LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yê
Trang 1HOÀNG THỊ THƯƠNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
T
Ê N Đ Ề T À I
“TÌM HIỂU MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH LỢN THỊT TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN NGÔ HIỆP XÃ
PHÚC THUẬN - THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014 -2018
Thái Nguyên – năm 2018
Trang 2HOÀNG THỊ THƯƠNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
T
Ê N Đ Ề T À I
“TÌM HIỂU MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH LỢN THỊT TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN NGÔ HIỆP XÃ
PHÚC THUẬN - THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014 -2018
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Giang Cán bộ cơ sở hướng dẫn: Ngô Thượng Hiệp
Thái Nguyên – năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu thực sự của
bản thân, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyênngành, tìm hiểu, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của
ThS Nguyễn Thị Giang.
Các số liệu, bảng biểu, và những kết quả trong khóa luận là trung thực, cácnhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Người cam đoan
Hoàng Thị Thương
Trang 4Có được kết quả này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
ThS Nguyễn Thị Giang - Giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - giáo
viên hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập Cô đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tìnhcho tôi những kiến thức lý thuyết và thực tế cũng như các kỹ năng trong khi viếtbài, chỉ cho tôi những thiếu sót và sai lầm của mình, để tôi hoàn thành bài báo cáothực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất Cô luôn động viên và theo dõi sát sao quátrình thực tập và cũng là người truyền động lực cho tôi, giúp tôi hoàn thành tốt đợtthực tập của mình
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ UBND xã PhúcThuận, anh Ngô Thượng Hiệp và nhân dân trong xóm Đèo Nứa đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết cho để phục vụ cho bài báocáo Ngoài ra, các công nhân trong trang trại còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ nhữngkinh nghiệm thực tế trong quá trình chăn nuôi, đó là những kiến thức hết sức bổ íchcho tôi sau này khi ra trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong khoaKinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặpkhông ít những khó khăn, do vậy mà đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhấtđịnh, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và cácbạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Thương
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 27
Bảng 3.2: Tình hình vốn chăn nuôi lợn thịt của trang trại Ngô Hiệp 42
Bảng 3.3: Cơ cấu lao động trong chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 42
Bảng 3.4: Tình hình chăn nuôi heo thịt của trang trại Ngô Hiệp qua 2 đợt năm 2017 .43
Bảng 3.5: Doanh thu chăn nuôi lợn thịt của trang trại Ngô Hiệp năm 2017 44
Bảng 3.6: Chi phí đầu tư ban đầu để nuôi lợn thịt của trang trại 44
Bảng 3.7: Chi phí chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 45
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 46
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông
BNN : Bộ Nông nghiệp
CCB : Cựu chiến binh
CPTG : (IC) Chi phí trung gian
CPTG : (IC) Chi phí trung gian
GTGT : (VA) Giá trị gia tăng
GTSX : (GO) Giá trị sản xuất
HĐND : Hội đồng nhân dân
PTNT : Phát triển nông thôn
QSĐP : Quân sự địa phương
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TDTT : Thể dục thể thao
TSCĐ : Tài sản cố định
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.1 Về chuyên môn
3 1.2.2 Về thái độ 3
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3
1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 3
1.3.1 Nội dung thực tập 3
1.3.2 Phương pháp thực hiện 4
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 6
1.4.Thời gian và địa điểm thực tập 7
1.4.1.Thời gian thực tập 7
1.4.2.Địa điểm thực tập 7
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Cơ sở lý luận 8
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 8
2.1.2 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại 12
2.1.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại 14
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại 15
2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 20
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 20
Trang 92.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số địa
phương của Việt Nam 21
Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 25
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phúc Thuận 25
3.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận 29
3.1.3 Quá trình hình thành và phát tiển của trang trại Ngô Hiệp
34 3.1.4 Những thành tựu đã đạt được của trang trại Ngô Hiệp 34
3.2 Kết quả thực tập 36
3.2.1 Tìm hiểu mô hình tổ chức của trang trại 36
3.2.2 Mô tả, tóm tắt những công việc đã làm tại trang trại 37
3.2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh lợn thịt của trang trại 42
3.2.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của trang trại 50
3.2.5 Bài học kinh nghiệm thực tiễn 51
3.2.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại 52
PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
4.1 Kết luận 55
4.2 Kiến nghị 56
4.2.1 Đối với cơ quan quản lí 56
4.2.2 Đối với Công ty Greenfeed 57
4.2.3 Đối với chủ trang trại chăn nuôi 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 10Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta,sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn vàmang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu kháchquan Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp rất lớn khối lượngnông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó cònđóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng vàkim nghạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, thì sự đónggóp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, màcòn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại ViệtNam tham gia tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, đã tạo ra nhiều cơ hội vàthách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng.
