tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân để họ hiểu rõ mục tiêuchính của Chương trình xây dựng NTM là nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho người dân nông thôn Từ đó, họ sẽ phát huy vai trò chủ động, tích cực trongviệc hưởng ứng, thực hiện Đây là vấn đề quan trọng để triển khai thực hiện các tiêuchí khác, đặc biệt là công tác quy hoạch và xây dựng các hạng mục công trình
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là những người dân, cán bộ đã tham gia các lớp tậphuấn, đào tạo kỹ thuật tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu một số ít lớp tập huấn nôngthôn mới và kết quả của một số chương trình đào tạo tập huấn sản xuất nông nghiệptrong ba năm 2015 - 2017 tại xã Phượng Tiến trên các khía cạnh: khả năng tiếpthu, mức độ áp dụng của người dân, nội dung và phương pháp tập huấn có hiệu quảkhông, tác động của tập huấn đến người nông dân, và hiệu quả của các lớp tập huấnđem lại
- Về thời gian: thu tập số liệu các lớp tập huấn trong ba năm 2015 – 2017
- Phạm vi nghiên cứu: là các xóm đại diện cho ba vùng của xã Phượng Tiến vềchương trình xây dựng NTM
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm : xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian tiến hành: từ 15/01/2018 đến hết ngày 30/05/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát về kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa,tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động đào tạo tập huấn tại 3 xóm: xóm Tổ, xóm Mấu,xóm Phỉnh
- Đánh giá hiệu quả các mô hình được áp dụng từ các lớp tập huấn
- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của người dân xã Phượng Tiến trong quá trình
áp dụng nội dung các lớp tập huấn vào thực tế, đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quảcác lớp tập huấn
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các lớp tập huấn
Trang 33- Khả năng tiếp thu nội dung các lớp tập huấn cao hay thấp và mức độ áp dụngnội dung tập huấn vào thực tế.
- So sánh số lượng vật nuôi, năng suất cây trồng của xóm nghiên cứu trước khi
áp dụng nội dung các lớp tập huấn và sau khi áp dụng nội dung các lớp tập huấn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Chọn lọc, kế thừa các báo cáo, tài liệu, tư liệu của các cơ quan chuyên mônthuộc xã Phượng Tiến như: báo cáo tổng kết năm 2015, báo cáo tổng kết năm 2016,báo cáo tổng kết năm 2017; đề án nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020, Tình hìnhđất đai và hiện trạng sử dụng đất năm 2017…
3.4.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Được tiến hành bằng việc điều tra phỏng vấn bằng bảng hỏi các hộ dân trongthôn, trao đổi thảo luận với cán bộ xóm qua các buổi họp Phỏng vấn trực tiếp đểđánh giá mức độ phát triển của hộ qua các năm
3.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Xử lý các thông tin định tính: các số liệu thu thập được biểu thị qua phươngpháp phân tích tổng hợp
- Xử lý các thông tin định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê, báocáo, quan sát phỏng vấn
- Xử lý các thông tin trên word và excel
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Phượng Tiến
4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Phượng Tiến
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Phượng Tiến là một xã miền núi của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên XãPhượng Tiến nằm về phía Đông của huyện Định Hóa, cách trung tâm huyện 3km vềhướng Đông Nam
Tọa độ địa lý: từ 24005’ đến 24040’ độ vĩ Bắc; từ 185005’ đến 185080’ độ kinh
đông Phạm vi ranh giới: Phía đông giáp xã Tân Dương, phía tây giáp xã Bảo Cường,phía nam giáp xã Yên Trạch (huyện Phú Lương), phía bắc giáp thị trấn Chợ Chu.Phượng Tiến có một đoạn sông Chợ Chu chảy qua ở khu vực ranh giới phía Bắc của
xã Ngoài ra, có một khe suối chảy từ khu vực phía nam Phượng Tiến cũng hợp lưuvào dòng chính sông Chợ Chu trên địa bàn Đây là một vị trí tương đối thuận lợicho việc giao lưu văn hóa, chính trị, xã hội cũng như trong việc giao thương hànghóa giữa các xã trong huyện Tuy nhiên, giao thông, thủy lợi, điện, đường, trường,trạm,… còn nhiều khó khăn nên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triểnkinh tế, xã hội của xã
