1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Pre feasibility study for investment coastal VN BẢO VỆ TỔNG HỢP VÙNG BỜ VÀ PHỤC HỒI RỪNG NGẬP MẶN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

238 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 23,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 4 bao gồm phân tích hiện trạng địa điểm và những hệ thống bảo vệ bờ biển sẵn có của từng tỉnh dọc theo ĐBSCL, đưa đến khuyến nghị các biện pháp bảo vệ bờ biển thích hợp và đề xuất

Trang 1

BẢO VỆ TỔNG HỢP VÙNG BỜ VÀ PHỤC HỒI RỪNG NGẬP MẶN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nghiên cứu tiền khả thi cho đầu tư vào bảo vệ vùng bờ theo chiều dài 480 km ở Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 3

MỤC LỤC

Mục lục 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 7

1 TÓM TẮT 8

2 CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH 10

3 CÁCH TIẾP CẬN CỦA NGHIÊN CỨU KHẢ THI BẢO VỆ VÙNG BỜ 13

3.1 Cách tiếp cận chiến lược đã sửa đổi 13

3.2 Bảo vệ tổng hợp vùng bờ 16

3.3 Phân loại đường bờ biển ĐBSCL 18

4 XÁC ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ TỔNG HỢP VÙNG BỜ TẠI ĐBSCL 22

4.1 Tỉnh Bến Tre 22

4.1.1 Điều kiện biên thủy văn và hình thái động học 22

4.1.2 Đoạn 1: Huyện Bình Đại, xã Thừa Đức 26

4.1.3 Đoạn 2: huyện Bình Đại, xã Thừa Đức 30

4.1.4 Đoạn 3: Huyện Ba Tri, xã Bảo Thuận 32

4.1.5 Đoạn 4: Huyện Ba Tri, Xã An Thủy 35

4.1.6 Đoạn 5: Huyện Thạnh Phú, Xã Thạnh Hải 40

4.1.7 Đoạn 6: Huyện Thạnh Phú, Xã Thạnh Hải 42

4.2 Trà Vinh 47

4.2.1 Các điều kiện biên thủy văn và hình thái động học 47

4.2.2 Đoạn 1: Huyện Duyên Hải, Xã Hiệp Thạnh 48

4.2.3 Các đoạn 2 và 4: Huyện Duyên Hải 51

4.2.4 Đoạn 3: Huyện Duyên Hải 53

4.2.5 Đoạn 5: Huyện Duyên Hải, xã Long Vĩnh 53

4.3 Sóc Trăng 58

4.3.1 Các điều kiện biên thủy văn và hình thái động học 58

4.3.2 Hiện trạng rừng ngập mặn tại tỉnh Sóc Trăng 60

4.3.3 Tiểu dự án số 7 của Ngân hàng Thế giới: Cù Lao Dung 63

4.3.4 Đoạn 1: Huyện Trần Đề, Xã Trung Bình 87

4.3.5 Đoạn 2: Huyện Trần Đề, Xã Trung Bình 89

4.3.6 Đoạn 3: Huyện Vĩnh Châu 92

4.3.7 Đoạn 4: Huyện Vĩnh Châu 92

4.3.8 Đoạn 5: Huyện Vĩnh Châu 98

4.3.9 Đoạn 6: Huyện Vĩnh Châu 100

Trang 4

4.3.10 Đoạn 7: Huyện Vĩnh Châu 111

4.4 Tỉnh Bạc Liêu 121

4.4.1 Điều kiện biên thủy văn và hình thái động học 121

4.4.2 Đoạn 1: Thành phố Bạc Liêu 123

4.4.3 Đoạn 2: Thành phố Bạc Liêu 127

4.4.4 Đoạn 3: Huyện Hòa Bình 129

4.4.5 Đoạn 4: Từ TP Bạc Liêu đến Đông Hải 131

4.4.6 Đoạn 5: Huyện Đông Hải 134

4.4.7 Đoạn 6: Huyện Đông Hải, Gành Hào 135

4.5 Tỉnh Cà Mau - Tiểu dự án 8 của Ngân hàng Thế giới 140

4.5.1 Mô tả sơ lược về Tiểu dự án 140

4.5.2 Điều kiện biên thủy văn và hình thái động lực 142

4.5.3 Hiện trạng rừng ngập mặn ở tỉnh Cà Mau 147

4.5.4 Đoạn 1: Huyện Đầm Dơi tại cửa sông Gành Hào (bờ biển phía đông) 151

4.5.5 Đoạn 2: Huyện Đầm Dơi (bờ biển phía đông) 154

4.5.6 Đoạn 3: Huyện Năm Căn (Vùng biển phía đông) 164

4.5.7 Đoạn 4: Huyện Ngọc Hiển (mũi phía nam) 165

4.5.8 Đoạn 5: Huyện Năm Căn (vùng biển Tây) 168

4.5.9 Đoạn 6: Huyện Phú Tân tại cửa sông Bảy Háp (vùng biển Tây) 169

4.5.10 Đoạn 7: Huyện Phú Tân (vùng biển Tây) 169

4.5.11 Đoạn 8: Trần Văn Thời (vùng biển Tây) 169

4.5.12 Đoạn 9: Trần Văn Thời (vùng biển Tây) 170

4.5.13 Đoạn 10: Trần Văn Thời (vùng biển Tây) 171

4.5.14 Đoạn 11: Trần Văn Thời (vùng biển Tây) 175

4.5.15 Đoạn 12, Huyện U Minh (biển Tây) 179

4.5.16 Đoạn 13: Huyện U Minh (Bờ biển Tây) 183

4.6 Tỉnh Kiên Giang 198

4.6.1 Các điều kiện biên thủy văn và hình thái động học 198

4.6.2 Đoạn 1: Huyện An Minh 199

4.6.3 Đoạn 2: Huyện An Minh 202

4.6.4 Đoạn 3: Huyện An Minh 203

4.6.5 Đoạn 4: Huyện An Minh 206

4.6.6 Đoạn 5: Huyện An Minh 209

4.6.7 Đoạn 6: Huyện An Minh 209

4.6.8 Đoạn 7: Huyện An Biên 209

Trang 5

4.6.9 Đoạn 8: Huyện An Biên 210

4.6.10 Tiểu dự án số 9 của Ngân hàng Thế giới: Quy trình đánh giá kè phá sóng được đề xuất 216

5 KẾT LUẬN 219

DANH SÁCH BẢNG 229

DANH SÁCH HÌNH 230

Trang 7

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFD Cơ quan phát triển Pháp

CBET Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Sở NNPTNT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ESMF Khung quản lý môi trường và xã hội

KHBVPTR Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

GIZ Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit – Cơ quan hợp

tác Phát triển Đức HOAI Fee structure for architects and engineers, Cơ cấu phí cho kiến trúc sư và

kỹ sư ICMP Chương trình Quản lý tổng hợp vùng ven biển

IRR Tỷ lệ hoàn vốn nội tại

IUCN Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế

KfW Kreditanstalt für Wiederaufbau – Ngân hàng Tái thiết Đức

BỘ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Bộ NNPTNT

MECRI Sáng kiến Tăng cường chống chịu khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long

BỘ TNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường – Bộ TNMT

NPV Giá trị ròng hiện tại

LSNG Lâm sản ngoài gỗ

UBND TỈNH Ủy ban nhân dân – UBND

VIỆN QHTLMN Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam

VIỆN KHTLMN Việt Khoa học thủy lợi miền Nam

Phân viện

ĐTQHR Phân viện Điều tra và quy hoạch rừng

Trang 8

Báo cáo nghiên cứu khả thi “Bảo vệ tổng hợp vùng bờ và Phục hồi rừng ngập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long” của GIZ cung cấp đánh giá kỹ thuật toàn diện dọc theo toàn bộ đường bờ biển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tại Việt Nam Nghiên cứu này nhằm cung cấp cho các bên liên quan (cụ thể là Chính phủ VN và các đối tác phát triển) xuất phát điểm và công cụ để xác định những đầu tư vào các biện pháp bảo

vệ bờ biển Do đó, đánh giá này được coi là đóng góp trực tiếp cho đề xuất Sáng kiến tăng cường chống chịu khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long (MECRI) Bên cạnh việc phân tích toàn bộ đường bờ biển, nghiên cứu tiền khả thi cho ba tiểu dự án của Ngân hàng Thế giới “Chương trình Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL” là bộ phận không tách rời của báo cáo đánh giá này

Nghiên cứu bắt đầu vào tháng 11 năm 2015 Báo cáo Khởi động và Báo cáo Giữa kỳ

đã được nộp tương ứng vào tháng 1 và tháng 4 năm 2015 Nhóm nghiên cứu đã có một số chuyến công tác, trong đó có chuyến đầu tiên do trưởng nhóm thực hiện vào tháng 12 năm 2015, sau đó là chuyến đi của chuyên gia kỹ thuật bờ biển và sông ngòi vào tháng 1 năm 2016 và chuyến đi của các chuyên gia phục hồi rừng ngập mặn vào tháng 3 năm 2016 Đoàn nghiên cứu khả thi đầy đủ, bao gồm cả các tư vấn trong nước từ Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam và Phân viện Quy hoạch rừng, được tiến hành vào tháng 4 năm 2016 Đánh giá được tiến hành dựa trên quá trình tham vấn, bao gồm – bên cạnh những viện tại TPHCM – Bộ NNPTNT, các Sở NNPTNT khác nhau, Bộ TNMT, các UBND tỉnh, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), và Cơ quan Phát triển Pháp (AFD)