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu quả cao
đã được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới Kinh tế trang trại đã tạo racho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa chứ không như các hộ tiểu nông sản xuất tựcung tự cấp Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở nông nghiệp nông thônViệt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và pháthuy những tiềm năng sẵn có, thích hợp trong việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và
áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
Trang 11vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nôngthôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự cân bằng sinh thái, bảo
vệ môi trường, nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững Một số trang trại đãgóp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩmcho nông dân trong vùng [9]
Hiện nay, trên địa bàn Thị xã Phổ Yên có trên 90 trang trại chăn nuôi đạt tiêuchí của Bộ Nông nghiệp và PTNT (tăng 10 trang trại so với năm 2016) Trong đó,
có 60 trang trại chăn nuôi lợn, còn lại là chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi tổng hợp.Các trang trại hiện có tổng số vốn đầu tư khoảng trên 150 tỷ đồng, thu nhập trungbình mỗi trang trại đạt từ 100-150 triệu đồng/năm
Để khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tậptrung, những năm gần đây, Thị xã Phổ Yên đã triển khai nhiều chính sách nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại được tiếp cận với các nguồn vốn vay ưuđãi của ngân hàng Đồng thời, tiến hành quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trunggắn với quy hoạch nông thôn mới; đẩy mạnh xây dựng mối liên kết liên doanh giữacác hộ chăn nuôi với nhau và giữa hộ chăn nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụnông sản trên địa bàn; hỗ trợ kinh phí, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹthuật giúp các chủ trang trại mở rộng sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm để pháthuy hiệu quả trong chăn nuôi…
Bên cạnh đó, thị xã cũng tăng cường tuyên truyền, vận động và hướng dẫncác hộ chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi lớn phải xây dựng hầm biôga, đệm lótsinh học và các biện pháp kỹ thuật khác nhằm bảo đảm vấn đề môi trường Phấnđấu tăng tổng đàn gia súc, gia cầm và hình thành một số trang trại kiểu mẫu về hiệuquả sản xuất, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường [20]
Trang 12Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu cụ thể
1.2.1 Về chuyên môn
- Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
- Tìm hiểu kết quả kinh doanh chăn nuôi lợn thịt của trang trại
- Biết cách làm một số công việc tại trang trại
- Đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu cùng những cơ hội và thách thứccủa trang trại
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi của trang trại
1.2.2 Về thái độ
- Luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người
- Nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc
- Tuân thủ theo các quy định của trang trại đề ra
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
- Hoàn thành tốt các công việc được giao
- Linh hoạt và sáng tạo trong công việc
- Rèn luyện kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất trong thực tế
- Tích cực học hỏi kinh nghiệm làm việc từ mọi người xung quanh
1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện
1.3.1 Nội dung thực tập
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu mô hình tổ chức sản xuất của trang trại Ngô Hiệp trên địa bàn xãPhúc Thuận
- Tìm hiểu kết quả kinh doanh của trang trại
- Tham gia một số công việc tại trang trại
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và cơ hội, thách thức trong chăn nuôilợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp
Trang 13Thái Nguyên.
1.3.2 Phương pháp thực hiện
1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các
thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tàiliệu đã công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổchức, văn phòng
- Trong phạm vi đề tài tôi thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến
vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Phúc Thuận, xóm Đèo Nứa và trang trại chăn nuôilợn Ngô Hiệp
+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận
+ Số liệu thống kê của UBND xã thu thập ở trên báo, trên internet liên quantới phát triển mô hình kinh tế trang trại
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
+ Quan sát trực tiếp
Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan
hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp cũng là một phương cáchtốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương Trong quá trìnhnghiên cứu đề tài tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng công tác tổchức của chủ trang trại Ngô Hiệp
+ Điều tra trực tiếp chủ trang trại
Phiếu điều tra có đủ thông tin về trang trại, những thông tin về tình hình cơbản của trang trại như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại, trình độ vănhóa, loại hình trang trại, số nhân khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất.Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: Tìnhhình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị Những thông tin về ý
Trang 14+ Điều tra cán bộ Công ty cổ phần Greenfeed
Phiếu điều tra có đủ những thông tin cơ bản như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giớitính, số điện thoại liên hệ, trình độ văn hóa, thời gian công tác và chức vụ tại Công
ty Những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phầnGreenfeed như: Yếu tố đầu vào, đầu ra Công ty cung cấp, hỗ trợ cho trang trại
+ Tiếp cận có sự tham gia
Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: Dọn dẹp, vệsinh chuồng nuôi, chăm sóc lợn, kiểm cám, kiểm thuốc từ đó đánh giá được nhữngthuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong công tác phòng dịch cũng như hoạtđộng sản xuất kinh doanh của trang trại
+ Thảo luận
Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn,tồn tại trang trại đang gặp phải như: Vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhànước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trạitrong những năm tới
1.3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệgiữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận,nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triểnkinh tế trang trại
- Phương pháp chuyên khảo: Dùng để thu thập và lựa chọn các thông tin, tàiliệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Thông quaviệc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào thực tiễn đểnâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh: Phương pháp này đòi hỏingười quản lý trang trại phải ghi chép tỷ mỷ, thường xuyên, liên tục suốt trong quátrình sản xuất kinh doanh, nhằm biết được các yếu tố đầu vào, đầu ra từ đó biết
Trang 15
1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
1.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất
+ GO giá trị sản xuất (Gross Output)
=
Trong đó: Pi là giá trị sản phẩm thứ i; Qi khối lượng sản phẩm thứ i.Vậy GO là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong mộtthời gian, hay một chu kỳ sản xuất nhất định Đối với trang trại thường người ta tínhcho một năm (Vì trong một năm thì hầu hết các sản phẩm nông nghiệp
đã có đủ thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm)
+ VA giá trị gia tăng (Value Added)
Trang 16nhận được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.4 Thời gian và địa điểm thực tập
1.4.1 Thời gian thực tập
- Từ ngày 15/1/2018 – 30/5/2018.
