1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Mangroves of soc trang 1965 2007 VN Rừng ngập mặn ở Sóc Trăng 19652007

60 115 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 7,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vùng đất mặn nguyên thủy, có địa hình trũng thường bị ngập mặn đang được lấp dần trên vùng đầm lầy ven biển, hình thành môi trường thích hợp cho nhiều loài cây rừng ngập mặn sinh sốn

Trang 1

Quản lý nguồn Tài nguyên Thiên nhiên

Vùng Ven biển Tỉnh Sóc Trăng

Rừng ngập mặn ở Sóc Trăng

1965 - 2007

Phạm Trọng Thịnh

Trang 2

Xuất bản

Deutsche Gesellschaft für

Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH

Quản lý Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên vùng ven biển

Trang 3

Rừng ngập mặn ở Sóc Trăng

1965 – 2007

Phạm Trọng Thịnh

Tháng 02/2011

Trang 4

Giới thiệu về GIZ

Năng lực toàn diện cho phát triển bền vững dưới một mái nhà chung

Với phương châm làm việc năng suất, hiệu quả và dựa trên tinh thần hợp tác, GIZ hỗ trợ người dân và cộng đồng tại các nước đang phát triển, các quốc gia đang trong thời kỳ chuyển đổi và các nước công nghiệp trong việc định hướng tương lai và cải thiện điều kiện sống Đây là tôn chỉ hoạt động của Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) Được thành lập ngày 01 tháng 01 năm

2011, GIZ tập hợp những kinh nghiệm được tích lũy trong nhiều năm của Tổ chức Dịch vụ Phát triển Đức (DED), Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) và Tổ chức Bồi dưỡng và Nâng cao Năng lực Quốc tế Đức (InWEnt) GIZ là tổ chức trực thuộc nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức, hỗ trợ Chính phủ Đức trong những nỗ lực thực hiện các mục tiêu trong lĩnh vực hợp tác quốc tế cho phát triển bền vững GIZ cũng

tham gia vào công tác giáo dục quốc tế trên toàn cầu

Phát triển hiệu quả

GIZ hỗ trợ các đối tác trong nỗ lực đạt được những mục tiêu phát triển lâu dài thông qua việc cung cấp các dịch vụ hiệu quả được thiết kế phù hợp với yêu cầu của phát triển bền vững GIZ áp dụng cách tiếp cận tổng thể dựa trên giá trị để đảm bảo sự tham gia của tất cả các bên liên quan Trong quá trình này,

sứ mệnh phát triển bền vững luôn là định hướng chủ đạo xuyên suốt mọi hoạt động của tổ chức GIZ cũng luôn quan tâm đến các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội và sinh thái khi hỗ trợ đối tác ở các cấp địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế tìm ra các giải pháp cho cộng đồng trong bối cảnh xã hội rộng lớn hơn Đây là phương thức giúp GIZ đạt được sự phát triển một cách hiệu quả

GIZ hoạt động trên nhiều lĩnh vực bao gồm: phát triển kinh tế và xúc tiến việc làm; xây dựng nhà nước và khuyến khích dân chủ; thúc đẩy hòa bình, an ninh, tái thiết và giải quyết mâu thuẫn dân sự; an ninh lương thực, y tế, giáo dục phổ cập; bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Chúng tôi cũng cung cấp các dịch vụ về quản lý và hậu cần để hỗ trợ đối tác trong việc thực hiện những nhiệm vụ phát triển Trong các tình huống khủng hoảng, GIZ còn tiến hành các chương trình người tị nạn và cứu trợ khẩn cấp Là một phần của dịch vụ phát triển, GIZ đồng thời cung cấp nhiều chuyên gia hỗ trợ phát triển cho các nước đối tác

GIZ tư vấn cho các cơ quan tài trợ và đối tác các vấn đề về xây dựng kế hoạch và chiến lược, giới thiệu các chuyên gia hòa nhập và chuyên gia hồi hương ở các nước đối tác, đồng thời thúc đẩy mạng lưới hợp tác và đối thoại giữa các bên liên quan trong hoạt động hợp tác quốc tế Nâng cao năng lực cho chuyên gia của các nước đối tác là một phần quan trọng trong dịch vụ của GIZ Chúng tôi tạo nhiều cơ hội cho các thành viên tham gia các hoạt động có thể duy trì và thúc đẩy những mối quan hệ mà họ tạo dựng được Ngoài ra, GIZ còn tạo điều kiện để những người trẻ tuổi nâng cao kinh nghiệm chuyên môn của mình trên khắp thế giới thông qua các chương trình trao đổi giành cho chuyên gia trẻ Những chương trình này giúp xây dựng nền móng cho thành công trong sự nghiệp của họ trên các thị trường trong nước và quốc tế

Các cơ quan ủy nhiệm cho GIZ

Hầu hết các hoạt động của GIZ được thực hiện theo ủy nhiệm của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển (BMZ) Ngoài ra, GIZ cũng hoạt động thay mặt cho các Bộ khác của Đức, cụ thể là Bộ Ngoại giao Liên bang, Bộ Môi trường Liên Bang, Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang GIZ cũng hoạt động theo ủy quyền của chính quyền các bang và các cơ quan công quyền khác của Đức, các cơ quan và tổ chức thuộc khu vực nhà nước, tư nhân trong và ngoài nước Đức, Ủy ban Châu Âu, Liên Hiệp Quốc và Ngân hàng Thế giới Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân và góp phần thúc đẩy xây dựng những tương tác theo định hướng kết quả giữa phát triển và khu vực ngoại thương Kinh nghiệm dày dạn của chúng tôi với các khối liên minh tại các nước đối tác và tại Đức là nhân tố quan trọng cho hợp tác quốc tế

thành công không chỉ trong các lĩnh vực kinh doanh, học thuật văn hóa mà còn trong cả xã hội dân sự GIZ và những con số

GIZ hoạt động tại hơn 130 quốc gia trên toàn cầu Tại Đức, GIZ có mặt ở hầu khắp các bang với văn phòng chính được đặt tại Bonn và Eschborn GIZ tuyển dụng khoảng 17.000 nhân viên trên toàn thế giới với hơn 60% là nhân viên bản địa Ngoài ra, GIZ còn có 1.135 cố vấn kỹ thuật, 750 chuyên gia hòa nhập,

324 chuyên gia hồi hương, 700 chuyên gia địa phương tại các tổ chức đối tác cùng 850 tình nguyện viên (weltwärts) Với doanh thu ở mức 1,9 tỷ euro tính tạI thời điểm tháng 12 năm 2010, GIZ có thể tự tin nhìn

về tương lai phía trước

Trang 5

Mục lục

Giới thiệu về GIZ ii

Mục lục iii

Danh sách hình iv

Danh sách bảng v

Chữ viết tắt v

1 Đặc điểm sinh thái vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng 6

1.1 Vị trí địa lý 6

1.2 Đặc điểm khí hậu 6

1.3 Thủy văn 7

1.4 Địa mạo cảnh quan 7

2 Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng 12

2.1 Rừng ngập mặn 12

2.2 Thành phần loài cây rừng ngập mặn 13

2.3 Sự thích nghi của cây rừng ngập mặn với môi trường 14

2.4 Các quần thụ rừng ngập mặn chủ yếu ở ven biển tỉnh Sóc Trăng 16

2.5 Các dịch vụ và giá trị của rừng ngập mặn 16

3 Diễn biến tài nguyên rừng ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng và hậu quả về môi trường 22

3.1 Diễn biến tài nguyên rừng ngập mặn 22

3.2 Những nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng ngập mặn 27

3.3 Hậu quả của sự giảm sút tài nguyên rừng ngập mặn 31

4 Trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng ven biển tỉnh Sóc Trăng 32

4.1 Chương trình trồng rừng từ nguồn vốn Chính phủ (chương trình 327) 33

4.2 Rừng trồng theo dự án trồng rừng ngập mặn do Hà Lan tài trợ 34

4.3 Dự án Bảo vệ và Phát triển những vùng Đất ngập nước ven biển (CWPD) 35

4.4 Tái sinh và sinh trưởng của rừng tự nhiên 43

4.5 Công tác vườn ươm 44

4.5.1 Địa điểm lập vườn ươm 45

4.5.2 Các dạng vườn ươm và phân khu 46

4.6 Hiện trạng quản lý rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng 47

4.7 Bài học kinh nghiệm từ thành công của các hoạt động trồng rừng 48

5 Các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn 49

5.1 Các quan điểm và mục tiêu 49

5.2 Nâng cao năng lực quản lý tổng hợp vùng ven biển 50

5.3 Nghiên cứu khoa học và công nghệ 51

5.4 Các mặt kinh tế xã hội 52

5.5 Các chính sách và thể chế 53

Tài liệu tham khảo 54

Trang 6

Danh sách hình

Hình 1: Vị trí tỉnh Sóc Trăng .6

Hình 2: Bản đồ đẳng trị lượng mưa ở ĐBSCL (Yamashita 2005) .6

Hình 3: Bồi tụ ven biển gần thị trấn Vĩnh Châu .8

Hình 4: Xói lở ở ven biển Vĩnh Tân .8

Hình 5: Cửa cống nay cách bờ biển khoảng 300 mét, vốn nằm trên đê 10 năm trước .8

Hình 6: Thay đổi diện tích rừng ngập mặn và đường bờ biển ở Cù Lao Dung Dấu (+) thể hiện vị trí địa lý giống nhau ở cả 3 thời điểm .9

Hình 7: Bản đồ chỉ ra ranh giới các xã và các địa danh được trình bày trong báo cáo này 11

Hình 8: Cây bần mọc trên đất bị ngập triều cao hằng ngày 12

Hình 9: Cây dà mọc trên đất cao, bị ngập triều cao hàng tháng 12

Hình 10: Rừng ngập mặn bảo vệ các cộng đồng ở vùng ven biển Trái: Bờ biển với đai rừng bảo vệ Mặt: Bờ biển không có đai rừng bảo vệ 17

Hình 11: Rừng ngập mặn - nơi nuôi dưỡng và bảo vệ các loài tôm, cua (vẽ lại với sự cho phép của Bùi Thị Nga và Huỳnh Quốc Tinh, 2008) 18