Báo cáo có cấu trúc như sau Sau khi các hoạt động chính của công việc được tóm tắt lại (Chương 2), sẽ thảo luận cách tiếp cận chung của nghiên cứu khả thi (Chương 3) Chương 4 bao gồm phân tích hiện trạng địa điểm và những hệ thống bảo vệ bờ biển sẵn có của từng tỉnh dọc theo ĐBSCL, đưa đến khuyến nghị các biện pháp bảo vệ bờ biển thích hợp và đề xuất các bước bổ sung được coi là thiết yếu nếu có kế hoạch đầu

tư cụ thể Chương về Sóc Trăng bao gồm phân tích nghiên cứu tiền khả thi của tiểu

dự án 7 của Ngân hàng Thế giới và chương về Cà Mau – tiểu dự án 8 Tiếp theo, có cân nhắc rõ ràng là KfW và AFD thăm dò các phương án đầu tư hỗ trợ dọc theo bờ biển phía Tây của ĐBSCL Các kết luận nhằm đưa ra các bài học kinh nghiệm từ đánh giá này và thảo luận ngắn về các phương án để tiếp tục đẩy mạnh quy mô bảo vệ tổng hợp bờ biển – và rộng hơn nữa – đầu tư vào quản lý bền vững đất và nước ở ĐBSCL Nói chung, báo cáo cố gắng minh họa tối đa bằng cách sử dụng nhiều ảnh, bản đồ và

sơ đồ Nhằm tạo điều kiện tiếp cận tới định dạng thân thiện với người sử dụng chúng tôi đã chuẩn bị thêm công cụ trực tuyến “Xác định các Biện pháp bảo vệ tổng hợp bờ biển ở ĐBSCL” Đơn giản là click vào phân đoạn bờ biển quan tâm, người dùng sẽ nhận được thông tin minh họa và thực tế về hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển sẵn có ở khu vực và khuyến nghị cần thêm những biện pháp bổ sung nào là thích hợp Cũng cần nhấn mạnh là báo cáo nghiên cứu này có sử dụng thông tin và dữ liệu được thu thập bởi các hoạt động nằm ngoài nhiệm vụ nghiên cứu khả thi này

Về các phát hiện, nên lưu ý là bờ biển của từng tỉnh bao gồm một số đoạn quan trọng cần có hành động bảo vệ bờ biển bổ sung ngay lập tức Mức độ cấp thiết của hành động được xác định theo cấp độ tiếp xúc của bờ biển, khả năng hư hỏng của hệ thống

Trang 9

bảo vệ hiện tại, hiện trạng của các công trình ngoài bờ biển, và mức độ/giá trị của sử dụng đất trong đê Những đoạn có “cấp thiết cao” có thể tìm thấy ở Cà Mau, Sóc Trăng, và Kiên Giang và cần thực hiện ngay các “công trình cứng” “Cấp thiết vừa” không có nghĩa là hành động có thể hoãn lại, mà có nghĩa là các biện pháp tổng hợp bao gồm cả “cứng và mềm” vẫn còn khả thi Những đoạn này có thể tìm thấy ở những tỉnh đã nêu trên cùng với Bến Tre và Trà Vinh (và Bạc Liêu ở mức độ nhất định) Những đoạn quan trọng nhưng ít cấp thiết hơn có thể tìm thấy ở phía Nam Cà Mau, Bạc Liêu và một số khu vực tại Sóc Trăng Về cách tiếp cận tới bảo vệ bờ biển, nghiên cứu này khuyến nghị phương pháp tiếp cận bảo vệ tổng hợp vùng bờ bao gồm các

“biện pháp cứng” (v.d cống, đê biển, kè phá sóng) và “biện pháp mềm” (v.d phục hồi rừng ngập mặn, hàng rào chữ T, đồng quản lý) Các kinh nghiệm trên thế giới, bao gồm cả Đông Nam Á, cho thấy các biện pháp đơn độc một loại nào đó không làm nên giải pháp thành công và bền vững

Loại hình biện pháp thích hợp (và sau đó là tổ hợp các biện pháp) chắc chắn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đoạn Tuy nhiên, nói chung, cửa sông và những vùng bờ biển biến động cao ở Bến Tre và Trà Vinh ở vùng Đông Bắc của đồng bằng cần những hướng dẫn và quy định quản lý, và một số can thiệp lựa chọn ở mức độ địa phương, như kè bao cát Bờ biển Sóc Trăng và Bạc Liêu về phía Nam vẫn bị ảnh hưởng bởi lượng phù sa sông Cửu Long và do đó có những bãi bùn rộng Những đoạn bờ biển này có thể được bảo vệ với hàng rào chữ T và phục hồi rừng ngập mặn Tại bờ biển Đông Cà Mau việc hỗ trợ cát lắng có thể là một phương án, vì chiều dài của đoạn này cần các biện pháp kỹ thuật mềm Thêm vào đó, cần phục hồi rừng ngập mặn ở đoạn này Mũi Cà Mau đang ở trạng thái cân bằng động và mọi can thiệp sẽ có tác động tiêu cực đến cân bằng trầm tích Do đó, không khuyến nghị các biện pháp công trình Bờ biển phía Cà Mau và Kiên Giang về phía Tây dốc hơn so với bờ phía Đông Do đó, khuyến nghị các biện pháp bảo vệ cứng, như kè phá sóng Ở những đoạn ít đối mặt với biển hơn có thể dùng kết hợp với phục hồi rừng ngập mặn và hàng rào chữ T

Đối với các tiểu dự án của Ngân hàng Thế giới cần phải chỉ ra rằng mặc dù cả hai tiểu

dự án mới ở giai đoạn khái niệm ban đầu, những đầu tư nêu ra trong dự thảo phù hợp với khuyến nghị Tuy nhiên, loại hình chính xác (và tổ hợp các biện pháp), mức độ và

vị trí vẫn cần được nêu rõ chi tiết hơn Cụ thể là các mô hình thúc đẩy sinh kế bền vững cần được xem xét chi tiết hơn trong các nghiên cứu khả thi đầy đủ

Trang 10

Chuyến đi của Trưởng nhóm, tháng 12 năm 2015

Trưởng nhóm, TS Johannes Wölcke tiến hành chuyến đi Việt Nam từ 30/11 – 11/12/2015 để điều chỉnh kế hoạch công tác với GIZ, giới thiệu nhiệm vụ nghiên cứu với các đối tác khác (như Bộ NNPTNT/Sở NNPTNT, Viện Khoa học thủy lợi miền Nam/Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam và Ngân hàng Thế giới) và tìm hiểu về các mối liên kết với các nguồn đầu tư có liên quan

Để tìm hiểu các mối liên kết với các đối tác phát triển khác, Trưởng nhóm đã tham gia vào đoàn tiền thẩm định “Chương trình Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL” do Ngân hàng Thế giới tài trợ Mục tiêu chính của chuyến công tác của Ngân hàng Thế giới nhằm: (i) rà soát tiến độ các hoạt động chuẩn bị, đặc biệt là hiện trạng các Nghiên cứu khả thi cho các tiểu dự án đã lựa chọn và các tài liệu đảm bảo

an toàn cần thiết; (ii) tiến hành thăm hiện trường tới những nơi đã đề xuất tiểu dự án cho năm đầu tiên để đánh giá kỹ thuật, môi trường và xã hội; và (iii) thỏa thuận về các bước tiếp theo và cập nhật lịch trình chuẩn bị dự án bao gồm cả phê duyệt của Chính phủ Việt Nam và đàm phán dự án

Nhóm Công tác của Ngân hàng Thế giới về “Chương trình Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL” bày tỏ quan tâm lớn trong việc hợp tác với nhiệm vụ này và với ICMP nói chung Kỳ vọng của họ là chương trình của Ngân hàng Thế giới

sẽ được hưởng lợi về mặt thiết kế kỹ thuật và thực hiện Theo kết quả thảo luận với Bộ NNPTNT và Ngân hàng Thế giới, đã thỏa thuận là nhóm tư vấn ICMP sẽ thực hiện

“các nghiên cứu tiền khả thi” cho các tiểu dự án 1, 7, và 8 (trong khi phân tích tiểu dự

án 1 là trọng tâm chính cho Nghiên cứu khả thi Quản lý nước của ICMP) Các tư vấn trong nước sẽ sử dụng những nghiên cứu này làm cơ sở tiến hành nghiên cứu khả thi đầy đủ

Chuyến đi của Chuyên gia kỹ thuật vùng bờ và sông, tháng 1 năm 2016

Chuyên gia kỹ thuật vùng bờ và sông, TS Thorsten Albers đi Việt Nam từ 18/1 đến 3/2 năm 2016 Mục đích của chuyến đi này là: đánh giá và phân loại bờ biển của ĐBSCL, với trọng tâm đặc biệt về khu vực từ Kiên Giang tới Sóc Trăng, và đưa ra các khuyến nghị cho các biện pháp bảo vệ vùng bờ biển cho các đoạn trên

Chuyến công tác của các chuyên gia phục hồi hồi rừng ngập mặn, tháng 3 năm

2016

Ts Hồ Đắc Thái và Max Roth thực hiện chuyến đi đến ĐBSCL vào tháng 3 năm 2016 Mục tiêu chính là đánh giá tính khả thi kỹ thuật cho việc phục hồi rừng ngập mặn cho