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Phượng Tiến là một xã có địa hình phong phú, rất đa dạng và phức tạp, chủyếu là đồi đất và núi đá vôi, dưới chân đồi và núi hình thành những cánh đồng trồnglúa với diện tích không lớn, độ dốc theo hướng từ Bắc xuống Nam Xét về tổng thểđịa hình toàn xã không có sự khác biệt lớn Tuy nhiên vẫn có thể chia xã ra thành bavùng có những đặc điểm tương đối khác nhau như sau:
Trang 35Vùng 01: Bao gồm các xóm: Xóm Đình, Pa Trò, xóm Nà Lang, Xóm Tổ đặc
điểm là địa hình đồi và núi đá có độ dốc cao, dưới chân hình thành những cánhđồng nhỏ và phân tán, ở vùng này có tiềm năng hơn về điều kiện phát triển kinh tếrừng, kết hợp với chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò, dê…diện tích tự nhiên của vùngnày là 723 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 105 ha; đất lâm nghiệp là 471ha; diện tích nuôi trồng thủy sản 37 ha
Vùng 02: Bao gồm 6 xóm ở khu trung tâm xã là: Xóm Pải, Hợp Thành, Nạ
Què, Nạ Liền, Xóm Phỉnh, Pa Goải đặc điểm là địa hình đồi đất thấp hơn, xen kẽnúi đá vôi, dưới chân hình thành những cánh đồng khá lớn, là nơi trung tâm tậptrung các cơ quan, trường học, y tế của xã, giao thông thuận lợi, mật độ dân số cao.Diện tích tự nhiên của vùng này là 512 ha, trong đó: diện tích đất nông nghiệp là
102 ha, đất lâm nghiệp là 228 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 36ha
Vùng 03: Bao gồm 5 xóm ở khu vực phía Đông Nam đó là: Xóm Cấm, xóm
Mấu, xóm Nạ Á, xóm Nạ Pooc, xóm Nà Lang và xóm Héo đặc điểm là địa hình đồiđất bát úp thấp, dưới chân đồi hình thành những cánh đồng khá lớn, là nơi tập trungnhiều di tích lịch sử kháng chiến chống Pháp, giao thông thuận lợi, mật độ dân sốthấp Ở vùng này có điều kiện lợi thế hơn để phát triển là trồng rừng, chăn nuôi đạigia súc, trồng lúa, trồng chè, cây ăn quả… Diện tích tự nhiên của vùng này là 782
ha, trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 99 ha, đất lâm nghiệp là 407 ha, đất nuôitrồng thủy sản 40 ha
Vùng này có nhiều suối, khe lạch nước phân bố khá đều, nguồn nước tươngđối dồi dào Đây là vùng sinh thái nông nghiệp, tiềm năng phát triển cây côngnghiệp và cây ăn quả Sông, suối có nhiều nhưng nhỏ, không có giá trị giao thôngđường thủy, song được phân bố đều nên đã đóng vai trò quan trọng trong việc tướitiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 364.1.1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu thủy văn
Khí hậu xã Phượng Tiến mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa
rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô, mùa mưa kéo kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùakhô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Số ngày mưa trung bình hàng năm là
137 ngày, lượng mưa trung bình 1.700mm/năm, chủ yếu tập trung trong khoảngthời gian từ tháng 6 đến tháng 9 Tất cả sông suối ở xã đều có chế độ lũ vào mùa hè,trong đó lũ tập trung vào tháng 7 và tháng 8 Lưu lượng dòng chảy cao nhất đạtđược vào khoảng tháng 7 và tháng 8, nhỏ nhất vào tháng 3 Nhiệt độ trung bình hàngnăm là 22,50C, cao tuyệt đối 39,50C và thấp tuyệt đối 30C (tháng 01) Mùa khôthường có sương muối và rét đậm kéo dài, đặc biệt là từ tháng 11 năm trướcđến tháng 01 năm sau, gây ảnh hưởng xấu đến mỗi cây trồng và vật nuôi
Độ ẩm tương đối cao, trung bình là 80,7% Số giờ nắng trong năm trung bình1.360 giờ Lượng nước bốc hơi hàng năm khoảng 980mm
Xã Phượng Tiến (Định Hóa) nằm trong vùng có chế độ gió mùa, mùa hè cógió Đông Nam và mùa đông có gió Bắc Tốc độ gió trung bình khoảng 1,8m/s.Trong các tháng mùa mưa thường có gió mạnh, gió giật
Đất phù sa ngòi suối: Phân bố dọc theo triền suối, là loại đất tốt, có thànhphần cơ giới nhẹ, có phản ứng chua đến ít chua, hàm lượng mùn từ trung bình đến
Trang 37nghèo, rất thích hợp cho việc trồng các giống lúa mới và rau màu, phân bố tập trung
ở các xóm: Xóm Đình, Phỉnh, Pa Goải, Nạ Liền, Pải