1.4.1 Địa điểm thực tập
- Địa điểm: Tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp, Xã Phúc Thuận, Thị xã
Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên
Trang 172.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập
2.1.1.1 Khái niệm tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất là các phương pháp, các thủ thuật kết hợp các yếu tố củaquá trình sản xuất một cách hiệu quả Tuy nhiên, thực tế có thể nhìn nhận tổ chứcsản xuất trên các góc độ khác nhau mà hình thành những nội dung tổ chức sản xuất
cụ thể [5]
Ở đây tổ chức sản xuất đơn giản chỉ là tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất
đã được lập ra, vì vậy tổ chức sản là một trong những nội dung quan trọng của quản
lý sản xuất mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ cũng phải thực hiện, nhằmtrả lời các câu hỏi sau:
- Kỳ này ta sản xuất sản phẩm gì? Trả lời câu hỏi này phụ thuộc vào nhiềuyếu tố đặc biệt là nhu cầu ngắn hạn trên thị trường
- Sản phẩm được sản xuất ở đâu? (Bộ phận nào; công nghệ nào), điều nàyphụ thuộc vào quy trình công nghệ gia công sản phẩm
- Ai sẽ sản xuất chúng? (người công nhân nào thực hiện gia công các sảnphẩm khác nhau), điều này phụ thuộc vào lưu lượng công việc tại các nơi làm việc
- Cần bao nhiêu thời gian để sản xuất chúng? Nó phụ thuộc vào năng suấtsản xuất của máy móc thiết bị, thời gian sản xuất các sản phẩm, hỏng hóc bấtthường, thời gian vận chuyển, thời gian chờ đợi
Tổ chức sản xuất cần đưa ra các quyết định của người quản đốc phân xưởnghoặc cán bộ quản lý để thực hiện tốt một dự án hay một chương trình sản xuất đãđược lập ra
Trong một doanh nghiệp tổ chức quá trình sản xuất được thực hiện ở hai cấp
độ khác nhau:
Trang 18của máy móc thiết bị và dự báo tiêu thụ sản phẩm ngắn hạn Tổ chức sản xuất tậptrung cũng chính là lập kế hoạch đưa vào sản xuất.
- Tổ chức sản xuất phân tán là tổ chức sản xuất diễn ra trên các chỗ làmviệc, tổ chức sản xuất phân tán là để thực hiện kế hoạch sản xuất đã được lập ratrong phương án tổ chức sản xuất tập trung [15]
2.1.1.2 Các khái niệm về kinh tế trang trại
Khái niệm trang trại
Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu như cơquan quản lý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu
về kinh tế trang trại Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm kinh tếtrang trại Về thực chất trang trại và kinh tế trang trại là hai khái niệm khác nhau,không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế trang trạinhư:
1 Xuất phát từ quan điểm của LêNin “Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất” Ở đây ta có
thể hiểu khái niệm trang trại thể hiện quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể
đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập [2]
2 Theo GS.TS Nguyễn Thế Nhã “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất
cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường” [8].
3 Còn theo Th.S Nguyễn Phượng Vỹ “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [8].
4 Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ – TW ngày 10/11/1998, đã xác định: “ trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hang hoá với quy mô lớn hơn, sử
Trang 19dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả” [10].
5 Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều nhànghiên cứu quan tâm và đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như:
- Theo PGS.TS Lê Trọng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ
sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên
cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật định” [8].
- Theo tác giả Trần Trác: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất
và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một nông hộ theo cơ chế thị trường” [8].
- Theo quan điểm của Nghị Quyết 03/2000 NQ – CP về việc “khuyến khích phát triển kinh tế trang trại” cho rằng “Bản chất của kinh tế trang trại là hình thức
tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình” [10].
Khái niệm về kinh tế trang trại:
- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh và pháttriển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sảnxuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: Các hoạt động trước và sau sản xuất nôngsản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc cácngành, nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau
- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành
và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đếncao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, quy
mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuấtnông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ
Trang 20kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lựclượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá nói riêng cũng như hàng nôngnghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá.
- Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầusản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, làmột tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sảnxuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá
- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới, cótính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tếnông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản, tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng,nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng
hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đối
với các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng vớicác trình độ công nghiệp hoá khác nhau
Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thếgiới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ởcác nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ởcác nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trạicho phù hợp [18]
Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi:
- Cũng như khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét kháiniệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp vớinông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đúng là tổngthể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nôngnghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nôngsản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ởcác vùng kinh tế khác nhau
Trang 21- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá,quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệphoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất,quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt,trứng, sữa… trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tếtrang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác vớicác nghành sản xuất khác như lâm nghiệp hay thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điềukiện đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnhhưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôidưỡng của các trang trại Sản phẩm của chăn nuôi đã phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêudùng của đại đa số người dân trong cả nước
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là sự phát triển tất yếu của quy luật sản xuất hànghoá, trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, do vậy cácyếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ cũng như các sảnphẩm đầu ra như thịt, trứng, sữa đều là hàng hoá
Vậy có thể đúc kết lại khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi nó là một hìnhthức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp với mục đích chủ yếu là sản xuấthàng hoá như thịt, trứng, sữa Với quy mô đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, cótrình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản lý tiến bộ, có hạch toán kinh tế như cácdoanh nghiệp [18]
2.1.2 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/04/2011 của Bộ nôngnghiệp và phát triển nông thôn về việc thay thế Thông tư liên tịch số69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TTBNN, ngày 04/07/2003 Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 ha
b Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên
Trang 222 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệuđồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau:
a Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,…, chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thườngxuyên từ 20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên;trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tínhnhư sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại
b Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thườngxuyên từ 30 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối vớilợn có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ 300 contrở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu conđược tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại
c Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt, … thịt: có thường xuyên từ 5.000 contrở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt, … đẻ (trứngthương phẩm, con giống, …) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên; trường hợp có
cả chăn nuôi đẻ và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo
tỷ lệ 2,5 con sinh sản và ngược lại
d Đối với cơ sở chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm thì tiêu chí để xác địnhkinh tế trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trịsản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
4 Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản theo hình thức lồng bè thì tiêu chí xácđịnh là giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên
* Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại: UBND huyện, quận,thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là UBND cấp huyện) là cơ quan cấp,cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại
* Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại gồm:
1 Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thực hiện theo mẫuquy định
Trang 232 Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồngthuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Đối với diện tích đất cánhân, hộ gia đình đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận.