Hình 12: Giá trị tàng trữ Carbon của rừng ngập mặn (vẽ lại và viết lại với sự cho phép của Trí, 2007) 18

Hình 13: Trình bày bản đồ diễn biến hiện trạng rừng ngập mặn dọc theo bờ biển tỉnh Sóc Trăng năm 1965, 1995, 2001 và 2008 26

Hình 14: Sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn tại Sóc Trăng 27

Hình 15: Rừng mấm bị chặt phá trái phép 29

Hình 16: Rừng Đước đang bị chết do bao bí nước 29

Hình 17: Nguyên nhân và hậu quả giảm sút rừng ngập mặn 31

Hình 18: Rừng Bần trồng năm 1993 tại xã An Thạnh Nam 34

Hình 19: Rừng Đước trồng năm 1995 tại xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu 34

Hình 20: Tỷ lệ sống thấp nơi ngập cao 37

Hình 21: Hào bám gây chết cây 37

Hình 22: Mấm biển trồng bằng bầu nilon 6 tuổi tại xã Vĩnh Châu 38

Hình 23: Nền đất cứng không thích hợp với cây đước 39

Hình 24: Đước trồng bằng túi bầu nilon tại xã Vĩnh Châu phát triển tốt 39

Hình 25: Rừng bần ACTMANG trồng 42

Hình 26: Rừng đước trồng 1 năm tuổi tại xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu 42

Hình 27: (a) Rừng mấm biển tái sinh dày dọc bờ biển xã Vĩnh Hải, Vĩnh Châu và (b) Rừng bần tái sinh ở Cồn Tròn 44

Hình 28: (a) Vườn ươm tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng (b) Vườn ươm ở Vĩnh Châu nay trồng Phi lao 45

Hình 29: Các hoạt động trong vườn ươm 46

Trang 7

Danh sách bảng

Bảng 1: Thay đổi diện tích đất tại Cù Lao Dung từ 1965 đến 2007 .9

Bảng 2: Danh sách các loài cây rừng ngập mặn thực thụ của vùng cửa sông, ven biển tỉnh Sóc Trăng 14

Bảng 3: Sự thay đổi về thành phần thực vật và sự biến đổi của các chỉ tiêu chất lượng nước nghiên cứu ở Thái Lan 15

Bảng 4: Kết quả trồng rừng của Chương trình 327 tại huyện Cù Lao Dung và Vĩnh Châu 33

Bảng 5: Rừng bần chua trồng bằng vốn dự án MILIEV tại xã Trung Bình, huyện Trần Đề 35

Bảng 6: Tổng hợp tình hình trồng rừng qua các năm của CWPD 35

Bảng 7: Sinh trưởng của rừng trồng bần chua, mấm biển (CWDP) 37

Bảng 8: Sinh trưởng của rừng trồng đước (CWPD) 38

Bảng 9: Diện tích rừng được bảo vệ qua các năm (ha) 40

Bảng 10: Sinh trưởng của rừng trồng bần chua và đước, nguồn vốn ACTMANG 42

Bảng 11: Rừng tái sinh tự nhiên Bần chua tại huyện Cù Lao Dung, Trần Đề và Vĩnh Châu 43

Chữ viết tắt

ACTMANG Tổ chức Hành động Phục hồi Rừng ngập mặn, Nhật Bản

CWPD Dự án Bảo vệ và Phát triển những vùng Đất ngập nước Ven biển

DBH Đường kính tại tầm cao ngang ngực

ETM Bản đồ địa hình phía đông

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc

ha Diện tích 1 ha = 10.000 m2

IDA Hiệp hội phát triển quốc tế

mhsl Mực nước biển cao nhất bình quân

mlsl Mực nước biển thấp nhất bình quân

PNAS Tạp chí của Viện khoa học hàn lâm quốc gia

RMFP Dự án tái tạo rừng ngập mặn

SIWRPM Phân viện Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước

TEV Tổng giá trị kinh tế

Trang 8

1 Đặc điểm sinh thái vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng

1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Sóc Trăng có phần đất liền nằm từ 9°14'N-9°56'N vĩ độ

bắc và 105°34'E-106°18'E kinh độ đông Phía Tây Bắc giáp

tỉnh Hậu Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông

Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Đông Nam giáp Biển Đông (Hình

1) Đường bờ biển trải dài 72 km

1.2 Đặc điểm khí hậu

Vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng có khí hậu xích đạo, với đa số

ngày nắng tốt, nhiệt độ cao và mưa trung bình Nhiệt độ trung

bình hằng năm là 26- 270 C, dao động khoảng 12-13°C theo

mùa với biến đổi trung bình hằng tháng 3-4°C, và dao động

của nhiệt độ ngày và đêm khoảng 7-8O

C Lượng mưa hàng năm tại Sóc Trăng vào khoảng 1.828 mm/năm (Hình 2), và

tổng bức xạ mặt trời hàng năm cao và rất ít thay đổi trong năm

(130 kcal/cm2/năm) Mức độ gió và lượng mưa thay đổi theo

mùa Khí hậu được đặc trưng bởi 2 mùa rõ rệt: mùa khô và

mùa mưa Những điều kiện theo mùa tương quan chặt chẽ với

chế độ bồi lắng và xói lở của vùng ven biển

85% tổng lượng mưa hàng năm rơi vào các tháng mùa mưa,

từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa cao nhất (292,4 mm)

trong tháng 10 (Hồng et al.1997) Mức độ bức xạ thấp nhất xảy

ra giữa tháng 6 và tháng 9 với khoảng 9 kcal/cm2

/tháng Gió tây nam nhẹ phổ biến trong mùa này với tốc độ gió luôn ít hơn

3m/s Trong mùa mưa, sông Mekong mang trầm tích từ thượng

nguồn về các khu vực cửa sông, tạo nên đồng bằng bùn bồi

rộng ra phía biển hàng ngàn mét

Mùa khô được định nghĩa bởi lượng mưa thấp hơn từ tháng 11

đến tháng 4, với lượng mưa hằng tháng thấp nhất (2.2 mm)

vào tháng 2 (Hồng et al 1997) Bầu trời trong mùa này không

có mây, như biểu hiện bởi tổng bức xạ mặt trời tương đối cao

giữa tháng 1 và tháng 4 từ 12-16 kcal/cm2

/tháng Trong mùa khô, hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc với tốc độ gió luôn

luôn quá 3 m/s Vận tốc gió có khi đạt đến 10 m/s trong tháng 3

và tháng 11 hay 12, đôi khi gây xói lở nghiêm trọng cho vùng

bờ biển, vật liệu mới được bồi tụ trong mùa mưa bị sóng cuốn

đi, bao gồm cả cây con mới trồng

Hình 2: Bản đồ đẳng trị

lượng mưa ở ĐBSCL (Yamashita 2005)

Hình 1: Vị trí tỉnh Sóc Trăng

Trang 9

m3/s Hằng năm sông chuyển khoảng trên 500 tỷ m3 nước ra biển Từ Phnom Penh (Campuchia), sông chảy qua Đồng Bằng Sông Cửu Long Ở đây, sông được gọi là Cửu Long, có nghĩa là „chín con rồng‟ Nhánh cực nam của sông Mekong, sông Hậu, tạo thành ranh giới phía đông bắc của tỉnh Sóc Trăng Chế độ triều của Biển Đông là chế độ bán nhật triều không đều Sự chênh lệch giữa 2 chân triều khá lớn, tối đa đến 2 m Biên độ thủy triều dao động từ 3,6 đến 4,2 mét xảy ra từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau, chồng chéo với sự kết thúc của mùa khô và đầu mùa mưa Đỉnh triều đạt mức tối đa trong các tháng 10

và tháng 11 và mức tối thiểu trong các tháng 4 và tháng 5 (Euroconsult 1996)

Gió mạnh trong mùa khô đã khiến cho thủy triều vào sâu trong đất liền hơn là các tháng còn lại trong năm Sự tương tác giữa gió, thủy triều và dòng chảy của sông ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên của các khu vực cửa sông chiếm ưu thế này Do địa hình thấp như thế, hầu hết toàn thể diện tích vùng cửa sông thường bị nước mặn xâm nhập thông qua các lòng sông và các kênh rạch Hằng năm, diện tích lớn nhất bị ảnh hưởng bởi xâm nhập triều được nhận thấy trong tháng 4 và tháng 5

Nhiệt độ trung bình của nước tại các cửa sông của sông Cửu Long là khoảng từ 30° đến 35° Sự chênh lệch về nhiệt độ nước hàng năm trong khoảng 4,9 - 8,5°C, với giá trị cao nhất xảy ra trong tháng 3 và tháng 4 và giá trị thấp nhất được quan sát vào tháng 12 hay tháng 1 (Euroconsult 1996)

Hầu hết các khu vực thuộc rừng ngập mặn là đất axít sulphate mặn Đất này chứa nhiều pyrít và có thể gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến thiên nhiên nếu được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, khô đi và bị oxy hoá

Trong mùa khô, giá trị trung bình độ mặn của nước luôn trên 16 g/l trong tháng 4 (Sâm 2003) Giá trị độ mặn trung bình được quan sát vào tháng 4 (2000) là 23.5 g/l (tối đa) và 13.6 g/l (tối thiểu) Trong mùa mưa, độ mặn giảm xuống còn 8,08 g/l

Diễn biến của độ mặn của nước trong vùng là do tương quan diễn biến của nước triều và lượng nước ngọt từ thượng nguồn tới Trong mùa mưa, lượng lớn nước ngọt pha loảng độ mặn dọc theo sông Ngược lại trong mùa khô, độ mặn tăng lên vì lượng nước ngọt giảm đi

Trị số độ pH của nước thường trung tính Sự khác nhau giữa độ pH của nước trong vuông tôm và nước trong các kênh vào khoảng 0,1-0,3