Trang 11

một số các điểm đã chọn dọc theo bờ biển ĐBSCL, cụ thể là ở Cà Mau, Sóc Trăng và Kiên Giang Đoàn đã kết luận: (i) đa số các điểm rất phù hợp với phục hồi hồi rừng ngập mặn, (ii) cần áp dụng cách tiếp cận bảo vệ tổng hợp vùng bờ dựa trên kết hợp các biện pháp công trình đã chọn; và (iii) sự thiếu hụt dữ liệu (vd định mức chi phí và tốc độ tăng trưởng) là một thách thức (vấn đề này được đoàn công tác tháng Tư đề cập đến – xem tiếp dưới đây)

Đoàn đánh giá khả thi đầy đủ, tháng 4 năm 2016

Đoàn đánh giá đầy đủ đã tiến hành chuyến đi từ 30/3-14/4 năm 2016 Những mục tiêu chính của đoàn là: (i) tìm hiểu tình trạng chuẩn bị các tiểu dự án đã chọn của Ngân hàng Thế giới; (ii) xác định những thách thức cụ thể cho việc chuẩn bị các tiểu dự án

đã chọn (bao gồm cả thách thức liên quan đến việc tiến hành đánh giá (tiền) khả thi); (iii) thu thập dữ liệu và thông tin có sẵn; (iv) thực hiện thăm hiện trường tới tất cả các địa điểm trong nghiên cứu khả thi; và (v) xác định tiến trình làm việc tiếp theo để hoàn thành nghiên cứu khả thi trong sự hợp tác chặt chẽ với Nhóm GIZ ICMP Đoàn tư vấn bao gồm: TS Johannes Wölcke (Trưởng nhóm), TS Thorsten Albers (chuyên gia bờ biển và sông), TS Hồ Đắc Thái Hoàng (chuyên gia rừng ngập mặn), Max Roth (chuyên gia rừng ngập mặn), TS Miriam Vorlaufer (kinh tế), TS Nguyễn Nghĩa Hùng (Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Phát triển Kỹ thuật và hạ tầng nông thôn, Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, chuyên gia quản lý dự án), TS Đặng Thanh Lâm (Phó viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, kỹ sư thủy lợi), TS Phạm Trọng Thịnh (Giám đốc phân viện FIPI, chuyên gia lâm nghiệp), và TS Đinh Công Sản (Phó viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, kỹ sư thủy lợi)

Chuyến công tác bắt đầu ở Hà Nội với cuộc họp khởi động ở Văn phòng GIZ ICMP Trong cuộc họp này, đã thảo luận cách tiếp cận có điều chỉnh và hoàn thiện phần hậu cần của chuyến công tác Một cuộc họp được tiến hành với Bộ NNPTNT và Ngân hàng Thế giới để làm rõ hơn vai trò của nghiên cứu khả thi ICMP đối với việc chuẩn bị các tiểu dự án có liên quan Trong cuộc họp với KfW, phạm vi của nghiên cứu tiền khả thi đối với các địa điểm tiềm năng cho can thiệp của KfW ở Tây Bắc Cà Mau đã được thảo luận Đoàn tiếp tục với cuộc họp với cán bộ ICMP tại TP HCM Tiếp theo là các cuộc họp với tư vấn trong nước (họ là cán bộ của các viện tại TPHCM như Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam, và phân viện Quy hoạch rừng) để làm rõ tình hình chuẩn bị các tiểu dự án liên quan và chuẩn bị cho khảo sát hiện trường Khảo sát hiện trường được tiến hành ở An Giang và Kiên Giang (tiểu dự

án 1 thuộc Đánh giá Khả thi nước của ICMP), Sóc Trăng/Cù Lao Dung (tiểu dự án 7),

và Cà Mau (tiểu dự án 8 cộng thêm các địa điểm tiềm năng cho KfW và AFD) Trong toàn bộ chuyến đi hiện trường, các tư vấn quốc tế có tư vấn trong nước và cán bộ tương ứng của ICMP tại các tỉnh đi kèm Tại Sóc Trăng một cuộc họp được tổ chức với điều phối viên của ICMP để trao đổi kết quả chuyến công tác hiện trường Cù Lao Dung Khi về TP HCM, các cuộc họp bổ sung đã được tổ chức với tư vấn trong nước

để thảo luận những vấn đề còn lại và tiến trình tiếp theo Cuộc họp kết luận chuyến công tác được tổ chức vào ngày 14/4 (có nối skype với Văn phòng ICMP ở Hà Nội)

Trang 12

Báo cáo Khởi động và Báo cáo Giữa kỳ

Báo cáo Khởi động và Báo cáo giữa kỳ được nộp đúng thời hạn vào tháng 1 và tháng

4 năm 2016 Báo cáo Khởi động trình bày những phát hiện chính của các chuyến công tác của trưởng nhóm và chuyên gia bờ biển và sông, cung cấp kế hoạch công tác cập nhật và những bước tiếp theo (bao gồm cả chuyến công tác đầy đủ, báo cáo giữa kỳ

và các cột mốc quan trọng khác) Báo cáo Giữa kỳ tóm tắt các phát hiện của chuyến công tác đầy đủ và xác định cách tiếp cận khái niệm đã điều chỉnh (xem Chương 3) Hơn nữa, báo cáo cung cấp một số phát hiện ban đầu về các tiểu dự án 7 và 8 của Ngân hàng Thế giới

Cuối cùng, các kết quả của nghiên cứu khả thi này được dự kiến trình bày tại một hội thảo với tất cả các bên liên quan tại Cần Thơ vào đầu tháng 7/2016

Trang 13

Chương này mô tả cách tiếp cận chiến lược đã sửa đổi và phương pháp luận áp dụng cho nghiên cứu khả thi này Hơn nữa, khái niệm chung về bảo vệ tổng hợp bờ biển được giới thiệu ngắn gọn và việc phân loại bờ biển ĐBSCL được giải thích, bao gồm

cả tóm tắt phân tích những thông số chính để xác định các biện pháp bảo vệ bờ biển thích hợp

3.1 Cách tiếp cận chiến lược đã sửa đổi

Sau khi nộp Báo cáo Khởi động vào cuối tháng 2/2016, nhóm GIZ ICMP chỉ ra rằng các ưu tiên

về trọng tâm và phạm vi của nghiên cứu bảo vệ bờ biển đã thay đổi Nhóm ICMP yêu cầu đoàn

tư vấn tập trung cụ thể hơn vào mối liên kết với những tiểu dự án của Ngân hàng Thế giới

“Chương trình Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL” GIZ- ICMP đã đồng ý với Bộ NNPTNT và Ngân hàng Thế giới là các nghiên cứu khả thi của GIZ sẽ là đầu vào tiền khả thi của các tiểu dự án tương ứng và sẽ được dùng làm cơ sở cho các nghiên cứu khả thi do các

tư vấn trong nước của Bộ NNPTNT tiến hành vào cuối năm 2016 Hơn nữa, nhóm tư vấn được yêu cầu chủ yếu đề cập đến các khía cạnh kỹ thuật và kinh tế/tài chính cho từng tiểu dự án (yếu tố 1- 3 của 7 yếu tố được liệt kê trong đề xuất kỹ thuật và báo cáo khởi động), trong khi các yếu tố 4 – 7 của nghiên cứu khả thi (v.d đảm bảo môi trường và xã hội, tác động kinh tế -

xã hội, tăng cường năng lực, và cơ cấu thể chế thực hiện) sẽ không được đề cập chi tiết (xem Hình 1)

Trang 14

!

!"#$%&'%()%$*+,$%,-#.%/01,%23%456%270%

': làm rõ hLn nhXng y/u tI nRm trong báo cáo cuIi cùng c@a nghiên cEu kh6 thi b6o

v7 b8 bi:n, các t1 vOn cung cOp hình minh hCa các giai 3o9n c@a công vi7c theo “cL

cOu phí cho ki/n trúc s1 và kT s1” (HOAI) và chu trình 3i:n hình c@a dH án 3Ku t1 (xem Hình 2) NhXng giai 3o9n công vi7c này không ch> áp d"ng cho các 3Ku t1 h9

tKng, nh1ng v? nguyên tYc cNng áp d"ng cho các ki:u 3Ku t1 khác, nh1 ph"c hQi rDng

ng0p mGn Nh1 3ã ch> ra trong Hình 2, 3ánh giá kh6 thi b6o v7 b8 bi:n t0p trung vào hai giai 3o9n 3Ku c@a công vi7c “3ánh giá cL b6n” và “l0p k/ ho9ch và thi/t k/ sL bB”,

th18ng 312c ti/n hành nh1 mBt phKn c@a chu]n bP và th]m 3Pnh dH án 3Ku t1 NhXng giai 3o9n khác tD 3-9 bao gQm các b1Jc th@ t"c 3Ou thKu và giai 3o9n xây dHng, mà

ch@ y/u là 312c ti/n hành trong khi thHc hi7n dH án 3Ku t1 và s[ không 312c 3? c0p 3/n trong nghiên cEu kh6 thi này

Trang 15

Hình 2: Làm rõ sản phẩm cuối cùng – các giai đoạn công việc theo HOAI

Tiếp đó, Hình 3 minh họa chi tiết hơn những yếu tố nào nằm trong hai giai đoạn đầu tiên “đánh giá cơ bản” và “lên kế hoạch và thiết kế sơ bộ”, mà nghiên cứu khả thi ICMP