2.1.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề nông nghiệpthế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nền nôngnghiệp các nước ở các nước đang phát triển trang trại gia đình có vai trò to lớnquyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở đây tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cungcấp cho xã hội được sản xuất ra từ các trang trại gia đình
Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây.Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả
về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường
– Về mặt kinh tế: Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triểncác loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng phântán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt côngnghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triểnkinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và
sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nôngthôn so với kinh tế nông hộ
Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy sự tăngtrưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
– Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Điềunày rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong nhữngvấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triểnkinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn
và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh
Trang 24doanh… Do đó, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyếtcác vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta.
– Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực
và lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quantâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm không gian sinh tháitrang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng
Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồngrừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyênđất đai, những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinhthái trên các vùng đất nước [16]
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
2.1.4.1 Nhóm những yếu tố đến từ bên ngoài
- Chính sách hỗ trợ thành lập khu trang trại
Tùy theo điều kiện của địa phương, Uỷ ban nhân dân xã quy hoạch khu pháttriển kinh tế trang trại và cho thuê đất làm kinh tế trang trại theo quy định hiện hành
Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng đường, hệ thống cấp thoát nướctới khu trang trại
Ủy ban nhân dân cấp xã lập dự án, báo cáo dự án lên Ủy ban nhân dân cấphuyện phê duyệt và hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương [6]
Mức hỗ trợ không quá 100 triệu/trang trại/ 02 năm đầu [6]
Trang 25- Hỗ trợ áp dụng khoa học kỹ thuật
Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần, 100% chi phí cấp giấy chứng nhận vàchi phí áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) hoặc quy trình thựchành nông nghiệp tốt khác đối với từng trang trại hoặc hợp tác xã của các chủ trangtrại [6]
- Hỗ trợ xúc tiến thương mại
Nhà nước khuyến khích trang trại xây dựng thương hiệu riêng hoặc tham giaxây dựng thương hiệu của hợp tác xã của các chủ trang trại
Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% chi phí tham gia hội trợ, triển lãm giới thiệusản phẩm nông nghiệp đối với các trang trại hoặc hợp tác xã trang trại [6]
- Chính sách về tín dụng
Theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 9, Nghị định số: 55/2015/NĐ-CPngày 09/6/2015 của Chính phủ thì chủ trang trại hoạt động trên địa bàn nông thônhoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp được tổ chức tíndụng cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa 1 tỷ đồng Tuy nhiên phải nộp cho tổchức tín dụng cho vay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượngđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc giấy xác nhận chưa được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp do Ủy ban nhân dâncấp xã xác nhận và chỉ được sử dụng giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp để vay vốn tại một tổ chức tín dụng
và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng giấy xác nhận trên để vaykhông có tài sản bảo đảm [21]
- Chính sách đất đai
Hiện nay Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều chophát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa.Điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài.Bên cạnh đó, nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn, lạc hậu.Chính vì vậy mà việc cải tạo lại những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là
Trang 26vô cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại về vấn đềvốn và lao động.