Khu vực ven biển Sóc Trăng nằm ở một đơn vị địa mạo gọi là: Đồng bằng ven biển (Ngân hàng Thế giới

và Chính phủ Việt Nam 1993) Địa hình cơ bản của vùng đồng bằng này là những giồng cát thấp và nhỏ nằm song song với bờ biển với những đồng lầy bùn ở giữa Khi mực nước triều cao, hầu hết vùng đồng bằng ven biển đều bị ngập mặn

Các giồng cát phát triển theo hướng Tây Bắc tới Đông Nam, song song với bờ biển Các giồng cát thường có địa hình cao từ 3 - 4 mét, được cấu tạo khoảng 70% cát, 15% bùn, 10% sét, 2-3% chất hữu

cơ, 1-2% oxyt sắt với những đốm màu vàng cam Ở các giồng mới hơn có nhiều mica và sét hơn các giồng cổ hơn, đất cát có khả năng trao đổi cao nhưng nghèo chất dinh dưởng do ảnh hưởng của nước mặn

Trang 10

Các loại đất sét biển mặn giàu chất dinh dưỡng và ít có tính axít Các vùng đất mặn nguyên thủy, có địa hình trũng thường bị ngập mặn đang được lấp dần trên vùng đầm lầy ven biển, hình thành môi trường thích hợp cho nhiều loài cây rừng ngập mặn sinh sống Thành phần vật chất chủ yếu là sét 50%, bùn 30%, chất hữu cơ 20% Sét có màu xám hay nâu do

chứa nhiều chất hữu cơ, và lớp pyrit

Càng vào đất liền, vùng đầm lầy mặn được nâng cao,

độ mặn giảm đi và đất có tính axít hơn Những bãi

ngập triều này là cát hay bùn tùy thuộc nguồn tiếp liệu

đưa ra từ cửa sông Các quá trình địa mạo ở vùng

ven biển chi phối dạng tạo thành, hình dạng của

đường bờ biển hiện tại

Quá trình bồi tụ và xói lở bờ biển

Trên đoạn bờ biển dài hơn 72 km của tỉnh Sóc Trăng,

đường bờ biển thể hiện các quá trình xói lở và bồi tụ

rất năng động Sự tương tác giữa các nhân tố tự

nhiên như dòng chảy, thủy triều, gió và sóng gây ra

xới lở nghiêm trọng dọc theo bờ biển Quá trình này

đang trở nên nghiêm trọng hơn với sự biến mất của

rừng ngập mặn

Có hai quá trình ngược nhau, bồi lắng và xói lở dọc

theo đường bờ biển huyện Vĩnh Châu (xem Hình 3 và

4) Các đoạn xói lở nghiêm trọng xảy ra tại xã Lai Hoà

đến Vĩnh Phước cũng như dọc theo bờ biển Vĩnh Hải

gần cửa sông Mỹ Thanh (xem hình 7 cho tất cả các vị

trí địa lý) Những biện pháp cụ thể về tốc độ xói lở

dọc theo bờ biển đã được thực hiện từ thông tin viễn

thám, bản đồ và quan sát thực địa tại Vĩnh Tân (8-15

m/năm), và Lai Hoà (20 m/năm)

Hình 5 chỉ ra vị trí đường bờ biển ở giai đoạn 10 năm

trước, nay đã nằm cách bờ gần 300 mét Cửa cống

hiện đang đứng cách bờ biển hiện có 300 m

Tương tự bồi tụ xảy ra rất nhanh Điều này hiển nhiên

trong việc lắng đọng hằng năm dọc theo bờ biển và

quy mô mở rộng của khu vực ven biển tại một số nơi,

như xã An Thạnh Nam (huyện Cù Lao Dung), và xã

Trung Bình (huyện Trần Đề)

Hình 3: Bồi tụ ven biển gần thị trấn

Vĩnh Châu.

Hình 4: Xói lở ở ven biển Vĩnh Tân

Hình 5: Cửa cống nay cách bờ biển khoảng 300

mét, vốn nằm trên đê 10 năm trước

Trang 11

Hình 6 thể hiện sự thay đổi của rừng ngập mặn ở khu vực Cù Lao Dung từ năm 1965 đến năm 2007 Có

2 yếu tố chủ yếu là sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn và tốc độ bồi tụ phù sa

Những thay đổi diện tích đất tại Cù Lao Dung từ 1965 đến 2007 được trình bày trong Bảng 1 Tổng diện tích của An Thạnh Nam và ấp An Thanh Ba (An Thanh 3) vào khoảng 5.498 ha năm 1965, 6.726 ha năm

1995 và 7.559 ha năm 2007 Từ năm 1965 đến năm 2007, tổng diện tích của 2 ấp này tăng khoảng 2.061,7 ha với tốc độ bình quân là 48 ha/năm Diện tích rừng ngập mặn là 1.791,9 ha năm 1965, 719,3

Mức độ bồi tụ 15 m/năm, đoạn được bồi tụ 3.2 km ở ven b iển xã Lạc Hoà (Vĩnh Châu)

Mức độ bồi tụ 10 m/năm dài 8.3 km ở ven biển xã Vĩnh Hải

Quá trình bồi tụ và xói lở diễn ra tuần tự theo mùa Kết quả nghiên cứu của Dự án bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển các tỉnh phía Nam đồng bằng sông Cửu Long (Euroconsult 1996) tại khu vực ven biển huyện Vĩnh Châu, cho thấy:

Giai đoạn từ tháng 11 đến tháng 04 là mùa gió mùa Đông Bắc hay mùa khô với tốc độ gió tối đa là 5-8 m/s Trong thời gian này, cường độ gió cao nhất, gây ra sóng với cường độ cao đập vào bờ biển theo góc 45-50 độ

Thủy triều lên xuống 2 lần trong ngày với sóng có động năng lớn tạo mức độ xói lở với cường độ cao Trong thời gian này, số lượng trầm tích trong dòng chảy sông Mekong ở mức thấp nhất của nó Trầm tích do sông Hậu đem tới đều tích đọng ngay cuối vùng cửa sông gần Cù Lao Dung và phía Nam cửa sông Mỹ Thanh Dòng hải lưu chảy theo hướng Tây Nam với rất ít trầm tích Vì vậy, rất ít bồi lắng đọng lại khu vực ven biển huyện Vĩnh Châu

Trong giai đoạn này, tại vùng ven biển huyện Vĩnh Châu chủ yếu là giai đoạn bờ biển bị lở Bờ biển tại xã Vĩnh Tân và Vĩnh Hải, cũng như tại cửa cống Xóm Đáy bị lở với tốc độ bình quân từ 15 đê`n 30 m/năm, dọc theo một đoạn dài 3,5 km

Hình 6: Thay đổi diện tích rừng ngập mặn và đường bờ biển ở Cù Lao Dung Dấu (+) thể hiện vị trí

địa lý giống nhau ở cả 3 thời điểm

Trang 12

Vào cuối mùa khô, vật liệu từ quá trình xói lở dọc theo bờ biển và trầm tích được đưa đến cửa sông gia tăng do mưa thượng nguồn trên sông Mekong Những vật liệu này tích tụ dọc theo bờ biển, tạo thành những bãi bồi không ổn định Vào lúc thủy triều xuống, đã để lộ ra bãi bồi rộng tới 2-3 km với tầng bùn dầy 1-2 mét, đặc biệt vào thời gian cao điểm của mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 10 Vật liệu hình thành các bãi bồi này có lẽ chủ yếu là đất sét

Bờ biển của các xã ở tình trạng vừa bồi vừa lở là các xã từ thị trấn Vĩnh Châu tới khu vục cống số 9 Tình trạng này cũng được thấy tại khu vực ven biển phía nam xã Trung Bình (thuộc huyện Trần Đề) và các xã Vĩnh Phước, Vĩnh Tân, Lai Hoà thuộc huyện Vĩnh Châu

Khi mùa mưa chấm dứt, trầm tích do sông Mekong mang đến không còn, và quá trình bồi tụ ngừng lại

Bờ biển trở lại chu kỳ xói lở với tốc độ hằng năm tứ 10-15 m/năm

Từ tháng 6 đến tháng 11, gió có tốc độ luôn luôn thấp hơn gió đông bắc trong mùa khô Tốc độ xói lở trong thời kỳ mùa mưa cũng nhỏ hơn so với giai đoạn mùa khô Trong giai đoạn mùa mưa, nước sông Mekong đem nhiều phù sa từ phía thượng nguồn đổ ra cửa sông Lượng phù sa bồi tích dầy ở cửa sông khu vực An Thạnh Nam, An Thạnh Ba, huyện Cù Lao Dung; và các xã Trung Bình, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, huyện Trần Đề), và gần thị trấn Vĩnh Châu

Nghiên cứu ở cống số 5 (xã An Thạnh Nam) năm 2008 cho thấy vào tháng 4, mặt đất bắt đầu có lớp bùn loãng Vào tháng 6, mặt đất lại được bồi lên khá nhanh, bãi có nhiều bùn, mức bồi tụ cao khoảng 10,67

cm, mặt đất tuơng đối bằng phẳng Đây là thời điểm trùng với giai đoạn mùa mưa nên bãi biển có phù sa

từ sông Hậu đưa tới Đến tháng 8, đất bồi thêm không nhiều, lớp bùn trên mặt đất dày 11,3 cm (Cao 2005)

Vào tháng 12, mặt đất hết bùn loãng, chỉ còn bùn chặt (nông dân gọi là rửa bãi) Từ tháng 12 trở đi đến tháng 2, mặt đất bị xói lở, bóc dần lớp bùn, nên chỉ còn lại nền đất cát Cuối tháng 2, nền đất có thành phần chủ yếu là cát rắn chắc Bãi biển bị xói lở mạnh nhất trong giai đoạn này, mặt đất bị hạ thấp xuống -21,33 cm so với mặt đất giai đoạn tháng 12

Quá trình bồi tụ và xói lở bờ biển ảnh hưởng đến quá trình trồng rừng, tái tạo rừng ở vùng ven biển Việc chọn lựa mùa vụ trồng rừng và phương thức trồng thích hợp là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của bất kỳ chương trìng trồng rừng nào