đề cập đến Ví dụ giai đoạn đầu bao gồm làm rõ các mục tiêu dự án, phân tích những thách thức phát triển, xác định điều kiện biên, và xây dựng khái niệm của các biện pháp đề xuất Giai đoạn sau bao gồm, ví dụ như, xác định các giải pháp có thể có (tính đến mức độ thực tế, hiệu quả chi phí, tính bền vững môi trường và xã hội), xây dựng khái niệm lập kế hoạch (bao gồm các giải pháp lựa chọn, đồ họa và đánh giá, thiết kế

sơ bộ), và dự tính chi phí – lợi ích

Như đã nêu ở trên, thay vì bao gồm chỉ một địa điểm, nhóm tư vấn được yêu cầu bao quát toàn bộ đường bờ biển ĐBSCL, với trọng tâm chuyên về tiểu dự án 7 của Ngân hàng Thế giới (Sóc Trăng/Cù Lao Dung), tiểu dự án 8 (Cà Mau), vùng phía Nam của tiểu dự án 9 (Kiên Giang) cộng với các địa điểm tiềm năng cho can thiệp của KfW và AFD tại Tây Bắc Cà Mau

Trang 16

Sau khi mô t6 trCng tâm và ph9m vi 3ánh giá nh1 M trên, phKn này giJi thi7u khái ni7m

kT thu0t chung v? b6o v7 t5ng h2p b8 bi:n áp d"ng cho nghiên cEu kh6 thi này Trên

th/ giJi, hàng nghìn kilomet bãi bi:n bùn 3ang chPu xói lM Các bi7n pháp gi6m nhb

nh1 3ê bi:n, t18ng chYn sóng và kè phá sóng 3ã 312c chEng minh là không hi7u qu6

n/u ch> là các bi7n pháp 3Eng 3Ln lc mBt mình 'i?u 3ó cNng 3úng 3Ii vJi ph"c hQi

rDng ng0p mGn và các “bi7n pháp m?m” khác Do 3ó, mBt sH k/t h2p các bi7n pháp và

nhXng cách ti/p c0n khác coi trCng nguyên tYc “xây cùng thiên nhiên” 312c cân nhYc

có th: phù h2p hLn T9i nhi?u khu vHc b8 c@a 'BSCL, các bãi bùn bP xói lM vJi tIc 3B 10-50 mét mBt nAm RDng ng0p mGn 3ã hoàn toàn bi/n mOt M mBt sI 3o9n MOt vành 3ai rDng ng0p mGn và bãi ng0p th@y tri?u cho thOy mEc 3B xuIng cOp 3áng k: c@a h7

thIng b6o v7 b8 bi:n hi7n nay Trong phKn lJn tr18ng h2p, xói lM là h0u qu6 trHc ti/p

do tác 3Bng c@a con ng18i, ví d" nh1 bi/n rDng ng0p mGn thành khu vHc nuôi trQng

th@y s6n, 3i?u ch>nh dòng ch6y c4a sông và xây dHng các công trình b8 bi:n nh1 318ng giao thông và c6ng S"t lún do khai thác n1Jc ngKm quá mEc cNng 3óng vai trò trong xói lM

Winterwerp et al (2005, 2013) l0p lu0n là xây dHng ao cá/tôm và trQng rDng quá gKn mép n1Jc làm thay 35i cân bRng phù sa mPn tH nhiên, gi6m l12ng phù sa t6i v? b8 do

h9n ch/ khu vHc ng0p tri?u vùng 3Ot sau 3ê HLn nXa, xói lM do sóng tAng thêm Xói

lM do sóng 3Ku tiên tAng lên do sóng ph6n x9 tD các b8 bao c@a ao nuôi cá, và sau 3ó 312c gia tIc khi mGt bãi tri?u tD d9ng lQi (tiêu bi:u cho b8 bi:n 5n 3Pnh, bQi lYng)

• t2N$.2>4$O]$%;-N$,8$.2]01$PL$ÅP;j?$PLÉ$

• ähl$rs01$P2I;$0;-?$éNl$2+S#2_$6K+$1:?$#I#$42Mp01$I0_$T:$ 2+S$,8$TI02$1;I_$.2;E.$PE$.2Ö_$#h0$02F#$TnN$,8+$6L0$01+8;$

• y8?$<ì$#I#$6];$#*02$PÄ$.2N>._$I4$r"01$,8+$.=01$T;fN$P;-0$ Å./01$234$#I#$6;-0$42I4_$éNI$.<v02$.Mp01$.I#É$

• ís$.+I0$#2;$42V$Å%3;$V#2É_$O+$OI02$,q;$T;fN$P;-0$.8;$#2V02$6;L0$

• t8;$%;-N$2+I_$42h0$.V#2$,8$.`?$.F.$PE.$éN*$

$

Trang 17

độ quá thấp không đủ tạo điều kiện phi sinh học thuận lợi

Do đó, cách tiếp cận chung phải là tái tạo hệ thống bảo vệ bờ biển tự nhiên Chiến lược bảo vệ bờ biển theo từng khu vực được coi là hiệu quả hơn so với việc sử dụng một yếu tố bảo vệ bờ biển đơn lẻ Hơn nữa, cách tiếp cận này sẽ tạo điều kiện hiện thực hóa các lợi ích song song về kinh tế-xã hội và môi trường Dọc theo những đoạn không có vành đai rừng ngập mặn, cần đánh giá về điều kiện tại chỗ xem có phù hợp

để thiết lập rừng ngập mặn hay không Nếu rừng ngập mặn đã từng có trong quá khứ, các hoạt động tái trồng rừng có thể được tiến hành ở những nơi chưa bị xuống cấp Ở những nơi đã xuống cấp cần phục hồi rừng ngập mặn Ở những nơi chưa từng có rừng ngập mặn trong quá khứ, có thể trồng mới nếu địa điểm đó phù hợp với rừng ngập mặn và trồng các loài thích hợp

Chỉ đơn giản trồng rừng ngập mặn không có ích mấy nếu không có các biện pháp bảo

vệ bổ sung Các hàng rào chữ T bằng tre có thể là biện pháp bảo vệ bờ biển hữu hiệu

để phục hồi bãi ngập triều và tạo điều kiện cho tái sinh hay phục hồi rừng ngập mặn ở những điểm bị xói lở Tuy nhiên, ở những điểm bị tiếp xúc sóng biển (vd Do độ sâu ở cửa sông) hay những nơi hình dạng hình dạng bờ biển bị thay đổi thành bờ biển lõm, nếu chỉ áp dụng riêng hàng rào chữ T sẽ không khả thi mà phải đi kèm với biện pháp nuôi dưỡng phù sa ở khu vực giữa các hàng rào Ở những nơi bị phơi sóng nhiều hơn thì việc xây dựng các công trình cứng là không tránh khỏi Trong trường hợp này, công trình phải làm thích nghi với điều kiện địa phương Ở bờ biển Cà Mau đã có những kinh nghiệm tốt về việc áp dụng các kè phá sóng thẳng đứng Tuy nhiên, cần tránh xây dựng kè phá sóng song song với bờ biển dài nhiều kilomet liền để đảm bảo lượng phù

sa tải vào bờ không bị giảm đi đáng kể Nếu cần xây dựng kè bê tông, chúng cần được kết hợp với việc phục hồi rừng ngập mặn để tái tạo hệ thống bảo vệ tự nhiên và giữ khả năng tháo dỡ công trình cứng trong trung hạn

Các biện pháp bảo vệ bờ biển và thích ứng với biến đổi khí hậu cần phải được khuyến nghị riêng và phù hợp với địa điểm, và dựa trên sự hiểu biết tốt các quá trình tự nhiên

và quá trình vùng bờ (về không gian và thời gian) Sự phát triển động lực hình thái của đoạn bờ biển cần được tìm hiểu rõ và các biện pháp bảo vệ bờ biển phải tuân theo sự phát triển này Đấu tranh chống lại xu hướng chung của xói lở có thể là không tránh khỏi ở nơi có hạ tầng thích hợp (v.d Cảng biển), nhưng khi đó cần thực hiện chuẩn về

kỹ thuật và cần nguồn tài chính to lớn Nói chung, quy hoạch và quản lý bờ biển phải tuân theo phát triển tự nhiên và bao gồm cả các biện pháp bảo vệ mềm và cứng thích hợp Xét về nguồn tài chính hạn chế cần có sự ưu tiên và tối ưu hóa thiết kế

Trang 18

3.3 Phân loại đường bờ biển ĐBSCL

Một phần của nghiên cứu là phân loại đường bờ biển của cả ĐBSCL (từ Bến Tre đến Kiên Giang) Mục tiêu là xác định các đoạn có tính đồng nhất về điều kiện địa điểm cho các hệ thống bảo vệ bờ biển Kết quả là đã xác định được một số đoạn đồng nhất dài

từ 1 đến 20 km Với những đoạn đồng nhất này các dạng đặc thù của các biện pháp bảo vệ bờ biển đã được xác định, có cân nhắc đến mức độ tiếp xúc sóng và tính cấp bách của các can thiệp Thu thập dữ liệu và thông tin được dựa trên đánh giá quan sát trực tiếp, phân tích số liệu có sẵn và rà soát các báo cáo và nghiên cứu trước đó Những thông số chính để phân loại đường bờ biển và cho quá trình thiết kế là: (i) mực nước (dao động thủy triều bình thường nhưng cũng bao gồm mực nước cực đoan), (ii) thông số sóng biển (chiều cao sóng ý nghĩa và cực đại, chu kỳ sóng), (iii) đặc điểm của đất, và (iv) hình dạng độ sâu bờ biển Rừng ngập mặn làm giảm năng lượng của sóng

và giảm đáng kể độ cao của sóng Vì độ cao của sóng là thông số chủ yếu để tính độ leo của sóng và mức sóng vượt qua liên quan tới chiều cao cần thiết của đê, cần có rừng ngập mặn trong quá trình thiết kế chung Như vậy, kiến thức về tình trạng và độ rộng của vành đai rừng ngập mặn là một yếu tố cần cân nhắc khi xác định các biện pháp bảo vệ thích hợp Cụ thể, trong trường hợp bị xói lở thì can thiệp bằng rừng ngập mặn trở nên cần thiết