Đất đai là yếu tố sản xuất, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nôngnghiệp mà còn quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố
cố định, lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn, lao độngtrên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Do vậy, để hìnhthành trang trại cần có quỹ đất cần thiết để phát triển trang trại Để làm được điềunày, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách về đất đai phù hợp để chủ trangtrại yên tâm sản xuất trên thửa đất được giao
Trước hết về chính sách đất đai Ngoài những điểm mới quy định chung chocác chủ thể sử dụng đất như hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụngđất, các quyền và nghĩa vụ… Luật Đất đai 2013 đã dành một điều luật ( Điều 142)quy định về kinh tế trang trại, tại khoản 3, điều 142 cho phép “Hộ gia đình, cá nhân
sử dụng đất làm kinh tế trang trại được chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đấttheo quy định của pháp luật” Quy định này giúp cho chủ trang trại chủ động hơntrong sản xuất, tìm được phương án sản xuất có hiệu quả cao hơn Cũng theo điềuluật này, các loại đất sử dụng để làm kinh tế trang trại được mở rộng hơn, bao gồm
cả đất nhận thừa kế; được tặng cho; đất do nhận khoán của tổ chức; đất do hộ giađình, cá nhân góp…[21]
Chủ trang trại được cấp có thẩm quyền cho thuê đất ổn định lâu dài từ quỹđất của địa phương, hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định củaluật đất đai hiện hành [6]
- Chính sách lao động
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộngquy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưutiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp,
hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về sốlượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định củapháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ lao động theo
Trang 27từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi
ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động
Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trạiđược ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo
để tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đếnphát triển sản xuất
Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trongtrang trại bằng nhiều hình thức như tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn [12]
2.1.4.2 Nhóm những yếu tố từ bên trong
- Con người - chủ trang trại
+ Trình độ học vấn
Chủ trang trại là người lãnh đạo trang trại, đứng đầu trang trại nên phải
có kiến thức về chuyên môn và trình độ quản lý nhất định Đây là nhân tốthành công cốt lõi mang tính phổ biến, trang trại thành công nào cũng có nó.Bên cạnh đó, chủ trang trại còn là người có trách nhiệm và hết mình trong từng sảnphẩm được đưa ra thị trường
+ Thông minh, nhạy bén, sáng tạo
Ngoài trình độ học vấn, các chủ trang trại còn phải có tố chất thôngminh bẩm sinh, nhạy bén trong các quan hệ thị trường Đưa những kĩ thuật mới, tiêntiến vào trong quá trình sản xuất, chăn nuôi
Điều mà phần lớn các trang trại hiện nay chưa có là trình độ quản trịkinh doanh trang trại, hầu như trong các trang trại công việc kế toán chưa thật
sự chuyên nghiệp, còn mang tính chất ghi - chép thu chi trong nông hộ
- Trang trại có 1 cấp quản lý
Thực tế cho thấy các chủ trang trại thành công hiện nay đều trực tiếpquản lý, điều hành trang trại của mình, chỉ thuê lao động kỹ thuật và nhữngcông nhân bình thường khác, nhưng con số lao động được thuê là rất ít Đây
là ưu thế vì hiện nay các trang trại hầu như có quy mô canh tác không lớn, chủ trang
Trang 28trại có thể kiểm soát quá trình phát triển cây trồng, vật nuôi, khi cóbiến động giá cả thì ảnh hưởng cũng không lớn vì có thể lấy công làm lời.
- Lợi thế về đất đai của trang trại và sự lựa chọn mô hình phù hợp
Lợi thế về đất đai lợi thế của vùng đất này so với vùng đất khác về mặtkhí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng khi trồng cùng một loại cây Điều này có nghĩa
là khi trang trại chọn đúng mô hình sản xuất, nuôi trồng cây, con phù hợp thì
đã phát huy được lợi thế địa tô
Các trang trại thành công là các trang trại đã chọn đúng mô hình sảnxuất, phù hợp với thời tiết, khí hậu; năng lực quản lý, kinh nghiệm của chủtrang trại
Tóm lại, các yếu tố then chốt giúp các trang trại thành công bao gồmnhững yếu tố bên ngoài và những yếu tố bên trong và chúng có mối quan hệmật thiết với nhau Các yếu tố bên ngoài chỉ phát huy được tác dụng thật sựcủa nó khi được chuyển thành yếu tố bên trong của trang trại Và để chuyểnđược các yếu tố bên ngoài thành các yếu tố bên trong, thì trang trại phải mạnh
và nhận thấy được tầm quan trọng của các yếu tố đó Các yếu tố bên trong lớnthì có thể biến các yếu tố bên ngoài trở thành nội lực Ngoài ra tự bản thân cácyếu tố cốt lõi bên trong lẫn bên ngoài đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau.Nếu các trang trại chọn đúng mô hình để sản xuất kinh doanh, có thể côngnghiệp hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại, thựchiện được liên kết giữa các trang trại và liên kết “4 nhà” thì trang trại sẽ dễdàng tạo được vốn và có thể tiếp cận được với các nguồn vốn từ bên ngoài, từ
đó trang trại cũng dễ dàng tiếp nhận được những công nghệ tiên tiến của thế Nhưvậy, có thể nói yếu tố bên trong phát triển đến một mức độ nào đó
nó sẽ quyết định được các yếu tố bên ngoài [22]
Trang 292.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt
Nam
Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủyếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuynhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơntheo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh
tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướngkinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn cóhiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đấtnước Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triểnmạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới
Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%),5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiêncác địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại
Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miềnTrung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng SôngHồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núiphía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp
Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là
33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất chothấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt
có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sảnxuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và