Bãi cát ven biển

Các bãi cát ven biển phân bố trên địa bàn xã Vĩnh Hải, bãi bồi cát xuất hiện chủ yếu là do bồi tụ của phù

sa biển hoặc dọc theo các khu vực bờ biển bị xói lở, hình thành các dải bãi bồi bùn, dải bãi bồi cát xen

kẽ Dạng lập địa: nền cát không bị lún, thời gian và chế độ ngập triều cũng như đối với loại bãi bồi trên Việc sử dụng bãi bồi cát hiện tại là nuôi nghêu hoặc đánh bắt các loài hải sản trên bãi bồi Về lâu dài (tùy tốc độ bồi của từng bãi) khi đã hình thành bãi hay giồng cát cố định sẽ tiến hành trồng đai rừng phi lao

Hệ thống đê biển và đê sông của tỉnh Sóc Trăng đã được hình thành và nâng cấp hàng chục năm qua phục vụ cho việc ngăn mặn, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Hệ thống đê từ Bãi Giá đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng - Bạc Liêu cơ bản đã xây dựng xong, cao trình mặt đê khoảng 2,5 - 3,2 m, mặt đê rộng 3 - 4 m Hệ thống đê này đã tạo nên ranh giới giữa vùng phòng hộ xung yếu ven biển dọc theo bờ biển với vùng kinh

tế nông nghiệp ở phía trong của đê biển Tuy nhiên hệ thống đê này hàng năm luôn luôn bị xói lở, đặc biệt ở những nơi không có hệ thống rừng ngập mặn che chắn

Trang 13

11

Hình 7: Bản đồ chỉ ra ranh giới các xã và các địa danh được trình bày trong báo cáo này

Trang 14

2 Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng

“Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông những nơi bị tác động của thủy triểu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau về rừng ngập mặn như “rừng ven biển”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” Tổng quát, rừng ngập mặn gồm những loài cây gỗ, hoặc cây bụi mọc dưới điều kiện ngập bởi thủy triều khi dâng cao Do đó, hệ

rễ của chúng thường bị ngập bởi nước mặn, mặc dầu nước mặn có thể được pha loãng bởi các dòng nước mặt hoặc ngập lũ một hoặc hai lần trong năm Rừng ngập mặn phụ thuộc vào các quá trình sinh hóa của thủy triều, nước ngọt, quá trình bồi tụ phù sa

do xói mòn bề mặt đất từ phía thượng nguồn đưa lại Thủy triều nuôi dưỡng rừng ngập mặn và trầm tích từ các dòng sông đem theo khoáng chất làm giàu thêm cho các đầm rừng Do đó, rừng ngập mặn được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của các quá trình sinh thái từ đại dương và cả phía đất liền” (FAO 1994, trang 5 và trang 1) Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất tên gọi là “Rừng ngập mặn”

Đặc điểm tổng quát là loại rừng này thường phân bố ở vùng cửa sông, ven biển hoặc bãi bồi, bị ngập bởi thủy triều lên trong ngày hoặc trong tháng Đất rừng ngập mặn mặn và bão hòa nước Trong điều kiện như vậy, bộ rễ của các loài cây rừng ngập mặn thường có cấu tạo và hình thái thích nghi với điều kiện ngập nước để phát triển Một số loài cây rừng ngập mặn chiếm ưu thế trong vùng triều cao và tiểu triều của vùng ven biển sông Cửu Long (Hình 8 và 9)

Chẳng hạn, cây đước (Rhizophora) có hệ thống rễ cà

kheo (Arch-formed stilt root) hoặc các loài bần

(Sonneratia) mấm (Avicennia), có hệ thống rễ khí

sinh nhô lên trên mặt nước để hô hấp Trái của một

số loài cây rừng ngập mặn, như loài đước

(Rhizhophora) thường nảy mầm ngay trên cây trước

khi rớt và cắm xuống đất Những quần xã thực vật

xuất hiện ở vùng ven biển nhưng không có khả năng

thích ứng với điều kiện ngập thủy triều và đất bão

hòa nước thì không thuộc nhóm các cây rừng ngập

mặn

Hình 8 và 9 cho thấy hình ảnh hai loài cây ngập mặn

chiếm ưu thế trong vùng ven biển triều cao và tiểu

triều sông Cửu Long

Tùy theo khả năng thích nghi với các mức độ ngập

triều, độ mặn của nước, độ thuần thục của đất mà đã

hình thành các đai rừng ngập mặn khác nhau Ở vùng cửa sông, nơi có sự giao thoa giữa nguồn nước ngọt từ sông đổ ra biển và nước triều hằng ngày các loài cây điển hình ở vùng này thường gặp là bần

chua (Sonneratia caseolaris) hoặc bần đắng (S alba) Tại các cửa sông Cửu Long, những cây này tạo

thành vành đai xanh dày trên bãi tiểu triều đến bãi bồi tại các lập địa thích hợp dọc theo các cửa sông

Hình 8: Cây bần mọc trên đất bị ngập triều

cao hằng ngày

Hình 9: Cây dà mọc trên đất cao, bị ngập

triều cao hàng tháng

Trang 15

Dừa nước (Nypa fruticans) cũng là một đại diện cho quần xã cây ở vùng cửa sông, nhưng chúng thường

đứng ở sâu hơn về phía đất liền, ở phía sau đai rừng bần (Sonneratia caseolaris)

Ở nơi xa cửa sông, độ mặn của nước thường lớn hơn so với vùng cửa sông thường gặp Tại các lập địa này thường gặp các loài chịu mặn như các loài mấm biển (Avicennia marina) hoặc mấm đen (Avicennia

officinalis) Những cây này cũng tạo thành vành đai xanh tự nhiên dọc theo đường bờ biển tại các bãi bồi

Trên những vùng đất mặn cao hơn, chỉ bị ngập khi triều lên cao trong tháng hoặc trong năm xuất hiện

các loài cóc (Lumnitzera racemosa) hoặc bụp (Hibiscus tiliaceus)

Quá trình hình thành và phát triển của rừng ngập mặn luôn luôn có quan hệ mật thiết với các điều kiện môi trường, trong đó quá trình ngập triều, sự lưu thông của thủy triều, sự bồi tụ phù sa là những nhân tố chi phối mạnh mẽ nhất đối với sự tăng trưởng và thành phần của rừng ngập mặn

2.2 Thành phần loài cây rừng ngập mặn

Do những đặc điểm đặc biệt của môi trường nên chỉ có một số lượng rất ít các loài cây có thể chịu được

và phát triển bình thường trong điều kiện ngập thủy triều, đất bùn lầy, mặn, khác hẳn so với những loại rừng phát triển trên đất khô, cao khác Trên thế giới, thành phần các loài cây của rừng ngập mặn được FAO (1994) liệt kê gồm 84 loài, trong đó có 66 loài cây gỗ, 13 loài cây bụi, 2 loài cây họ cau dừa, và 3 loài cây dương xỉ Các nghiên cứu khác liệt kê các con số khác nhau (như Duke 1992), phản ánh tính chất chủ quan trong việc định nghĩa rừng ngập mặn

Ở Việt Nam, Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (năm 2005) đã liệt kê 37 loài cây là những loài thực thụ cây rừng ngập mặn Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) là địa phương có số loài cây rừng ngập mặn nhiều nhất (33 loài), tiếp theo là Cà Mau có 32 loài Khảo sát tại vùng cửa sông, ven biển tỉnh Sóc Trăng đã xác định được 26 loài cây năm 2008 Đó là những loài cây rừng ngập mặn thực thụ của vùng cửa sông, ven biển, danh sách những loài cây này được trình bày trong Bảng 2

Trang 16

Bảng 2: Danh sách các loài cây rừng ngập mặn thực thụ của vùng cửa sông, ven biển tỉnh Sóc Trăng

Thứ tự Tên Việt Nam Tên khoa học Dạng sống

1 Bần đắng (bần trắng) Sonneratia alba J.Smith Gỗ trung bình

3 Mấm trắng (mấm lưỡi đồng) Avicennia alba Blume Gỗ trung bình

9 Vẹt tách Bruguiera parviflora (Roxb.) Wight & Arn Gỗ trung

10 Vẹt trụ (Vẹt hôi) Bruguiera cylindrica (L.) Bl Gỗ nhỏ

11 Vẹt khang, Bruguiera sexangula (Lour.) Poiret Gỗ trung

13 Dà vôi Ceriops tagal (Perrottet) C.B Robinson Gỗ trung

22 Cui biển Heritiera littoralis Aiton ex Dryander

2.3 Sự thích nghi của cây rừng ngập mặn với môi trường

Nghiên cứu sự thích nghi của các loài cây rừng ngập mặn đối với môi trường và nhu cầu sinh lý, sinh thái của mỗi loài có ý nghĩa rất thiết thực cho việc quản lý bền vững rừng ngập mặn Việc chọn loài cây trồng thích hợp cho từng điều kiện cụ thể cần căn cứ vào nhu cầu sinh thái của từng loài cây Chẳng hạn nếu trồng cây đước (Rhizophora) trên bãi bồi, ở vùng cửa sông, ngập thủy triều thường xuyên trong

ngày thì cây sẽ chết Ngược lại, nếu trồng cây mấm (Avicennia), hoặc bần (Sonneratia) ở trên đất khô,

cao không có ngập thủy triều thì cây cũng không thể tồn tại

Những biện pháp tác động của con người làm cản trở hoặc thay đổi các đặc tính môi trường của hệ sinh thái đều có thể làm cản trở hoặc ngừng sinh trưởng của các loài cây rừng ngập mặn Chẳng hạn, việc đắp đê sẽ làm thay đổi thủy động lực học dòng chảy, ngăn cản quá trình truyền triều, hạn chế sự bồi tụ phù sa, tích đọng các độc chất trong đất, làm cản trở hô hấp của hệ rễ có thể làm cho cây rừng ngập mặn ngừng sinh trưởng hoặc bị chết

Trang 17

Macnae (1966) cho rằng sự thích nghi của rừng ngập mặn với môi trường tạo nên sự phân đới của rừng

ngập mặn ở vùng cửa sông, ven biển Đây là hiệu quả của sự tương tác giữa các yếu tố (Duke et al