Các thông số chính cần phải được cân nhắc chung khi xác định khả năng áp dụng của một biện pháp nào đó, bởi vì các thông số cùng nhau tạo ra đặc điểm đường biên chung của hiện trạng địa điểm Ví dụ, nếu hình dạng đường bờ biển quá dốc và sóng

ở khu vực đó quá cao (hai thông số này tương tác), việc áp dụng hàng rào chữ T là không khả thi Nếu cao hơn những giá trị ngưỡng nhất định (ví dụ mực nước triều thấp

là 1m và/hoặc chiều cao sóng ý nghĩa > 0,8 m) các biện pháp cứng như kè phá sóng

bê tông được khuyến nghị Ở những vùng chuyển tiếp việc áp dụng cả hai biện pháp

là khả thi

Nói chung, những công trình chuẩn cần được áp dụng dọc theo toàn bộ bờ biển ĐBSCL.Chúng cần được lựa chọn và chi tiết hóa bởi những chuyên gia kỹ thuật và được phê duyệt kỹ thuật chung, bao gồm tất cả các chi tiết xây dựng như nền móng và lớp lọc Những phương án thay thế cho những công trình đã được chứng minh cần được thử nghiệm chi tiết dựa trên mô hình vật lý và toán và được phê duyệt từng trường hợp một trước khi đem ra áp dụng tại hiện trường Dựa vào điều kiện biên của địa phương, cần tiến hành tối ưu hóa của thiết kế xây dựng tiêu chuẩn Quá trình tối

ưu hóa này không bao gồm thiết kế chung nhưng bao gồm biến động của các thông số như chiều cao và đường kính Ví dụ, ở nơi áp dụng hang rào chữ T không khả thi do chiều cao của sóng và hình dạng bờ biển, kích thước của kè phá sóng có thể được giảm thiểu (ví dụ lượng bê tông tối thiểu)

Bảng 1 cho thấy tóm tắt đơn giản các thông số chính áp dụng cho phân loại và xác định biện pháp can thiệp Do phải cân nhắc chiều dài bờ biển khoảng 480 km và sự đa dạng của các đoạn bờ biển, nghiên cứu khả thi chứa rất nhiều thông tin và số liệu địa

lý và không gian, bao gồm ảnh thực địa Việc mô tả một khối lượng lớn dữ liệu và thông tin với tham chiếu địa lý và không gian trong một báo cáo không phải luôn là thế mạnh và thân thiện với người sử dụng Do đó, ngoài báo cáo này còn một công cụ

Trang 19

trực tuyến được xây dựng bao gồm tất cả thông tin, dữ liệu ở dạng xml Để sử dụng

công cụ này không cần phần mềm nào ngoài trình duyệt internet

Bảng 1: Tóm tắt đơn giản của phân loại

Hình 4 cho thấy kết quả của việc phân loại bờ biển ĐBSCL, bao gồm cả minh họa mức

độ cấp thiết cần can thiệp Cần phải nhấn mạnh là bờ biển của mỗi tỉnh bao gồm một

số đoạn đáng kể cần có can thiệp bảo vệ bờ biển ngay lập tức Tính cấp thiết cần

hành động được xác định bởi mức độ tiếp xúc sóng của bờ biển, khả năng thất bại của

Đoạn Thủy văn Hình

thái Độ sâu

Khuyến nghị can thiệp

Cát Cấu trúc phức

tạp các bãi triều ngoài khơi và đồi cát

Tiếp cận quản

lý (sử dụng đất),

Kè bao cát, Phục hồi rừng ngập mặn

++ +

Sóc Trăng –

Bạc Liêu

Bờ biển với ảnh hưởng của cửa sông, hệ thủy triều Biển Đông, ảnh hưởng chính bởi sóng

Bùn Hình lồi lên, bãi

triều, đồi cát ngoài khơi di chuyển

Quản lý và phục hồi rừng ngập mặn, hàng rào chữ T, kè bao cát, kè phá sóng

+ / ++ / +++

+++

Đông

Cà Mau

Bờ biển, ảnh hưởng chính bởi sóng

Sét cứng

Hình dạng lõm Nuôi dưỡng, kè

phá sóng, phục hồi rừng ngập mặn

+++ ++

Nam Cà Mau Bờ biển, khu

vực chuyển tiếp hai hệ thủy triều, ảnh hưởng chính bởi sóng

Cát Bùn

Cấu trúc phức tạp của bãi bồi

và đồi cát ngoài khơi; hình dạng lồi

Không (quan trắc bờ biển)

Bùn Dốc, hình tuyến

tính

Kè phá sóng, phục hồi rừng ngập mặn

++ / +++

Bùn Hình lồi, các bãi

triều

Hàng rào chữ T ++ +

*Chú thích: + Thấp / ++ Trung bình / +++ Cao

Trang 20

hệ thống bảo vệ hiện có, tình trạng của các cấu trúc sát mép nước, và mức độ/giá trị của sử dụng đất đằng sau hệ thống bảo vệ Những đoạn có mức độ “cấp thiết cao” có thể thấy ở Cà Mau, Sóc Trăng, và Kiên Giang và cần thực hiện ngay “cấu trúc cứng”

“Cấp thiết vừa” không có nghĩa là có thể hoãn can thiệp, mà chỉ là các giải pháp tổng hợp kết hợp “biện pháp cứng và mềm” vẫn còn khả thi Những giải pháp đó có thể tìm thấy ở các tỉnh trên cộng với Bến Tre và Trà Vinh (một mức độ nào đó bao gồm cả Bạc Liêu) Một số đoạn đáng kể với mức độ cấp thiết thấp hơn có thể được thấy ở Nam Cà Mau, Bạc Liêu, và một số đoạn của Sóc Trăng Tại Bến Tre và Trà Vinh, một

số đoạn khác nhau mới chỉ được khảo sát một lần Hơn nữa, thông tin về các đoạn cửa sông biến động mạnh đó rất hạn chế Do đó phân loại toàn bộ bờ biển không thực hiện được cho những tỉnh này

Hình 4: Phân loại bờ biển và đánh giá mức độ cấp thiết cần can thiệp

Trang 21

Trong nhXng phKn ti/p theo, chúng tôi s[ xem xét chi ti/t và 3ánh giá tDng 3o9n b8

bi:n 3ã phân lo9i dCc theo toàn bB 'BSCL.Vi7c 3ánh giá s[ bYt 3Ku tD 'ông BYc B/n Tre và s[ theo b8 bi:n v? phía Tây 3/n Kiên Giang.Chúng tôi s[ nêu tên các cuBc

kh6o sát 3ã thHc hi7n, dX li7u s\n có và các tr9m th@y vAn 3ã s4 d"ng trong nghiên

cEu, và mEc 3B tin c0y c@a các can thi7p s[ 312c 3ánh giá dHa trên thông tin 3ó VJi

mVi 3o9n b8 bi:n, hi7n tr9ng b8 bi:n và h7 thIng b6o v7 3ang có s[ 312c mô t6 ngYn

gCn và sau 3ó là các khuy/n nghP v? các bi7n pháp b6o v7 b8 bi:n, bao gQm c6 các

bi7n pháp công trình và bi7n pháp liên quan 3/n rDng ng0p mGn Ti/p theo, các ho9t 3Bng và b1Jc 3i quan trCng c" th: 312c xác 3Pnh cho vi7c chu]n bP các ho9t 3Bng 3Ku

t1 ti?m nAng c@a Chính ph@ Vi7t Nam và các 3Ii tác phát tri:n Trong tr18ng h2p các

ti:u dH án 7 và 8 c@a Ngân hàng Th/ giJi, các bi7n pháp 3? xuOt 312c 3ánh giá v?

mGt kT thu0t và kinh t/ 3/n mEc có th: 312c, các bi7n pháp thích Eng hay b5 sung 312c 3? xuOt, và nhXng b1Jc còn l9i cho 3ánh giá kh6 thi 312c khuy/n nghP cho các

t1 vOn trong n1Jc Hình 5 th: hi7n vP trí c@a tOt c6 9 ti:u dH án hi7n 3ang 312c chu]n

bP NhXng vòng tròn trong hình v[ 3ánh dOu hai ti:u dH án c@a Ngân hàng Th/ giJi mà 3ã 312c phân tích chi ti/t hLn

'

YZ&"';['pm'5.'*6*'5)u#'zÄ'6&'*+,'s1k&'"D&1'-"%'1)Å)

Trang 22

4.1.1 Điều kiện biên thủy văn và hình thái động học

Nghiên cứu này sử dụng kết quả từ lần khảo sát một số điểm chọn lọc ở tỉnh Bến Tre chịu sự đe dọa của xói mòn bờ biển (IUCN, 2013) Hơn nữa, nghiên cứu sử dụng kết quả từ dự án “Xây dựng khả năng thích nghi với tác động của Biến đổi khí hậu tại bờ biển Đông Nam Á” do EU tài trợ và IUCN thực hiện (Nguyễn Tấn Phong, 2015) Trạm