Trang 30chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bìnhquân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động
ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiềutrang trại thu hút được hàng trăm lao động
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiếncủa kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chínhsách phát triển [4]
2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số địa phương của Việt Nam
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kinh tế trang trại là hình thức tổchức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao; là đơn vịsản xuất tích cực ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, cũng như chủ động tìm kiếm,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Có thể nói, kinh tế trang trại lànhân tố mới ở nông thôn; là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực của kinh tế
hộ, góp phần vào quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất, gắn liền với quá trìnhphân công lao động nông thôn
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế nôngnghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, hiện đại, trong đó cónhững chính sách khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tếtrang trại
Những năm qua kinh tế trang trại đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh pháttriển sản xuất nông nghiệp của tỉnh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chuyểnđổi phương thức sản xuất từ quy mô nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa tậptrung với quy mô lớn gắn với thị trường Trên cơ sở đó mở ra hướng làm giàu chonông dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động.Thời gian qua còn xuất hiện các hợp tác xã (HTX) từ sự liên kết các trang trại,bước tiến mới dẫn đến phát triển kinh tế tập thể, nhằm tăng khối lượng và chấtlượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn
Trang 31Việc phát triển kinh tế trang trại đang có sự chuyển biến rõ nét, phù hợp vớiyêu cầu thị trường Nhiều trang trại chủ động cung cấp giống cho bà con trongvùng, cũng như cung cấp số lượng lớn sản phẩm nông nghiệp cho thị trường trong
Tại diễn đàn kinh tế trang trại mới đây do Hiệp hội Trang trại và doanhnghiệp nông nghiệp Việt Nam (VFAEA) tổ chức, nhiều đại biểu nhìn nhận, sau thờigian phát triển mạnh kinh tế trang trại vào đầu những năm 2000, tốc độ phát triểnthời gian qua chậm lại Ở các địa phương, trang trại nhỏ chiếm tỷ lệ lớn, chủ yếu tậptrung mở rộng diện tích, sản phẩm thô là chủ yếu; việc quan tâm đến tiến bộ kỹthuật, cơ giới hóa, đầu tư hạ tầng sơ chế biến và bảo quản, định hướng thị trường vàliên kết tiêu thụ hàng hóa vẫn còn có bộ phận chưa quan tâm nhiều, nên sản phẩmlàm ra chất lượng chưa cao
Một số trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi hình thành tự phát, không nằmtrong vùng quy hoạch Như các trang trại ở tỉnh Đồng Nai, thiếu định hướng, manhmún chưa gắn với quy hoạch vùng sản xuất và công nghiệp chế biến Trình độ quản
lý, chuyên môn các chủ trang trại còn hạn chế Việc tổ chức sản xuất, kinh doanh vàquản lý kinh tế chủ yếu theo kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về thị trường Khó khănlớn nhất là tiêu thụ sản phẩm [17]
Thời gian qua, kinh tế trang trại trên phạm vi cả nước có bước phát triểnmạnh mẽ, đạt được giá trị sản lượng cao trên một đơn vị diện tích; tạo ra các môhình sản xuất hàng hóa lớn, hỗ trợ việc làm cho lao động ở nông thôn Theo báo cáocủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay cả nước có gần 150.000 trangtrại với diện tích đất sử dụng khoảng 900.000 ha Trong đó, các trang trại chuyên
Trang 32trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%; chăn nuôi gia súc, gia cầm chiếm 10,3%; lâmnghiệp chiếm 2,2%; nuôi trồng thủy sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổnghợp chiếm 4,9%.
Trong đó, các tỉnh miền Bắc tuy có số lượng trang trại không nhiều, song đãxuất hiện những mô hình phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao Tại các tỉnh Sơn
La, Ðiện Biên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Ðịnh, Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh… đã xuất hiện các mô hình kinh tế trang trại cho thu nhậpcao Hay thành phố Hà Nội là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về pháttriển kinh tế trang trại Hiện toàn thành phố có hàng nghìn trang trại, tập trung nhiềunhất ở các huyện Thạch Thất, Hoài Ðức, Sóc Sơn, Ðông Anh, Thường Tín, GiaLâm, Thanh Trì… Tại Ðồng Nai, những năm gần đây số lượng trang trại có xuhướng tăng nhanh Từ năm 2012, cả tỉnh chỉ mới có khoảng 1.700 trang trại, nhưngđến hết năm 2016, số lượng trong toàn tỉnh đã lên tới hơn 3.800 trang trại, với giátrị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 3,3 tỷ đồng/trang trại/năm [19]
Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủyếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuynhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơntheo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh
tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướngkinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn cóhiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đấtnước Do đó, Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triểnmạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới
Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%),5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiêncác địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại
Trang 33Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miềnTrung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng SôngHồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núiphía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp.
Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là
33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất chothấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt
có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sảnxuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất vàchất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bìnhquân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động
ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiềutrang trại thu hút được hàng trăm lao động
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiếncủa kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chínhsách phát triển [4]
Trang 34Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phúc Thuận
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Phúc Thuận là một xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.Tuyến tỉnh lộ 261 kết nối thị xã Phổ Yên và huyện Đại Từ đi qua địa bàn xã PhúcThuận cách trung tâm thị xã 13 km về phía tây và giáp với xã Phúc Tân cùng thị xã