1998) như tần suất của thủy triều, độ mặn của nước trong đất, mức độ ngập nước của đất Nhìn chung, các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc phân bố các loài cây rừng ngập mặn là (i) nhiệt độ; (ii) độ mặn của nước và lượng mưa; (iii) thời gian và mức độ ngập triều; (iv) hoạt động của sóng; (v) sự lưu thông và trao đổi của dòng nước; và (vi) mức độ thuần thục của đất Các yếu tố này có ảnh hưởng tương tác với nhau (Duke 2006), đặc biệt là thời gian và cường độ ngập triều cũng là yếu tố ảnh hưởng đến độ thuần thục của đất

Theo FAO (1994), chỉ ra số liệu về sự thay đổi về thành phần thực vật và sự biến đổi của các chỉ tiêu chất lượng nước được Aksornkoae (1975) theo dõi từ bờ biển vào đất liền được nghiên cứu ở Thái Lan như trong bảng 3

Bảng 3: Sự thay đổi về thành phần thực vật và sự biến đổi của các chỉ tiêu chất lượng nước

nghiên cứu ở Thái Lan

Chỉ tiêu chất lượng nước

DO ml/l

2 Mấm (Avicennia)

Vẹt (Bruguiera)

29,1 7,0 22,04 3,37 17,91 1,290 2.220 94,33 27,9 6,7 20,96 2,36 16,48 0,823 2.418 99,72

5 Ráng

(Acrostichum)

27,5 6,6 18,62 1,55 19,82 0,834 2.407 100,82 27,6 6,6 19,49 1,7 20,62 0,859 2.590 107,84 Nguồn: Theo Aksornkoae (1975)

Watson (1928), căn cứ vào đặc điểm sinh thái của rừng ngập mặn ở Malaysia đã chia thảm thực vật rừng ngập mặn ở phía Tây Malaysia thành 5 nhóm thực vật dựa trên tần xuất ngập triều: (i) nhóm thực vật chịu ngập thủy triều cao nhất, bị ngập khi thủy triều lên cao, từ 0 đến 8 feet, trong nhóm này có bần

(Sonneratia alba); (ii) nhóm thực vật chịu ngập khi thủy triều lên ở mức trung bình, từ 8 đến 11 feet,

chẳng hạn như các loài đước (Rhizophora), các loài vẹt (Bruguiera); (iii) nhóm thực vật bị ngập khi thủy triều lên cao thường xuyên, từ 11 đến 13 feet, điển hình là xu (Xylocarpus granatum); (iv) nhóm thực vật

bị ngập khi thủy triều lên cao bất thường, từ 13 đến 15 feet, điển hình là cóc (Lumnitzera littora); (v) nhóm thực vật bị ngập khi thủy triều lên cao đột biến, từ trên 15 feet, chẳng hạn như bụp (Hibiscus

tiliaceus)

De Haan (1931) cho rằng độ mặn là nhân tố đầu tiên và thủy triều là yếu tố thứ hai chi phối sự phân bố của rừng ngập mặn Căn cứ vào độ mặn của nước, ông chia vùng ven biển thành hai đới Đới lợ đến mặn, có độ mặn từ 10-20‰, ký hiệu là A Đới ngọt tới lợ, độ mặn dưới 10‰, ký hiệu là B Trong đới A chia thành các đới phụ, đới phụ A1 mặt đất bị ngập bởi thủy triều 1-2 lần trong ngày, số ngày ngập thủy triều trong tháng từ trên 20 ngày; đới phụ A2 mặt đất bị ngập thủy triều từ 10-19 ngày trong tháng; đới phụ A3 số ngày ngập thủy triều trong tháng dưới 9 ngày; đới phụ A4 chỉ bị ngập thủy triều một ngày trong tháng Đới B được chia thành 2 đới phụ, đới phụ B1 thỉnh thoảng bị ảnh hưởng bởi thủy triều, đới phụ B2 ngập nước theo mùa

Trang 18

2.4 Các quần thụ rừng ngập mặn chủ yếu ở ven biển tỉnh Sóc Trăng

Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam bộ năm 2003, đã mô tả về những loài cây rừng ngập mặn chủ yếu, mọc thành quần thụ rộng lớn do tái sinh tự nhiên hoặc do gây trồng nhân tạo ở vùng cửa sông ven biển tỉnh Sóc Trăng (Phân viện ĐTQHR Nam bộ 2003) như sau:

Quần thụ bần, gồm các loài bần chua và bần đắng (Sonneratia spp) mọc tự nhiên Diện tích năm

2003 là 722 ha Phân bố ven biển các xã An Thạnh Nam, An Thạnh Ba, Lịch Hội Thượng, và Trung Bình Đây là vùng cửa sông và ven biển gần cửa sông Cửu Long

Quần thụ bần hình thành từ quá trình tái sinh tự nhiên trên các bãi bồi Ở những bãi bồi mới hình thành, nền đất là dạng bùn lỏng ngập triều thường ngày theo chế độ bán nhật triều biển Đông Cùng với sự xuất hiện của các bãi bồi vùng cửa sông, ven biển, đai rừng ban đầu là những đám cây thưa thớt sau sẽ đông đặc dần thành quần thụ ổn định Mật độ của rừng ở khu vực xã Trung Bình (huyện Trần Đề) tới 5.000 cây/ha

Cây bần sinh trưởng tốt có khả năng gieo giống, lan tỏa ra các diện tích xung quanh Đai rừng có tác dụng tốt trong việc chống xói lở, thúc đẩy quá trình bồi tụ phù sa cho bờ biển, giảm nhẹ thiên tai, góp phần đắc lực phòng hộ sản xuất và an toàn cho các khu dân cư phía sau đai rừng

Quần thụ mấm mọc tự nhiên loài cây chủ yếu là mấm trắng (Avicennia alba) Diện tích của dạng

rừng này năm 2003 là 162 ha Phân bố tập trung ở vùng ven biển xã Vĩnh Hải Rừng mấm tái sinh tự nhiên trên các bãi bồi ở xa cửa sông, dạng lập địa bùn lỏng ngập triều thường nhật theo chế độ bán nhật triều biển Đông (Phân viện ĐTQHR Nam bộ 2003)

Rừng sinh trưởng tốt có khả năng gieo giống, lan tỏa ra các diện tích xung quanh, những nơi địa hình cao rừng mấm sinh trưởng chậm hơn Qua thời gian dài, mặt đất được nâng lên do quá trình bồi tụ phù

sa, các quần xã mấm, bần sẽ bị thoái hóa, sinh trưởng chậm và xấu dần nhường chỗ cho các loài khác như đước (Rhizophora), và cóc (Lumnitzera)

Quần thụ bần trồng Diện tích thống kê năm 2003 là 1.355 ha Phân bố ở các xã An Thạnh Nam, An

Thạnh Ba, Lịch Hội Thượng, Trung Bình, Liêu Tú, Vĩnh Hải Rừng bần được trồng trên các bãi bồi, dạng lập địa bùn lỏng ngập triều thường nhật theo chế độ bán nhật triều biển Đông, cùng với sự xuất hiện của các bãi bồi vùng cửa sông, ven biển

Quần thụ mấm trồng Diện tích thống kê năm 2003 là 440 ha, phân bố ven biển các xã Vĩnh Hải, Lạc

Hòa, Vĩnh Châu

Quần thụ đước trồng Diện tích thống kê năm 2003 là 254,14 ha, phân bố ven biển các xã Lai Hòa,

Vĩnh Phước, Vĩnh Tân, Lạc Hòa, Vĩnh Châu và Vĩnh Hải Quần thụ thực vật này được trồng tập trung hay hỗn giao trong rừng mấm tái sinh tự nhiên ven biển trên các bãi bồi, dạng lập địa bùn lỏng ngập triều thường nhật theo chế độ bán nhật triều biển Đông

Cây rừng sinh trưởng tốt có khả năng gieo giống, những nơi địa hình cao thủy triều không lên tới lô, rừng sinh trưởng chậm hơn Nhiều diện tích rừng được đào rãnh đem nước triều vào rừng và có tác dụng tốt cho cây rừng

2.5 Các dịch vụ và giá trị của rừng ngập mặn

Howe và các c ộng sự, (1991) đã liệt kê các giá trị và chức năng của rừng ngập mặn và những tác động

có thể làm mất hoặc làm giảm các giá trị và chức năng đó

Rừng ngập mặn bảo vệ vùng ven biển chống sóng, xói lở bờ biển, hạn chế gió và thúc đẩy quá trình bồi tụ phù sa

Nhờ có hệ rễ phát triển ăn sâu xuống đất, làm cho nền đất trở nên vững chắc Tán lá rộng với cành vững chắc giảm nhẹ xung động của sóng, làm giảm xung lực của sóng tác động vào bờ biển Nghiên cứu của

Trang 19

Mazda (1997) đã có kết luận rằng, dải rừng ngập mặn 6 tuổi với chiều rộng là 1,5 km có thể giảm độ cao sóng từ 1 mét ở ngoài khơi còn 0,05 m khi vào tới bờ Sự giảm sóng phụ thuộc vào loài cây rừng ngập mặn, điều kiện thảm thực vật, độ sâu mực nước và điều kiện sóng xuất hiện (Mazda 2006)

Cây rừng ngập mặn cũng hạn chế gió từ biển vào lục địa, luồng gió thổi từ biển vào đất liền khi gặp đai rừng ngập mặn thì cường độ của gió sẽ bị giảm đi Các đai rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm mạnh

độ cao của sóng khi triều cường Nếu gặp đai rừng dày và rộng, luồng gió sẽ đổi hướng vượt qua tán rừng, những khu dân cư và cơ sở hạ tầng ở phía sau đai rừng sẽ được bảo vệ, mức độ thiệt hại sẽ giảm

đi rất nhiều so với tình trạng không có đai rừng bảo vệ

Nghiên cứu của Mazda (1997) ở xã Thụy Hải, (huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) trong thời gian có triều

cường từ ngày 17 đến 21/11/1994 cho thấy rừng trang (Kandelia candel) trồng sáu tuổi với chiều rộng