đo thủy triều ở Vũng Tàu nằm cách Bến Tre khoảng 40 km về phía Đông Bắc Dữ liệu

từ trạm này có thể được sử dụng để đánh giá điều kiện biên thủy triều cho Bến Tre và Trà Vinh Mực nước thủy triều ở Bến Tre và Trà Vinh khác một chút với Vũng Tàu vì ảnh hưởng đẩy của gió Tuy nhiên, dữ liệu sẽ đủ chính xác để mô tả tình trạng thủy triều nói chung Một số bộ số liệu về mực nước đã sẵn có cho huyện An Thuận Một số

bộ dữ liệu hạn chế và ngẫu nhiên về độ mặn đã có sẵn cho huyện Thạnh Phú

Dựa trên mức độ, chất lượng và số lượng khảo sát đã thực hiện và thông tin có sẵn, dựa trên kinh nghiệm chuyên gia, chúng tôi đã đánh giá chất lượng và số lượng dữ liệu và số liệu theo thời gian và mật độ cũng như độ tin cậy của mạng lưới các trạm

Trang 23

thủy văn hiện có và mức độ tin cậy của các biện pháp bảo vệ bờ biển tiềm năng Độ tin cậy của cơ sở thông tin được đánh giá từ kém (0% tin cậy) cao nhất (100% tin cậy)

Hiện trạng của bờ biển 60%

Hình thái động học 40%

Độ tin cậy chung của cơ

Bảng 3: Độ tin cậy cơ sở thông tin cho Bến Tre

Bờ biển của tỉnh Bến Tre là môi trường cửa sông bị ảnh hưởng chính của thủy triều với mực triều lên xuống trong khoảng 3,0 đến 3,5 m Bờ biển bị ảnh hưởng bởi chế độ dòng chảy của sông Cửu Long và lượng phù sa của sông Hơn nữa, đường bờ biển bị tác động bởi chế độ thủy triều của Biển Đông Việt Nam cũng như dòng hải lưu vùng

bờ do hướng gió mùa chủ đạo gây ra cùng với điều kiện tương ứng của sóng Những đồi cát và bãi triều ngoài biển tạo thành hệ thống bảo vệ tự nhiên làm giảm năng lượng sóng đi vào Trong môi trường phức tạp này, cách thức xói mòn và tích lũy cát và bùn thay đổi theo thời gian và không gian Tại điểm mặt cắt của sông rộng ra ngoài cửa sông, dòng chảy giảm (theo phương trình liên tục) và phù sa do sông tải ra bắt đầu lắng Nói chung, phù sa với độ hạt lớn lắng gần cửa sông hơn là phù sa có độ hạt mịn hơn

Do địa hình độ sâu đáy biển phức tạp (địa mạo đáy biển) ở vùng bờ biển, bờ biển cát, phù sa hay sét có thể thay đổi không phụ thuộc vào mô hình chung Đặc biệt ở những vùng được che chắn, ví dụ phần khuất gió sau các đảo hay bán đảo, xuất hiện những đoạn bùn Trong khi bờ biển Sóc Trăng và Bạc Liêu nằm xa cửa sông hơn và chủ yếu

bị ảnh hưởng bởi bùn, đặc tính của bờ biển Bến Tre và Trà Vinh đa dạng hơn do vị trí cửa sông

Hình dưới đây minh họa mực nước ở trạm đo Vũng Tàu và An Thuận trong năm 2006 Mực nước biến thiên theo chế độ bán nhật triều và chu kỳ nửa tháng triều cường và triều kém có thể nhìn thấy rõ ràng Mực nước ở trạm An Thuận có cao hơn một chút

do cột nước của sông Cửu Long

Trang 24

Hình 7: Mực nước ở Vũng Tàu năm 2006

Hình 8: Mực nước ở An Thuận năm 2006

Số liệu rời rạc về độ mặn của trạm ở huyện Thạnh Phú cho thấy độ mặn dao động từ 0,5 g/l và 12 g/l vào mùa khô tùy theo thủy triều (triều xuống hay lên)

Một phần của khảo sát tiến hành năm 2013 (IUCN, 2013), đã khảo sát sáu điểm ở huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Kết quả được dùng tối đa để phân loại bờ biển

ở tỉnh Bến Tre (xem Hình 9: Phân loại bờ biển ở Bến Tre) Tuy nhiên, có những đoạn

bờ biển, đặc biệt ở huyện Bình Đại, chúng tôi không thể đánh giá được nếu không khảo sát nhiều hơn

Trang 25

Hình 9: Phân loại bờ biển ở Bến Tre

Quan sát chung về sử dụng đất và hệ thống bảo vệ bờ biển sẵn có

Những thay đổi trong hệ thống sử dụng đất, đặc biệt là sự mở rộng sản xuất thủy sản

và nông nghiệp một cách không có kiểm soát, làm cho bờ biển Bến Tre dễ bị tổn thương do xói lở, gió bão và nước biển dâng Nuôi trồng thủy sản chiếm diện tích sử dụng đất lớn nhất ở Bến Tre, tới 45% diện tích Rừng ngập mặn bị xuống cấp và phá rừng đã được quan sát ở phạm vi đáng kể Rừng ngập mặn dày và phong phú chỉ còn lại ở Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú Trong những năm 1990 một

số lượng lớn người di cư đã lập ra nhiều cụm nhà, đầm thủy sản và sản xuất nông nghiệp trên bờ biển huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú Các nông sản bao gồm dưa hấu, sắn và lạc Các ao thủy sản tôm và cá được xây bằng cách phá bỏ rừng ngập mặn, xây những bờ bao mỏng bằng thủ công và cửa lấy nước biển Các ao được vận hành bằng cách mở cửa lúc triều lên để thu gom trứng cá, tôm, và cua từ biển Các cồn cát dọc theo rừng ngập mặn vùng biển bị khai thác bất hợp pháp để xây dựng những vuông tôm thâm canh

Sóng to lúc triều lên thường phá vỡ đê bao mỏng và yếu, cùng những cửa nhận nước được xây dựng sơ sài, gây ra xói lở bờ biển nghiêm trọng ở nhiều đoạn dọc theo bờ biển các huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú Kết quả là đường bờ biển bị xói lở, với khoảng cách mất ít nhất 500 m Phần còn lại của đê bao vẫn còn nhìn thấy dọc bờ biển khi triều xuống, đặc biệt ở xã An Thủy và Thừa Đức Tuy nhiên, những ao thủy sản và hoạt động tương tự như vẫn được áp dụng ở một số nơi trong ba huyện Mặc dù nằm trong khu vực rừng ngập mặn đặc dụng thiết lập từ 1999, bờ biển các xã Thừa Đức, Thạnh Hải và Bảo Thuận vẫn đang được sử dụng nhiều cho phát triển vùng biển Phát triển vùng biển bao gồm nhà hàng, quán cà phê và khu nghỉ dưỡng

Trang 26

Các giải pháp kỹ thuật đã được sử dụng ở tỉnh Bến Tre nhằm bảo vệ những tài sản địa phương chống lại xói lở, gió bão và ngập lụt tạm thời, và để chặn nước mặn xâm nhập vào khu vực sản xuất nông nghiệp Những giải pháp này bao gồm đê biển và hệ thống cửa cống, và đê sông Đến nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào về vận hành cửa cống

ở Bến Tre

Các kỹ thuật quản lý hành chính bờ biển và quy hoạch thường được cung cấp bởi quy định pháp quy của chính phủ và bao gồm các chính sách, quy định và cưỡng chế Những cách tiếp cận đó cần được thiết lập để đảm bảo quản lý tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đáp ứng lợi ích và hoạt động của nhiều bên liên quan

Quyết định sử dụng đất rất quan trọng đối với phát triển và quản lý bền vững bờ biển Trong nhiều các quyết định sử dụng đất gây tranh cãi có vị trí của những con đê biển bằng đất Một số đoạn đê được lên kế hoạch hoặc đã xây trong những khoảng rừng ngập mặn còn nguyên ở Thạnh Phú và Ba Tri, trong khi những đoạn đê còn lại hướng thẳng ra biển ở huyện Bình Đại và một số phần phía Bắc của huyện Thạnh Phú Tiếp

đó, những khoảng rừng ngập mặn nguyên vẹn ở Thạnh Phú bị bật rễ nên không kiểm soát được xói lở Cùng lúc đó, rừng ngập mặn vùng biển đã bị xuống cấp đáng kể từ năm 2005 Tất cả các nhân tố trên đang đe dọa sự an toàn và đồng nhất của hệ thống

đê biển tại Bến Tre

Theo Quyết định số 667 của Thủ tướng Chính phủ năm 2009, hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang sẽ được củng cố và/hoặc nâng cấp nhằm đối phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xói lở bờ biển Đê biển bằng đất được thi công cơ giới

ở huyện Ba Tri và Bình Đại bằng cách đào trầm tích phía trong đê Đá dăm được rải trên đê Mặt đê đá dăm ở Ba Tri và Bình Đại đang được sử dụng làm đường nông thôn Việc xây dựng đê biển ở Ba Tri và Bình Đại để lại một kênh dài và sâu chạy song song với mặt đê rải đá dăm Các cửa cống có kế hoạch sẽ xây dọc sông để nối liền toàn bộ hệ thống đê đất ở tỉnh Bến Tre

Trong phần sau, các đoạn/điểm được phân loại sẽ được thảo luận riêng biệt

4.1.2 Đoạn 1: Huyện Bình Đại, xã Thừa Đức

Hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển

Dọc theo đoạn 1 là bãi biển cát với độ dốc từ trung bình đến dốc Mẫu đất cho thấy đặc tính đất chung với 99,7% cát và chỉ có 0,3% đất thịt và sét Thời gian bị ngập ngắn, đặc biệt là với phần phía trên của bãi biển