và xã Bình Sơn thuộc thành phố Sông Công ở phía bắc, phía đông giáp xã MinhĐức và phường Bắc Sơn thuộc thị xã Phổ Yên, phía nam giáp với xã ThànhCông thuộc thị xã Phổ Yên, phía tây nam giáp với xã Trung Mỹ thuộc huyện BìnhXuyên của tỉnh Vĩnh Phúc qua dãy núi Tam Đảo Phía tây giáp với xã Cát Nê, QuânChu và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu
* Địa hình
Năm 2017, xã Phúc Thuận có diện tích 5192,6093 ha (51,9 km²) và dân số là14.390 người, mật độ dân số đạt 277,26 người/km²² Địa hình chủ yếu là đồi núithấp, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 30 đến 50 m, độ dốc thường dưới
10 độ
Xã được chia thành 28 xóm: Khe Lánh, Khe Đù, Quan Xóm, Ấp Lơn, NôngTrường, Đồng Đèo, Tân Ấp 1, Tân Ấp 2, Trung, Hang Rơi, Đầm Ban, Phúc Tài,Chãng, Bãi Hu, Đức Phú, Phúc Long, Làng Luông, Bãi Chạc, Hồng Cóc, QuânCay, Coong Lẹng, Đèo Nứa, Xim Lồng 283, Hạ, Thượng 1, Thượng 2, Trại Thèn
Trang 35địa phương đã cải tạo thành các ruộng bậc thang có độ cao thấp tùy thuộc vào kiểuđịa hình từng nơi Theo thổ nhưỡng, trên địa bàn xã có 5 loại đất chính: Đất phù sangòi suối, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàngbiến đổi do trồng lúa và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
* Khí hậu
Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu của xãPhúc Thuận mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên địa bàn xã PhúcThuận vào mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bìnhkhoảng 23-280C và lượng mưa trong mùa này chiếm tới 90% lượng mưa cả năm.Mùa đông khí hậu lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
3.1.1.3 Thủy văn
Hệ thống sông ngòi của xã đều bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, trong đó phíaĐông gồm 2 nhánh sông Đất và suối Than hợp thành tại thôn Tân Ấp (bờ đập) chảysuốt chiều dài của xã, qua xã Minh Đức, đổ ra sông Công phía thượng lưu CầuĐẫm; phía Tây bắt nguồn từ nước hai dãy núi Tam Đảo chảy qua thôn Quân Cay(gọi là suối Quân Cay) chảy về dọc địa bàn của xã, qua xã Minh Đức ra hạ lưu CầuĐẫm, cùng với lượng nước mưa trung bình năm cao đổ vào các sông, suối, kênhmương, hồ ao và trữ lượng nước ngầm của xã khá dồi dào là nguồn nước chủ yếuphục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã
3.1.1.4 Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp là 2852,6544 ha: Trong đó rừng sản xuất1788,27085 ha; toàn bộ diện tích đất rừng đã được giao khoán và cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình; cây trồng chủ yếu keo lai, bạch đàn
và mỡ
Trang 362.2.5 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp CSK 5.45581 2.2.6 Đất sử dụng vào mục đích công cộng CCC 111.54599
2.5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 11.7879
Trang 37Qua bảng 3.1 ta có thể thấy hiện trạng sử dụng đất của xã Phúc Thuận năm
2017 cụ thể như sau:
- Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 5192,6093 ha
- Đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất là 4446,60952 ha chiếm 85,63% tổngdiện tích đất tự nhiên
Đất sản xuất nông nghiệp là 1552,32075 ha chiếm 34,91% tổng diện tích đấtnông nghiệp Trong đó đất trồng lúa có diện tích lớn nhất (501,87376 ha chiếm32,33% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp), đất trồng cây hàng năm khác làđất chuyên rau, màu (104,52525 ha chiếm 6,73% diện tích đất sản xuất nôngnghiệp) Đất trồng cây lâu năm chủ yếu là đất trồng chè có diện tích 945,92174 hachiếm 60,69% diện tích đất sản xuất nông nghiệp
Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 18,58789 ha, chiếm 0,42% diện tích đấtnông nghiệp Chủ yếu là các ao, hồ nhỏ cung cấp nước cho sản xuất đồng thời kếthợp nuôi thủy sản nước ngọt
Đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất với 2852,6544 ha tương đương với64,15% diện tích đất nông nghiệp Trong đó diện tích đất rừng sản xuất và đất rừngphòng hộ lần lượt là 1788,27085 ha và 1064,38355 ha chiếm 62,69% và 37,31%tổng diện tích đất lâm nghiệp
Đất nông nghiệp khác là 23,04648 ha chiếm 0,52% tổng diện tích đấtnông nghiệp
- Đất phi nông nghiệp là 737,58601 ha chiếm 14,2% tổng diện tích đất tựnhiên
Trong đó đất ở là 201,83682 ha chiếm 27,36% tổng diện tích đất phi nôngnghiệp Đất chuyên dùng là 320,17329 ha chiếm 43,41% tổng diện tích đất phi nôngnghiệp Đất cơ sở tôn giáo là 4,01397 ha chiếm 0,54% tổng diện tích đất phi nôngnghiệp Đất cơ sở tín ngưỡng là 0,87014 ha chiếm 0,12% tổng diện tích đất phinông nghiệp Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng là 11,7879 hachiếm 1,6% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối là
Trang 38151,55172 ha chiếm 20,55% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất có mặt nướcchuyên dùng là 47,35217 ha chiếm 6,42% tổng diện tích đất phi nông nghiệp.
- Đất chưa sử dụng chiếm diện tích nhỏ nhất là 8,41377 ha chiếm 0,16% tổngdiện tích đất tự nhiên
3.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận
* Tình hình nhân khẩu và lao động
- Theo số liệu thống kê năm 2017, dân số toàn xã là 14.390 người, với 3553 hộ.
- Trên địa bàn xã đã từng bước thực hiện công tác tuyên truyền về vận động
kế hoạch hóa gia đình để ổn định dân số và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên
- Các khu dân cư phân bố tập trung các trục đường giao thông, đông nhất
là dọc tuyến đường trục 261
- Tính đến ngày 31/12/2017 toàn xã có tổng số dân là 14 390 nhân khẩu, số
người trong độ tuổi lao động là 9787 người, trong đó:
+ Lao động nông nghiệp: 7597 người, chiếm 77,62% tổng số lao động
+ Lao động công nghiệp : 1164 người, chiếm 11,89% tổng số lao động
+ Lao động dịch vụ: 1026 người, chiếm 10,49% tổng số lao động
+ Lao động của xã chủ yếu là thuần nông, có tính cần cù, chịu khó, có ýchí vươn lên song số lượng lao động qua đào tạo còn thấp, phần lớn là lao độngphổ thông
+ Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 của xã đạt 34,91 triệuđồng/người/năm [1]
Tiềm năng phát triển kinh tế
- Phúc Thuận là xã điều kiện tự nhiên địa lý thuận lợi cho việc giao thông đilại, có tuyến đường giao thông tỉnh lộ 261 kết nối hai huyện Đại Từ và thị xã PhổYên đi qua địa bàn xã thuận lợi cho giao thương, buôn bán, phát triển kinh tế,thương mại Hơn nữa, Phúc Thuận nằm gần tuyến đường cao tốc Thái Nguyên – HàNội và nằm cạnh khu công nghiệp lớn rất thuận tiện cho việc vận chuyển cũng nhưtiêu thụ hàng hóa
Trang 39- Có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, phát triển dulịch sinh thái; có lực lượng lao động dồi dào, người dân có truyền thống lao độngcần cù, tỷ lệ lao động qua đào tạo cao là lợi thế để nâng cao hiệu quả và sức cạnhtranh trong sản xuất và phát triển.