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: chủ yếu dọc theo các khe suối và cácthung lũng đá vôi, có độ phì tương đối khá, có phản ứng chua Hiện nay phần lớndiện tích này đã được sử dụng trồng cây công nghiệp, phân bổ ở xóm Cấm, XómPhỉnh, Xóm Héo
Đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính và Bazơ: là loại đất khá tốt, giàu dinhdưỡng, kết cấu xốp, thành phần cơ giới nặng, ít chua, hiện nay chủ yếu đã đượctrồng rừng Đất rất thích hợp cho với việc trồng cây đặc sản (trám, hồi, quế) Loạiđất này phân bổ tập trung chủ yếu ở các xóm: Nà Lang, Nạ Á, Nạ Pooc, xóm Mấu.Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch: kém tơi xốp, tính chua, có thành phần cơgiới từ trung bình đến thịt nặng Hiện nay, đất này chủ yếu là trồng rừng, phân bố ởhầu hết các xóm
Đất vàng đỏ trên đó Macma axit: Có cấu trúc tơi xốp, tính chua, có thànhphần cơ giới thịt nặng đến sét, thích hợp với nhiều loại cây khác nhau như chè, ngô,lúa, sắn, vầu… Hiện trạng chủ yếu là rừng, phân bổ ở hầu hết các xóm
Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình,
có phản ứng chua, nghèo dinh dưỡng, thích hợp trồng các loại cây công nghiệpngắn ngày, cây đậu, đỗ, loại đất này phân bố rải rác ở các xóm
Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma xit: Có cấu trúng tơi xốp, tính chua, hàmlượng dinh dưỡng khá, phân bố tập trung ở xóm Nạ Pooc, Nạ Liền, Pa Goải
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Có hàm lượng dinh dưỡng khá, hiện đang
sử dụng trồng lúa, phân bố ở các xóm Trong những năm qua với sự đa dạng về loạiđất và thổ nhưỡng người dân Phượng Tiến đã tận dụng các loại đất phù hợp vào từnglĩnh vực Nhằm sử dụng tối đa được nguồn đất vừa nâng cao được hiệu quả sản xuất
Trang 38vừa nâng cao đời sống cho người dân nơi đây Dưới đây là bảng hiện trạng sử dụngđất của xã Phượng Tiến.
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phượng Tiến
S
T
T
D i ệ
Trang 39Qua bảng 4.1 ta có thể thấy hiện trạng sử dụng đất của xã Phượng Tiến năm
2017 cụ thể như sau:
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 4958,07 ha Trong đó đất nông nghiệp códiện tích là 1639,07 ha chiếm 33,06% tổng diện tích đất tự nhiên Đất phi nôngnghiệp có diện tích là 117,79 ha chiếm 2,38% tổng diện tích đất tự nhiên PhượngTiến còn có 258,01 ha đất chưa sử dụng chiếm 57,48% tổng diện tích đất tự nhiên.Nhìn chung đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất trong tổng diện tích đất tựnhiên Bởi vì, Phượng Tiến là một xã nhỏ nằm trong huyện Định Hóa vốn là mộtnơi có truyền thống trồng gạo bao thai đã được đăng ký nhãn hiệu tập thể và đượcnhiều người biết đến Đứng sau nhóm đất nông nghiệp là đất phi nông nghiệp vàmột phần đất chưa sử dụng Trong nhóm đất nông nghiệp còn được phân ra làm cácnhóm đất nhỏ có diện tích tương ứng sau đây:
Đất trồng lúa là 226,35 ha chiếm 13,08%, đất trồng cây công nghiệp có diệntích là 51,6 ha chiếm 3,2%, đất trồng cây lâu năm khác có diện tích 139,53 ha chiếm8,5% Đất trồng cây lâu năm khác còn được phân ra thành hai loại nhỏ đó là: Đấttrồng cây ngắn ngày có diện tích 52,98 ha chiếm 37,9% Đất nuôi trồng thủy sản códiện tích 113,92 ha chiếm 81,6%
Đất trồng cây lâm nghiệp có diện tích là 1106,29 ha chiếm 64,79% diện tíchđất nông nghiệp Đất trồng cây lâm nghiệp được chia làm 2 loại: Đất rừng đặc dụng
có diện tích 9,08 ha chiếm 0,82% Đất rừng sản xuất có diện tích 1097,21 ha chiếm99,2%
Tiếp đến là đất phi nông nghiệp có diện tích 117,79 ha bao gồm đất ở có diệntích là 64,13 ha chiếm 54,4% và đất chuyên dụng có diện tích là 65,93 ha chiếm55,97% Trong phần đất chuyên dụng được phân ra làm hai loại đó là: đất nghĩatrang, nghĩa địa có diện tích là 4,16 ha chiếm 6,3% và đất sông suối và mặt nướcchuyên dùng có diện tích 11,95 ha chiếm 18,12% Ngoài ra, xã còn có 258,01 ha đấtchưa sử dụng chiếm 12,46% tổng diện tích đất tự nhiên
Tóm lại tài nguyên đất đai của xã Phượng Tiến tương đối phong phú về loạihình và thổ nhưỡng, cho phép phát triển đa dạng chủng loại cây trồng Hạn chế chính