1,5 km đã giảm độ cao của sóng từ 1 m ở ngoài khơi xuống còn 0,05 m khi vào tới bờ đầm cua và bờ đầm không bị xói lở Còn nơi không có rừng ở gần đó, cùng một khoảng cách như thế thì độ cao của sóng cách bờ đầm 1,5 km là 1 m, khi vào đến bờ vẫn còn 0,75 m và bờ đầm bị xói lở

Hệ thống rễ cây rừng ngập mặn cũng giữ lại các chất trầm tích từ đất liền đưa ra biển Các chất trầm tích này trộn với lớp thảm mục, tàn tích hữu cơ được phân rã làm cho nền đất nâng cao Nhờ tác dụng hỗ trợ của đai rừng ngập mặn, các bãi bồi hàng năm lấn ra biển như ở cửa sông Cửu Long và mũi Cà Mau lấn

Hình 10: Rừng ngập mặn bảo vệ các cộng đồng ở vùng ven biển Trái: Bờ biển với đai rừng

bảo vệ Mặt: Bờ biển không có đai rừng bảo vệ

Trang 20

Ở vùng cửa sông Cửu Long, một nghiên cứu tại Thạnh Phú (Bến Tre) (Thọ 1998) đã thống kê được 27 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư, 16 loài động vật có vú và 60 loài chim Một số loài hiếm và có nguy cơ bị đe

dọa được phát hiện ở đây như Tắc kè (Gekko gekko), Kỳ đà hoa (Varanus salvator), Rái cá lông mượt (Lutra perspicilata), Mèo cá (Felis viverina), Bồ

nông (Pelecanus philipensis), Cò lạo xám

(Mycteria cinerea)

Có 185 loài thực vật nổi trong rừng ngập mặn

Thạnh Phú (Bến Tre) trong đó, nhóm

Bacillariophyta chiếm 79%, cũng như 93 loài

động vật nổi, bao gồm 57 loài của nhóm

Arthropoda (62.29%), và 90 loài động vật đáy,

bao gồm 41 loài thuộc nhóm Arthropoda

(45.56%) Vùng cửa sông có 661 loài cá thuộc

319 họ, trong đó số loài cá sống ở tầng đáy và

gần đáy chiếm khoảng 72%, họ cá mối

(Priacanthidae) chiếm 54,43%, họ cá khế

(Canrangidae) chiếm 25,5%, và họ cá trác

(Priancabidae) chiếm 3,79% (Hằng 2003)

Các loài cá sống ở tầng nổi chiếm 28%, tầng trung

và nổi có các loài cá bạc má (scads), cá nục (anchovy), cá mối vạch (lizardfish), cá chuồn đen (flying fish), và cá thu vạch (codfish) Khoảng 68%

cá biển sống gần bờ và phụ thuộc vào năng suất của thảm thực vật rừng ngập mặn, trong khi 32% còn lại sống trong các hệ sinh thái nước sâu (Hằng 2003)

Có 20 loài tôm trong rừng ngập mặn Thạnh Phú tỉnh Bến Tre (Hằng 2003) Chúng gồm 12 loài tôm biển thuộc 5 họ và 8 loài tôm nước ngọt

Các loài tôm thương mại có giá trị cao như

Penaeus indicus; Metapeneus ensis, M lysanassa

và M spinulatus Nghêu giống xuất hiện ở hầu hết các bãi bồi vùng cửa sông, đã đem lại nguồn thu nhập rất quan trọng cho người dân địa phương Các nhà khoa học đã chứng minh mối liên hệ khăng khít giữa việc khôi phục rừng ngập mặn và sản lượng hải sản, (Pedersen 1996) Mỗi ha rừng ngập mặn có thể duy trì sản lượng đánh bắt hàng năm khoảng 450 kg (Hinrichsen 1999) Giá trị sinh thái và lợi ích rừng ngập mặn có thể được thấy trong Hình 11 và Hình 12

Hình 11: Rừng ngập mặn - nơi nuôi dưỡng và bảo

vệ các loài tôm, cua (vẽ lại với sự cho phép của Bùi Thị Nga và Huỳnh Quốc Tinh, 2008)

Hình 12: Giá trị tàng trữ Carbon của rừng ngập

mặn (vẽ lại và viết lại với sự cho phép

của Trí, 2007)

Trang 21

Cung cấp nhiều sản phẩm trực tiếp cho nhân dân địa phương

Công dụng của các loài cây rừng ngập mặn rất đa dạng Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản đã thống

kê được 30 loài cây cung cấp gỗ, than và củi; 14 loài cây cho tanin; 24 loài cây cho phân xanh, cải tạo đất hoặc giữ đất; 21 loài cây dùng làm thuốc; 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ; 21 loài cây cho mật ong; 1 loài cây cho nhựa hay đường để sản xuất nước giải khát (Hồng và Sản 1993)

Đước, Bần, Mấm, Vẹt là những loài cây gỗ có kích thức lớn, tăng trưởng nhanh Cây Đước (Rhizophora

apiculata) trưởng thành đạt đến kích thước đường kính tại tầm cao ngang ngực 40 cm và cao 25 m Cây Đước ở Cà Mau tăng trưởng hằng năm đến mức 1,2 cm/năm đường kính và 0,85 m/năm cho chiều cao Hằng năm, rừng đước trồng có thể đạt năng suất 20 m3/ha/năm trong 1 chu kỳ 25 năm Gỗ Đước được

sử dụng để làm đồ nội thất và nhiều mặt hàng khác liên quan đến xây dựng nhà cửa

Than hầm từ các loài Đước, Vẹt là nguồn năng lượng quan trọng Theo truyền thống, nhân dân vùng ven biển, và ngư dân đánh bắt hải sản rất ưa thích dùng than hầm từ đước Trong một số ngành công nghiệp, than đước rất được ưa chuộng do cug cấp nhiệt lượng cao tương tự như than đá (6.375-6.675 calo/kg) Ở vùng ven biển Nam Bộ, cho đến ngày nay, than đước vẫn là sản phẩm được sử dụng rất rộng rãi Năng suất than ở nước ta tính theo trọng lượng gỗ trung bình là 20%, hay 1 ster củi nặng 800

kg sau khi đốt được 165 kg than

Tanin là loại sản phẩm có tỷ lệ cao trong vỏ của các loài cây rừng ngập mặn Tỷ lệ tanin chứa trong vỏ các loài cây rừng ngập mặn như sau: Dà (29,85%), Vẹt (13,6%), Cóc (13,4%), và Đước (12,2%) Dừa

nước (Nipa fruticans) là một loài cây hữu ích cho người dân địa phương Lá dừa nước để lợp nhà, làm

vách Quả ăn được, các chất nhựa từ cuống cụm hoa có thể sản xuất đường, rượu, giấm ăn Cây có tác dụng giữ bờ kênh khỏi bị xói lở (Lợi 1972)

Là nơi du lịch, giải trí, và nghiên cứu khoa học

Do cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và hùng vĩ, khí hậu mát lành, làm cho các khu rừng ngập mặn ở vùng ven biển là những nơi vui chơi, giải trí lý tưởng, cuốn hút du khách khắp mọi miền trên thế giới Nhiều khu rừng ngập mặn ở nước ta là nơi du lịch sinh thái rất nổi tiếng như Cần Giờ và Mũi Cà Mau Rừng ngập mặn tại tỉnh Sóc Trăng có tiềm năng lớn cho du lịch nếu được bảo vệ tốt Sự sinh động và kỳ

bí của hệ sinh thái rừng ngập mặn luôn luôn lôi cuốn sự đam mê các nhà khoa học trong nghiên cứu và sáng tạo

Bảo tồn các giá trị văn hóa và các giá trị của thiên nhiên

Các khu rừng ngập mặn ở ven biển cửa sông tỉnh Sóc Trăng có giá trị quan trọng đối với việc bảo vệ cảnh quan của vùng đất ngập nước, hỗ trợ các quá trình sinh thái ở vùng cửa sông, ven biển Đặc biệt là duy trì quá trình diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn

Vai trò của rừng ngập mặn trong việc đối phó với mực nước biển dâng / tác động của biến đổi khí hậu

Những năm gần đây, tác hại của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên thiên nhiên và xã hội ngày càng rõ rệt hơn, với quy mô và cường độ ngày càng tăng Những vùng đất thấp, ngập nước ven biển cũng là đối tượng bị đe dọa bởi sóng lớn và gió mạnh Tuy nhiên, hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng là tác nhân hạn

chế các tác hại của sự biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiệt hại do nước biển dâng

Các khu rừng ngập mặn có hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất như hệ rễ hình chân nơm của các loài đước, đưng, rễ hình đầu gối của các loài vẹt, rễ thở hình chông của các loài mấm, bần, hấp thụ năng lượng sóng Với lớp tán lá dày và thân, cành cây, tạo thành lớp rào bằng vật liệu mềm giảm sức công phá của sóng triều Cũng nhờ lớp thảm thực vật cản sóng, lượng phù sa và mùn bã hữu cơ tại chỗ được tích lũy làm cho mặt đất được cố định và nâng cao Nhờ đó, các trụ mầm và quả, hạt của các loài cây ngập mặn nhanh chóng tái sinh chiếm cứ vùng bãi bồi

Trang 22

Các tuyến đê ngăn mặn ở huyện Thái Thụy (huyện Thái Thủy, tỉnh Thái Bình) dài 86,6 km, được xây dựng từ lâu đời, việc đắp đê chủ yếu bằng lao động thủ công Các cơn bão số 6 và số 7 năm 2005 đúng vào lúc triều cường gây ra sóng lớn nhưng các tuyến đê ở Thái Thụy không bị xói lở nhờ các dải rừng ngập mặn trồng từ phía sau khi đê Xuân Hải bị vỡ năm 1996 Ghi nhận đóng góp này, ngành nông nghiệp xác định việc khôi phục rừng ngập mặn là một đầu tư quan trọng cho việc bảo quản các đê biển Các khu rừng ngập mặn cũng góp phần hạn chế xâm nhập nước mặn và bảo vệ nước ngầm Ở những thành phố và thị trấn ở vùng ven biển tình trạng triều cường đã gây ngập nhiều khu dân cư, trong đó có một nguyên nhân là hầu hết các kênh rạch trước đây có những dải cây dừa nước và nhiều loài cây ngập mặn khác như bần, mấm, su, trang đã bị chặt phá và lấp đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu dân

cư cho nên không có chỗ cho nước thoát

Rừng ngập mặn là nơi bảo vệ các động vật khi nước triều dâng và sóng lớn Nhiều loài động vật đáy sống trong hang hoặc trên mặt bùn, khi thời tiết bất lợi, nước triều cao, sóng lớn đã trèo lên cây để tránh sóng như như cua nhỏ và ốc sên Khi lặng gió và triều xuống thấp chúng trở lại nơi sống cũ Do đó mà tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập mặn được ổn định Nhờ các mùn bã được phân hủy tại chỗ và các chất thải do sông mang đến được phân giải nhanh tạo ra nguồn thức ăn phong phú, thuận lợi cho sự hồi phục và phát triển của động vật sau các thiên tai