Một khu vực rộng của bờ biển được dành riêng để xây dựng khu nghỉ dưỡng du lịch tại xã Thừa Đức Nền móng được xây dựng bằng cách phát quang cây cối và cắm

Trang 27

nhiều cọc bê tông Cạnh khu nghỉ dưỡng về phía Nam, một vùng rộng được phân cho làm trường bắn của quân đội Tiếp nữa, nhiều nhà hàng được xây dựng dọc theo bờ

Ở một số nơi, các biện pháp bảo vệ chống xói lở tại chỗ (v.d ống bê tông) đã thất bại Gió từ hướng đông bắc dẫn đến sóng tiếp cận bờ theo góc xiên Sóng do gió thổi từ hướng nam không đến trực tiếp bãi biển Toàn bộ dọc đoạn 1, bờ xói lở có thể nhìn thấy trên bãi biển khô (tức là một phần của bãi biển nằm trên mực nước triều cao trung bình) Rác nổi cho thấy mực nước cao nhất lúc triều cường xảy ra hai lần trong một tháng Sự tiếp xúc sóng trong những đợt đó đủ mạnh để bào mòn những ống bê tông Dọc theo đoạn 1, xói lở có thể được nhìn thấy ở những phần cao hơn trên bãi biển Bờ xói lở được hình thành khi thủy triều trùng với bão Nhìn chung, xói lở có vẻ ít hơn so với đoạn 3

Hình 10: Bờ biển cát ở đoạn 1, phần phía tây, hướng nhìn tây nam

Trang 28

Hình 11: Bãi biển cát ở đoạn 1, phần trung tâm, hướng nhìn phía tây

Hình 12: Biện pháp chống xói lở tại chỗ ở đoạn 1, phần phía đông

Trang 29

Hình 13: Các biện pháp bảo vệ chống xói lở đã bị hư hại ở đoạn 1, phần phía đông

Khuyến nghị

Hàng rào chữ T bằng tre không áp dụng được ở đoạn 1 vì thiếu phù sa mịn và độ dốc

bờ biển cao Thời gian ngập và tỉ lệ sa lắng quá thấp để có thể tích lũy đủ phù sa cho việc tạo ra sự quản lý bãi triều thành công Do đó, nguyên tắc hàng rào chữ T bằng tre không áp dụng được ở đoạn 1

Nếu cân nhắc các biện pháp chống xói lở cứng như mỏ hàn hay kè phá sóng cho đoạn

1, cần phải lưu ý là vấn đề xói lở sẽ chuyển sang những khu vực khác của đoạn này Kết quả là sẽ xói lở ở vùng dọc theo dòng chảy Do đó, chi phí bổ sung và chi phí duy trì sẽ rất cao Việc xây dựng những biện pháp đó, nếu làm tử tế, sẽ rất đắt và không hấp dẫn về mặt kinh tế

Tại nhiều chỗ bờ xói lở vẫn chưa với tới đầu phía biển của lô đất Do đó vẫn có khả năng quản lý thành công khu vực giữa bãi biển và đồng ruộng một cách bền vững Các biện pháp cứng như ống bê tông nên tránh Mục tiêu là tạo ra độ dốc thoai thoải cho phần bờ biển khô Một khả năng đạt được mục tiêu này cần kiểm tra là áp dụng bao cát vào thời điểm sau cơn bão gây xói lở bờ biển Sau khi khởi đầu, kè cát có thể được lấp bởi đụn cát để tạo ra lớp bảo vệ trung hạn Nói chung cần phải lưu ý là bãi biển ở đoạn 1 đang ở trạng thái cân bằng động Không có biện pháp bảo vệ nào là cuối cùng và tối hậu Duy trì phải là một phần của chiến lược bảo vệ Những khuyến nghị tương tự cũng được đưa ra cho phần đông của đoạn 1 và phù hợp cho đoạn 3 và

Trang 30

4.1.3 Đoạn 2: huyện Bình Đại, xã Thừa Đức

Hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển

Tại đoạn 2 có môi trường hỗn hợp với vật liệu cát và tỷ lệ phù sa mịn cao hơn Kết quả lấy mẫu đất: 34% cát, 30% thịt và 36% sét Bờ biển có đặc điểm bãi biển rất hẹp và bờ xói lở rất dốc (gần như 90°, cao 1 – 1,5 m) Địa hình đáy biển bên ngoài rất phức tạp

do vị trí nằm ở một lạch chính Hướng gió từ phía đông bắc dẫn đến sóng có tiếp cận song song với bãi biển Gió từ hướng nam tạo ra sóng theo hướng từ vuông góc đến xiên vào bãi biển Những nỗ lực trước đây nhằm bảo vệ những vuông tôm nhỏ bằng

đê đất đã thất bại

Dọc theo đoạn 2 có một đoạn bờ xói lở dài mà chỉ nhìn thấy khi triều xuống Bờ xói lở này hình thành trong thời gian thủy triều bình thường Xói lở cũng có thể nhìn thấy ở trên con đê nhỏ bằng đất do dân địa phương tự đắp So sánh không ảnh và tọa độ GPS cho thấy ở đoạn 2 có hiện tượng xói lở nặng

Hình 14: Phần còn lại của con đê nhỏ ở đoạn 2, phần phía tây, nhìn theo hướng đông bắc

Trang 31

Hình 15: Cây cối trên bờ biển ở đoạn 2, phần phía đông, hướng nhìn đông bắc

Hình 16: Bờ biển ở đoạn 2 bao gồm cả bờ lở, phần phía đông, hướng nhìn đông bắc

Khuyến nghị

Hàng rào tre chữ T không áp dụng được cho đoạn 2 do không có những bãi triều nông Về phía bên đất liền của bờ xói lở thời gian nhập nước và tốc độ phù sa lắng quá thấp để tích tụ đủ phù sa để có thể quản lý bãi ngập thành công Hơn nữa, mức

Trang 32

độ tiếp xúc (phơi) sóng của bờ xói lở quá lớn để có thể áp dụng hàng rào tre Tính chất

mở và thẳng của đường bờ biển và thiếu những khoảng trống giữa những mũi đất đi ngược lại nguyên tắc sử dụng hàng rào tre ở đoạn 2 Bên cạnh đó, xây dựng hàng rào

sẽ khó khăn do tính chất của đất (chất liệu sét rắn)

Do điều kiện biên phức tạp, các biện pháp đơn giản để chặn xói lở sẽ không thành công Ảnh hưởng của các lạch chính sẽ làm cho mọi cố gắng để giữ đường bờ biển hiện tại trở nên rất tốn kém Kiến nghị là tạo ra vùng đệm trong đó cho phép đường bờ biển biến động và cấm sử dụng đất Tương tự như đoạn 1, các cấu trúc hiện tại trong vùng đất sau đê như bờ ruộng có thể dùng để xây kè bao cát

Do đất rất cứng và điều kiện biên phức tạp, việc phục hồi rừng ngập mặn sẽ rất thách thức Do đó chỉ phục hồi rừng khi kết hợp với các cấu trúc bảo vệ bờ biển và sau khi một lượng phù sa đã được tích lũy

4.1.4 Đoạn 3: Huyện Ba Tri, xã Bảo Thuận

Hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển

Ở đoạn 3 bờ biển cát và chỉ có tỉ lệ nhỏ đất thịt và sét Cũng có những vùng nhỏ hơn với đất thịt và sét rắn hơn, nhưng chủ yếu có cát lấp lên trên Bãi biển khá dốc, do đó thời gian ngập nước ở phần trên rất ngắn Nước chỉ ngập phần trên của bãi biển vào lúc triều cường Hướng gió từ phía đông bắc tạo ra sóng vuông góc với bãi biển Gió

từ phía nam tạo ra sóng xiên với bãi biển Do không có bãi triều phía ngoài nên mức

độ tiếp xúc sóng lớn hơn so với đoạn 4 Theo toàn bộ chiều dài đoạn 3, bờ xói lở được nhìn thấy chỉ ở phần khô và phần cao của bãi biển Tuy nhiên, nói chung xói lở có vẻ không nặng bằng đoạn 1

Nông dân áp dụng các biện pháp chống lở riêng rẽ bằng lá dừa nước và bao gạo cũ

đổ đầy cát Ở xã Bảo Thuận, những bao cát được xếp đống để tạo ra hàng rào bảo vệ đất nông nghiệp Tại một số khu vực hàng rào bao cát được gia cố bằng cách xây một

bờ đất to ở phía đất liền, với cỏ được trồng bên trên để hỗ trợ củng cố đất Ở khu vực Cồn Bung, bao cát được xây dựng để bảo vệ các nhà hàng khỏi bị xói lở Tuy nhiên, hàng rào bao cát chỉ nên được coi là giải pháp tạm thời Bờ biển ở xã Bảo Thuận và Thạnh Hải cực kỳ dễ bị xói lở và hàng rào bao cát không đủ khả năng ngăn vấn đề xói

lở nếu không có các biện pháp bảo vệ bổ sung khác

Hàng rào hai lớp cây bụi được xây dựng bằng cách sử dụng hai lớp bụi cây đước khô song song với bờ biển để bảo vệ đất nông nghiệp ở Bảo Thuận Những hàng rào này không bảo vệ tốt đất nông nghiệp vì cát bị sóng lớn cuốn đi trong thời gian triều cường Hàng rào hai lớp tăng cường được xây dựng với hai lớp bụi cây đước khô và

có bao cát ở giữa Tuy nhiên những hàng rào loại này không thể hoạt động tốt nếu không có các biện pháp bảo vệ bổ sung