- Hệ thống các công trình hạ tầng như giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên
xã, liên xóm; trụ sở làm việc của Đảng ủy – HĐND – UBND, trường học, trạm ytế,… đã được xây dựng khá đồng bộ và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới
- 100% các tuyến đường liên xã, trục xã, trục xóm được bê tông hóa, cứnghóa đáp ứng nhu cầu đi lại và trao đổi hàng hóa, phục vụ nhu cầu của người dân
Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại
Là một xã cách trung tâm của huyện không xa, có tuyến đường liên tỉnh chạyqua địa bàn xã và phát triển rất nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn nên có điềukiện thuận lợi trong phát triển kinh doanh thương mại dịch vụ đa ngành, đa lĩnh vựcnhư: Kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh hàng tạp hóa, kinh doanh sản phẩmchăn nuôi, kinh doanh chế biến các mặt hàng nông sản (thu gom, vận chuyển và chếbiến chè khô, hoa quả, các sản phẩm lâm nghiệp…), kinh doanh vận tải, gia công cơkhí, sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói, cống bi,…), khai thác vận chuyển cát,
đá xỏi… ngành tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ thương mại đã và đang pháttriển tại địa phương phục vụ cho công nghiệp đồng thời giải quyết việc làm chonhân dân Là tiền đề cho phát triển công nghiệp gắn với phát triển theo hướng hiệnđại hóa
Tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp
Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, nguồn nước Phúc Thuận có điều kiện
để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp cao, phục vụ cho các khu côngnghiệp trên địa bàn
- Đối với cây lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa 501,87 ha, Diện tích lúa cả
năm là 501,87/ 501,87 ha, đạt 100% KH Năng suất bình quân 58 tạ/ha Tổng sảnlượng đạt 2 910,85 tấn [1]
Trang 40- Đối với rau màu: Phúc Thuận có điều kiện phát triển cây rau màu khá tốt,
cụ thể: Cây lạc trồng được: 57,65/57,65 ha bằng 100% KH cả năm; đỗ tương: 20/20
ha bằng 100% KH cả năm; đỗ các loại: 42,7/ 42,7 ha bằng 100% KH; sắn: 44,5/44,5
ha bằng 100% KH; khoai lang: 257/257 ha bằng 100% KH; ngô: 46,5/46,5 ha bằng100% KH cả năm [1]
- Đối với cây chè: Xã Phúc Thuận là vùng trồng chè lớn nhất của thị xã Phổ
Yên Những năm gần đây, người dân Phúc Thuận ngoài việc mở rộng diện tích,chuyển đổi giống chè còn áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc, chế biến theo tiêuchuẩn VietGap nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm ngành chè tại địaphương Toàn xã Phúc Thuận hiện có 28 xóm trồng chè, trong đó có 10 xóm đãđược công nhận là làng nghề sản xuất chè truyền thống Với hơn 620 ha, trong đó
có 157 ha là các giống chè trồng mới, có năng suất và chất lượng cao như: LDP1,TRI 777, Kim Tuyên, Bát Tuyên… Sản lượng cho thu hoạch mỗi năm gần 1500 tấnchè khô Diện tích đất trồng chè có nằm ở phía Tây, Nam và Bắc của xã Vài nămgần đây do nhu cầu về sản phẩm chè lớn, cây chè cho hiệu quả kinh tế cao nên câychè được chú trọng đầu tư Tuy vậy, chè chính vụ cho năng suất cao nhưng giá bánthấp, trung bình giao động từ 70 – 120 nghìn đồng/kg chè búp khô Nhiều hộ giađình có diện tích trồng mới đã đầu tư hệ thống tưới phun mưa cho vườn chè, mứcđầu tư dao động từ 35-38 triệu đồng/ ha
- Đối với cây ăn quả: Phúc Thuận đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây
trồng Tích cực đẩy mạnh phát triển cây ăn quả đặc biệt là cây ổi và cây táo Từngbước đem lại hiệu quả tích cực cho sản xuất nông nghiệp Trên địa bàn xã hiện cótổng diện tích cây ăn quả là gần 400 ha Trồng mới 20 ha cây ăn quả
- Đối với phát triển lâm nghiệp: Với diện tích 2852.6544 ha rừng, Phúc
Thuận có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đồi rừng
- Đối với ngành chăn nuôi: Cách trung tâm thị xã không xa, Phúc Thuận có
nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các khu chăn nuôi tập trung, các khu chănnuôi công nghiệp với quy mô lớn Hiện tại xã đã có nhiều hộ chăn nuôi trâu bò với