Định lượng các giá trị của rừng ngập mặn

Theo “Định giá Kinh tế những Sử dụng khác nhau của Rừng ngập mặn tại Sri Lanka”, giá trị kinh tế hàng năm của mỗi ha rừng ngập mặn ở Sri Lanka đã được xác định như sau:

- Tài nguyên rừng ngoài gỗ là US$ 108

- Giá trị giải trí ở cấp địa phương là US$ 933

- Giá trị giải trí ở cấp toàn cầu là US$ 1.196

- Giá trị của sự lựa chọn ở cấp toàn cầu là US$ 1.039

- Giá trị của sự lựa chọn ở cấp địa phương là US$ 1.491

- Giá trị di sản ở cấp toàn cầu là US$ 562

- Giá trị di sản ở cấp địa phương là US$ 1.714

- Giá trị tồn tại ở cấp toàn cầu là US$ 1.399

- Giá trị tồn tại ở cấp địa phương là US$ 883

- Lợi ích cung cấp nơi kiếm ăn cho cá là US$ 218

- Lợi ích kiểm soát xói lở là US$ 3,6

- Lợi ích bảo tồn đa dạng sinh học là US$ 18

- Lợi ích tồn trữ Carbon là US$ 75

- Lợi ích bảo vệ chống gió bão là US$ 76

- Lợi ích xử lý ô nhiễm là US$ 4.494

- Theo kết quả nghiên cứu này, tổng giá trị kinh tế của rừng ngập mặn được bảo tồn đã được ước

định cho mỗi ha, hàng năm là US$ 12.229

Theo Tạp chí của Viện khoa học hàn lâm quốc gia phát hành ngày 21 tháng 7 năm 2008, các nhà khoa học tại Viện Hải dương học Scripps tại UC San Diego, viết trong ấn bản trực tuyến mới, đã cho thấy rằng rừng ngập mặn Mexico - những cây hình thành hệ sinh thái rừng tại giao diện đất-biển - đã làm tăng rõ rệt sản lượng cá ở vịnh California (PNAS 2008)

Họ đã tìm thấy 13 vùng đánh cá khác nhau ở vịnh California, sản xuất bình quân hàng năm 11.500 tấn ghẹ xanh và cá có nguồn gốc từ rừng ngập mặn, trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, tạo ra khoảng 19 triệu USD cho ngư dân địa phương

Giá trị hằng năm dịch vụ môi trường rừng ngập mặn trên thế giới đã được ước tính hơn 1,6 tỷ USD Các dịch vụ cho con người bao gồm điều hoà khí hậu, bảo vệ nguồn nước sạch, hạn chế xói lở ven biển, xử

lý chất thải, cung cấp lương thực thức ăn và giải trí

Trang 23

Các nhà nghiên cứu đã định lượng được các yếu tố kinh tế, địa lý và sinh thái của rừng ngập mặn và xác định 1 ha (10.000 mét vuông, hoặc khoảng 2.5 mẫu Anh) bìa rừng ngập mặn – bìa rừng ngập mặn tiếp xúc với biển - trong vịnh California có giá trị trung bình khoảng 37.500 USD mỗi năm Các dải rừng ngập mặn đặc biệt quan trọng cho sự khỏe mạnh lâu dài của nhiều người dân khác mà sinh kế phụ thuộc vào nguồn tài nguyên cá ở vùng này

Tại Sóc Trăng, tài nguyên thủy sản ven biển trong rừng Bần (Sonneratia Caseolaris) ở vùng cửa sông, ven biển rất phong phú Phương pháp thu hoạch thủy sản của người dân ở đây cũng rất đa dạng phụ thuộc vào giới tính và tuổi Trong khi những người đàn ông tìm cách bắt cá, đàn bà và trẻ em bắt cua con, và các sinh vật thủy sinh khác như nghêu, động vật có vỏ Những nguồn tài nguyên này đóng góp vào thu nhập và sinh kế của những người dân sống ở vùng ven biển Những đai rừng bần tạo ra điều kiện môi trường thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ở vùng đệm và giữ vai trò như những dải đệm lọc nước lớn để nông dân dẩn nước sạch vào những vuông nuôi trồng thuỷ sản hay lọc nước thải từ các vuông nuôi trồng thuỷ sản

Đất ngập nước vùng cửa sông có giá trị kinh tế cao; Theo Nguyễn Hữu Ninh và Mai Trọng Nhuận (Ninh 2003), giá trị kinh tế của rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửu Long có thể ước tính là 3.099,36 USD/ha/năm, gồm giá trị từ nguồn gỗ và củi, và giá trị gián tiếp là 3.083 USD/ha/năm

Sản lượng tính toán theo lý thuyết phù hợp một cách hợp lý với số liệu về sản lượng đánh bắt và điều này có nghĩa là 1 ha diện tích rừng ngập mặn mang lại gần 700 kg sản lượng hải sản đánh bắt

Tóm tắt các dịch vụ và giá trị của rừng ngập mặn

Các dịch vụ của Rừng ngập mặn

Ngăn chặn lan tràn nước mặn và sóng

Chống bão, gió, bảo vệ bờ biển, lấn biển

Giảm nhẹ thiệt hại, bảo vệ đê biển và các công trình ở vùng ven biển

Lưu trữ dinh dưỡng

Sản xuất sinh khối

Duy trì các quá trình sinh thái tự nhiên ở vùng ven biển

Du lịch, giải trí, nghiên cứu khoa học

Cung cấp sản phẩm

Tài nguyên gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu

Tài nguyên động vật hoang dã

Tài nguyên thủy sản

Các thuộc tính

Đa dạng sinh học

Di sản văn hóa bản địa

Chính vì những lẽ đó cần quản lý và phát triển rừng ngập mặn như một phần của giải pháp cho chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu

Trang 24

3 Diễn biến tài nguyên rừng ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng và hậu quả về môi trường

3.1 Diễn biến tài nguyên rừng ngập mặn

Nằm tại cửa sông Cửu Long, vùng ven biển Sóc Trăng cung cấp những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho thảm thực vật rừng ngập mặn, với Bần đắng (Sonneratia caseolaris) và Mấm (Avicennia marina) là các loài cây rừng ngập mặn chiếm ưu thế một cách tự nhiên trong các quần thể lớn

Những thay đổi về độ che phủ rừng ngập mặn dọc theo đường bờ biển Sóc Trăng từ 1965 đến 2007 đã được phân tích dựa trên bản đồ địa hình (tỷ lệ 1:50.000 (tờ số 6117IV, 1965), và giải đoán ảnh vệ tinh (ảnh vệ tinh SPOT 1995, Landsat ETM tháng 12/2001 và QuickBird 2007) Các kết quả được thể hiện trong hình 13 Để biết biến đổi đường bờ biển và độ che phủ rừng ngập mặn từ 1889 - 1965, xem Joffre (2010)

Bản đồ địa hình xây dựng năm 1965 cho thấy rừng ngập mặn phân bố ở ven cửa sông xã An Thạnh Nam (huyện Cù Lao Dung), xã Trung Bình và Lịch Hội Thượng (huyện Trần Đề), xã Lạc Hòa (huyện Vĩnh Châu) Trong thời gian này, các dải rừng ngập mặn ở ven sông Mỹ Thanh và rạch Trà Niên lấn sâu vào đất liền tới 15 km Tổng diện tích những đám rừng dày, mọc tập trung ở sát ven biển thuộc các xã An Thạnh Nam, Lịch Hội Thượng và Lạc Hòa đã xác định được khoảng 4.003 ha Thành phần loài cây chủ

yếu là bần (Sonneratia) và dừa nước (Nypa fruticans)

Từ 1977 - 1982, nhân dân địa phương trồng lại rừng trên những vùng đất trống không có rừng; một số khu vực được tái sinh tự nhiên do điều kiện phù hợp về mặt thủy triều, đất, và giống Điều này làm cho diện tích rừng tăng nhanh Tuy nhiên, tới cuối thập niên 1980 trở đi nhiều khu rừng được chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp và nuôi tôm nên diện tích rừng giảm nhanh

Trong những năm 1990, việc quy hoạch kém cho chặt cây cùng với các hoạt động chuyển hóa rừng ngập mặn thành đất nuôi trồng thủy sản và canh tác nông nghiệp đã là những nguyên nhân chính làm cho rừng ngập mặn bị cạn kiệt trên quy mô lớn, hậu quả là xói lở bờ biển và xâm nhập mặn vào đất liền Theo số liệu điều tra thống kê Viện Điều tra Quy hoạch Rừng xuất bản, Bộ Lâm Nghiệp năm 1983, tổng diện tích đất có rừng ngập mặn ở tỉnh Sóc Trăng là 3.000 ha

Năm 1995, như một phần của dự án tái tạo rừng ngập mặn ven biển do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng thực hiện đã thống kê được 4.585 ha rừng ngập mặn qua sử dụng ảnh vệ tinh SPOT Giai đoạn từ năm

1995 đến 1998, dự án MILIEV đã trồng được 98 ha rừng ngập mặn ở huyện Vĩnh Châu và Trần Đề của tỉnh Sóc Trăng