Trang 33

Hình 17: Bãi biển cát tại đoạn 3, phía bắc, hướng nhìn bắc

Hình 18: Bãi biển cát tại đoạn 3, phần trung tâm, hướng nhìn bắc

Trang 34

Hình 19: Bảo vệ chống xói lở ở đoạn 3, phần trung tâm

Hình 20: Chi tiết biện pháp chống xói lở ở đoạn 3, phần trung tâm

Khuyến nghị

Đoạn này không đáp ứng điều kiện biên chủ yếu để áp dụng hàng rào tre Hàng rào tre chữ T không áp dụng được ở đoạn 3 vì thiếu phù sa mịn và bãi biển quá dốc Thời gian ngập nước và lượng phù sa lắng quá thấp để có thể tích lũy đủ trầm tích cho việc quản lý bãi ngập triều một cách thành công

Trang 35

Nếu các biện pháp bảo vệ cứng như mỏ hàn hay kè phá sóng được áp dụng ở đoạn 3, cần lưu ý là vấn đề xói lở sẽ dịch chuyển theo dọc đoạn bờ biển này Hậu quả là phía xuôi dòng sẽ bị xói lở Do đó, chi phí bổ sung và chi phí duy trì sẽ rất cao Chi phí xây dựng nếu làm tử tế sẽ rất đắt

Những khuyến nghị tương tự đã đưa ra cho phần phía đông của đoạn 1 cũng đúng với đoạn 3 Đường bờ ruộng phía biển được thiết lập như tuyến phòng thủ thứ nhất Tuyến đó có thể được củng cố bằng những biện pháp đơn giản Do đó cần có tổng quan và đánh giá những biện pháp bảo vệ đơn lẻ hiện có Chính đồng ruộng hay ít ra

là một phần của ruộng được để dành ra và chuyển đổi thành tuyến phòng thủ thứ hai bảo vệ bờ biển Khu vực này có thể trồng cây nhưng không sử dụng thâm canh Lượng đất ở phần bỏ không của khoảnh đất phải được dùng để tạo ra độ dốc vừa phải đến biển Cách tiếp cận này cần phải kết hợp với những hành động quản lý nhằm thuyết phục nông dân về tính bền vững của các biện pháp Phân tích chi phí – lợi ích phải hỗ trợ cho cách tiếp cận này

Đất cát và việc thiếu vắng rừng ngập mặn mọc tự nhiên cho thấy khu vực không thích hợp cho việc phục hồi rừng ngập mặn

4.1.5 Đoạn 4: Huyện Ba Tri, Xã An Thủy

Hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển

Tại đoạn thứ 4 bãi biển chủ yếu là cát cùng với một lượng nhỏ đất thịt và sét Các mẫu lấy tại đây cho thấy phần đất đặc trưng như của khu vực 4 (99,7% cát và 0,3% đất thịt

và đất sét) Bãi biển tương đối dốc, điều này làm cho nước ngập sẽ thoát nhanh khi có ngập lụt ở phía trên của bãi Mức nước có thể ngập đến đỉnh trên của bãi khi đạt đỉnh triều cường Dọc theo đoạn 4 này có thể nhìn thấy mép ranh giới xói lở trên bãi cạn Các vệt rác nổi cho ta thấy mức nước cao nhất đạt được hai lần trong 1 tháng vào lúc đỉnh triều cường

Phía Nam của đoạn 4 là một bãi triều phẳng có chiều rộng từ 150 đến 400m ngập dưới mức nước nông Chiều gió từ phía Đông Bắc tạo ra các làn sóng chạy vào bờ song song với đường bờ biển Các đợt gió từ phía Nam tạo ra các đợt sóng đập vào bờ với góc từ xiên tới thẳng góc Do có bãi triều phẳng từ xa nên mức độ tiếp xúc với sóng là vừa phải Đặc biệt ở phía đoạn 4 có thể nhìn thấy khá rõ hiện tượng xói lở ở mức độ đáng kể Dấu vết của các thửa đất cũ và các nỗ lực của nông dân địa phương bảo vệ các cánh đồng hiện tại đã chứng minh điều đó Đánh dấu GPS và vị trí của mẫu đất số

3 cũng chỉ ra có sự xói lở

Phía Đông đoạn 4 vẫn còn thấy các đường bờ ruộng trước đây của các cánh đồng và những dấu vết còn lại của hố đê thể hiện sự xói lở ở mức độ đáng kể Đặc biệt ở phía Đông các khu ruộng dưa hấu đang bị đe dọa bởi xói lở và ngập lụt theo mùa Nông dân đã phải áp dụng các biện pháp chống xói lở bằng lá dừa nước và các cọc gỗ nhưng cũng chỉ có tác dụng tạm thời

Ở phía Tây mức độ xói lở dường như ít hơn và chỉ xuất hiện khi có nước biển dâng do bão

Trang 36

Hình 21: Bãi cát đoạn 4, phần phía Nam

Hình 22: Bãi cát đoạn 4, phần phía Nam

Trang 37

Hình 23: Các vệt xói lở ở khu vực 4, phần phía Tây, phần phía Nam

Hình 24: Các dấu vết còn lại của bờ ruộng trong đoạn 4, phần phía Nam

Trang 38

Hình 25: Bờ biển đoạn 4, phần phía Nam

Hình 26: Chống xói lở tự phát trong đoạn 4, phần phía Nam

Trang 39

Nếu áp dụng các giải pháp cứng để chống xói mòn, ví dụ như kè và đê chắn sóng, tại đoạn 4 thì cần tính đến yếu tố là vấn đề xói lở sẽ được chuyển dịch dọc theo phần bờ này Sẽ xảy ra xói lở ở hướng xuôi phía dưới Do vậy, các chi phí tiếp theo cũng như chi phí bảo dưỡng có thể sẽ là rất cao Việc xây dựng nếu được tiến hành thuận lợi thì cũng sẽ rất đắt đỏ

Từ đây khuyến nghị cố gắng giữ một lớp bảo vệ dọc theo đoạn 4 bằng cách duy trì các loại cây ở đây và đưa ra càng xa càng tốt Cần tránh mở rộng các khu đất trồng trọt ở đây Các nông dân áp dụng các biện pháp cá nhân chống xói lở chỉ những khi biển tiến tới sát mép ruộng của họ Họ dựng nên những hàng rào chắn một cách tùy ý để tạo thành một lớp bảo vệ hẹp Tuy nhiên, khuyến nghị ở đây là cần có thêm các lớp bảo vệ trước đó ngăn giữa khu ruộng và biển có vai trò như những lớp bảo vệ đầu tiên Có thể dùng những biện pháp đơn giản để hỗ trợ cho điều này, ví dụ như dùng các bao cát làm kè chắn Do vậy, cần thực hiện đánh giá tổng quan và các đánh giá tiếp theo về các giải pháp bảo vệ hiện có của các nông dân Các khu ruộng ở đây (hay

ít nhất là một phần lớn của nó) nên từ bỏ để biến thành tuyến bảo vệ bờ biển thứ hai

Có thể trồng cây nhưng không nên trồng dày đặc Có thể sử dụng những khoảng đất

có được của những phần ruộng bị bỏ lại để tạo thành nền thoải dần ra biển Giải pháp này cần được thực hiện cùng với nâng cao năng lực và nâng cao nhận thức để thuyết phục các nông dân về tính bền vững của giải pháp Phân tích Lợi ích – chi phí sẽ giúp đảm bảo cho tính hấp dẫn về kinh tế và tài chính của các giải pháp được khuyến nghị

Trang 40

Phục hồi rừng ngập mặn là có thể và được khuyến nghị khi kết hợp với các “giải pháp cứng hoặc mềm”.Nếu giải pháp cứng được áp dụng trong thời gian đủ dài để tạo thành lớp nền phù sa trước khi trồng cây thì cũng cần được tính đến Do tốc độ sa lắng ở Bến Tre là thấp, dự kiến có thể cần đến 2 năm sau khi xây dựng xong công trình Trong khu vực này việc phục hồi bờ biển được kiến nghị triển khai theo hướng

“hỗ trợ tái tạo tự nhiên”

4.1.6 Đoạn 5: Huyện Thạnh Phú, Xã Thạnh Hải

Hiện trạng khu vực và hệ thống bảo vệ bờ biển

Tại đoạn 5 hiện có bãi cát trên bờ biển Lớp đất thịt và sét phủ bị bao phủ bởi một lớp cát dầy Các đặc trưng chung của nền đất tại đoạn 5 này là: 95% cát và 5% đất thịt và sét Những năm gần đây các đặc trưng của vùng bờ biển này đã thay đổi do hình thái động học với sự tích tụ cát mạnh mẽ Sự suy giảm nghiêm trọng rừng ngập mặn do tích tụ cát có thể nhìn thấy được ở phía Đông Nam khu vực này Gió thổi từ hướng Đông Bắc tạo thành các đợt sóng dội vào thẳng góc với bờ Các con sóng được tạo ra

từ hướng Đông Nam không đi vào bờ trực tiếp Dọc theo bãi biển đoạn 5 không thấy

có dấu hiệu đáng kể của xói lở

Hình 28: Tích tụ cát và suy giảm rừng ngập mặn tại phần phía Tây đoạn 5

Ngày đăng: 26/03/2019, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w