Năm 2001, tổng diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng đã thống kê được 4.336 ha từ ảnh vệ tinh Landsat ETM, chụp ngày 11 tháng 12 năm 2001 Phân Viện Điều tra Quy hoạch Rừng Nam

bộ (2003) đã thống kê được 2.990,79 ha đất có rừng ngập mặn, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 884,07 ha, gồm rừng Bần 721,91 ha và rừng Mấm 162,16 ha Diện tích rừng trồng là 2.106,72 ha, gồm 1.354,87 ha rừng Bần, 199,6 ha rừng Đước, và 440,14 ha rừng Đước trồng xen trong rừng Mấm

Trong giai đoạn 15 năm từ năm 1980 đến năm 1996, tại các cửa sông Cửu Long bao gồm 3 tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng, 37.349 ha đất lâm nghiệp được chuyển đổi thành đất canh tác nông nghiệp

và cho các sử dụng khác Đây là những khu vực rừng tự nhiên, rừng trồng và đất bụi rậm Riêng trong giai đoạn 6 năm từ năm 1980 đến năm 1986, mỗi năm diện tích rừng ngập mặn biến mất 4.833 ha Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1996, mỗi năm diện tích rừng thu hẹp 850 ha (Thịnh 1996) Hình 14 trình bày sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn tại Sóc Trăng từ năm 1965 đến 2007

Trang 28

Hình 13: Trình bày bản đồ diễn biến hiện trạng rừng ngập mặn dọc theo bờ biển tỉnh Sóc Trăng năm 1965, 1995, 2001 và 2008

Trang 29

Hình 14: Sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn tại Sóc Trăng

3.2 Những nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng ngập mặn

Do được hình thành ở vùng ven biển và cửa sông nên rừng ngập mặn thường được nhận định là những

hệ sinh thái mở Các hệ sinh thái rừng ngập mặn luôn luôn trao đổi với bên ngoài thông qua các quá trình tác động thủy triều, ngập úng và lắng đọng trầm tích Bất kỳ tác động nào, làm xáo trộn quá trình sinh thái của rừng ngập mặn, do đó sẽ làm thay đổi môi trường và làm tổn thương hệ sinh thái Những nhân tố làm xáo trộn thuộc tính môi trường của rừng ngập mặn có thể do các nguyên nhân sau (Howe et

al 1991):

(i) Những tác động làm thay đổi chế độ thủy văn, ngăn chặn sự lưu thông của thủy triều;

(ii) Những hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, ngăn chặn dòng chảy;

(iii) Những hoạt động chặt phá lớp thảm thực vật, thu hoạch quá mức hệ động vật;

(iv) Làm thay đổi nền đất; và

(v) Các tác nhân gây ô nhiễm dầu, hóa chất hoặc chất thải

Trong thời gian qua, rừng ngập mặn Sóc Trăng đã bị suy giảm trầm trọng Các nguyên nhân gây giảm sút tài nguyên rừng ngập mặn bao gồm (i) mở rộng diện tích nuôi tôm trong rừng ngập mặn, (ii) nhận thức yếu kém của cộng đồng về các giá trị, chức năng và thiếu các kỹ năng sử dụng bền vững, và (iii) xói

lở bờ biển Những nguyên nhân trên đây đã dẫn tới hàng loạt các hậu quả tiêu cực về môi trường và xã hội cho vùng ven biển

a) Khai phá rừng ngập mặn để nuôi tôm

Phong trào nuôi tôm trong rừng ngập mặn ở tỉnh Sóc Trăng bắt đầu năm 1987 khi ngành thủy sản mới bắt đầu xuất khẩu tôm khô và tôm đông lạnh ra thị trường của các nước

Các hình thức nuôi tôm bao gồm: quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh hay thâm canh

„Quảng canh‟ và „quảng canh cải tiến‟ là các hệ thống phổ biến cho các khu vực rừng ngập mặn Các trại nuôi trồng thủy sản được mở rộng quy mô lên đến 10 ha, với rừng được bao quanh bởi các bờ để giữ nước và cây rừng ngập mặn bị chặt để làm kênh Những mương này rộng 10 m và sâu từ 1,5-2,0 m Nước trong vuông được điều tiết bằng các cống, với 1 đến 2 cống cho mỗi ao Trong các ao với chỉ 1 cống duy nhất, nước triều vào và ra qua cùng một cống Trong các ao với 2 cống, nước triều vào qua 1 cống và ra qua 1 cống khác

Năm

Trang 30

Trong thời gian thủy triều lên vào khoảng đầu hay giữa tháng âm lịch, cống được mở ra và tôm con và

ấu trùng thủy sinh trong thiên nhiên sẽ vào trong ao qua các cống theo dòng thủy triều Sau đó cống được đóng lại và nước được giữ trong thời gian ngắn từ 30 – 45 ngày, tạo điều kiện cho tôm trưởng thành; ao hoạt động như cái bẫy, thức ăn cho sinh vật thủy sinh và tôm có sẵn trong ao Trong trường hợp các trại nuôi theo „quảng canh cải tiến‟, con giống và thức ăn được thêm vào Sau vài tuần giữ nước, khi thủy triều xuống, cống được mở ra để tháo cạn nước ra ngoài Nông dân sử dụng lưới để bắt toàn bộ tôm cá trong vuông tôm, một số nông dân tháo cạn nước trong ao sau 15 ngày để bắt toàn bộ các sinh vật thủy sinh trong vuông Họ không thể chờ cho các sinh vật thủy sinh trưởng thành, nhưng họ phải kiếm đủ tiền cho chi phí sinh hoạt của họ

Trong 2 hay 3 năm đầu sau khi rừng bị phá, những ao nuôi thuỷ sản này còn giàu chất dinh dưỡng và con giống có sẵn trong ao Khi có ít người nuôi thì lượng giống thuỷ sản tự nhiên còn phong phú, lúc đó năng suất của các ao nuôi thuỷ sản tương đối khá, mỗi ha hàng năm thu được khoảng 300 đến 400 kg Những năm sau đó, do kỹ thuật canh tác không thích hợp, nước lưu trữ trong các ao nuôi lâu ngày, các vật chất hữu cơ tích đọng ở đáy ao nuôi, môi trường nước bị ô nhiễm, nguồn giống tự nhiên bị giảm dần cùng với việc gia tăng diện tích các ao

Nhiều tác động tiêu cực kết nối với ô nhiễm môi trường và bệnh tật gây ra do thất bại của các hệ thống nuôi trồng thủy sản Với thời gian ngập úng lâu dài, thủy triều lưu thông rất hạn chế, do đó các chất hữu

cơ tích tụ ở dưới đáy và độ độc được tạo ra bởi các hoạt động nuôi trồng tác động nghiêm trọng đến cây rừng ngập mặn Chúng dần dần ngừng phát triển và cuối cùng thì chết

Vào những năm thập kỷ 90, Vĩnh Châu là một trong những huyện sử dụng nhiều diện tích đất rừng ngập mặn để nuôi tôm tại các xã ven biển Do thiếu kỹ thuật nuôi nên chỉ trong thời gian ngắn đã thất bại, mất mát rất nhiều tiền của và công lao động Một diện tích đáng kể của rừng ngập mặn bị phá, sau này trở thành đất hoang hóa với toàn bộ cây bụi thấp như lức, ô rô, cóc kèn, chà là

Cũng trong thời gian này, một số gia đình trong vùng kinh tế mới (hợp tác xã Vĩnh Phước, Vĩnh Tiến) đã

sử dụng một số đất hoang hóa hoặc rừng thứ sinh xây dựng những vuông tôm nhỏ, trung bình từ 0,5 – 3

ha với lực lượng lao động gia đình và họ cũng không nắm được kỹ thuật nuôi, không đủ vốn, hơn nữa môi trường nước có nhiều thay đổi, nên dẫn đến thất bại Phần lớn cộng đồng người dân vùng kinh tế mới còn nợ ngân hàng, do hậu quả của việc nuôi tôm không hiệu quả

Rừng rậm được coi là lý do cho sự thất bại của việc nuôi tôm, bởi vì nó sản xuất quá nhiều sinh khối, sau

đó được tích lũy ở đáy ao, làm giảm oxy và đưa độc chất vào trong nước Vì vậy, nông dân cố gắng phá rừng để có nước mặt thoáng nhiều hơn cho trang trại của họ, làm các khu rừng ngập mặn suy thoái nhanh chóng hơn

Sản lượng đánh bắt từ tự nhiên ngày một giảm nên mọi người đổ xô vào việc phá rừng để nuôi tôm Nhiều người dân địa phương đã bỏ nghề truyền thống của mình như đóng đáy, đi biển, làm rẫy để chặt cây đắp bờ nuôi tôm hoặc làm thuê cho những người nuôi tôm khác Không chỉ có dân sống trong rừng ngập mặn đào vuông nuôi tôm, mà cả các gia đình ở vùng lân cận cũng đến chiếm đất làm nhà tạm thời

để nuôi tôm trong rừng ngập mặn ven biển

Những lợi ích to lớn của nghề nuôi tôm làm những người giàu bỏ tiền ra thuê nhân công và mua cơ giới

để lập các trại nuôi tôm trong rừng ngập mặn Nhiều cơ quan chính phủ và các cá nhân được giao đất trong rừng ngập mặn và cũng đã cố gắng để chuyển đổi những vùng đất này thành các trang trại nuôi tôm hay cho thuê đất để nuôi tôm Việc giao đất để nuôi tôm thì tùy ý không theo bất kỳ phương pháp lập

kế hoạch nào Cấp huyện và thậm chí chính quyền cấp xã có thể giao đất lâm nghiệp cho nông dân mà không có bất kỳ xem xét hay đánh giá quy hoạch sử dụng đất, điều này cũng đã góp phần làm suy thoái rừng ngập mặn

Chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 1987 – 1997, diện tích ở rừng huyện Vĩnh Châu đã giảm hàng ngàn ha, chủ yếu do phá rừng nuôi tôm Một số như xã Vĩnh Phước, Lai Hòa, Vĩnh Tiến coi như đã phá hết rừng Việc phá rừng nuôi tôm như trong Hình 15 và 16 được nhận thấy phổ biến trong vùng ven biển

Ngày đăng: 26/03/2019, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w