1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

54 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một tổ chức thuộc chính phủ Đức, Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế hướng tới phát triển bền vững. GIZ đã hoạt động ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua. Thay mặt cho chính phủ Đức, GIZ cung cấp các dịch vụ tư vấn cho Chính phủ Việt Nam và hiện đang tham gia vào ba lĩnh vực ưu tiên: (i) Đào tạo Nghề; (ii) Chính sách Môi trường và Sử dụng bền vững Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên; và 3) Năng lượng. Nhà tài trợ vốn và ủy nhiệm chính của GIZ Việt Nam là Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ). Ngoài ra còn có các Bộ liên bang về Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân (BMUB), Bộ Liên bang về các vấn đề Kinh tế và Năng lượng (BMWi) và Bộ Tài chính Liên bang (BMF). GIZ Việt Nam cũng tham gia nhiều dự án do Chính phủ Úc (thông qua Bộ Ngoại giao và Thương mại DFAT) và Liên minh châu Âu đồng tài trợ cũng như hợp tác chặt chẽ với Ngân hàng phát triển Đức KfW. Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP) do hai chính phủ Đức và Úc tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam quản lý các hệ sinh thái ven biển giúp tăng khả năng phục hồi và giảm khả năng bị tổn thương nhằm bảo vệ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu. Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ cùng phối kết hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT, và các sở, ban ngành của năm tỉnh Chương trình gồm An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Sóc Trăng triển khai thực hiện Chương trình.

Trang 1

BÁO CÁO KHẢO SÁT ĐÊ

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

Trang 2

Chịu trách nhiệm xuất bản

Deutsche Gesellschaft für

Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH

Trụ sở đặt tại

Bonn và Eschborn, CHLB Đức

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP)

Tầng 9, tòa nhà Landmark , 5B, Tôn Đức Thắng, quận 1, Thành phố Hồ Chi Minh, Việt Nam

Golden Sky Co.,ltd

Tầng 5 số 6 Nguyễn Công Trứ, Hai Bà Trưng, Hà Nội

GIZ chịu trách nhiệm nội dung của ấn phẩm này.

Dưới sự ủy quyền của

Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức và Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc

Trang 3

BÁO CÁO KHẢO SÁT ĐÊ

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

Trang 5

Là một tổ chức thuộc chính phủ Đức, Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế hướng tới phát triển bền vững.

GIZ đã hoạt động ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua Thay mặt cho chính phủ Đức, GIZ cung cấp các dịch

vụ tư vấn cho Chính phủ Việt Nam và hiện đang tham gia vào ba lĩnh vực ưu tiên: (i) Đào tạo Nghề; (ii) Chính sách Môi trường và Sử dụng bền vững Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên; và 3) Năng lượng

Nhà tài trợ vốn và ủy nhiệm chính của GIZ Việt Nam là Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ) Ngoài ra còn có các Bộ liên bang về Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân (BMUB), Bộ Liên bang về các vấn đề Kinh tế và Năng lượng (BMWi) và Bộ Tài chính Liên bang (BMF) GIZ Việt Nam cũng tham gia nhiều dự án do Chính phủ Úc (thông qua Bộ Ngoại giao và Thương mại - DFAT) và Liên minh châu Âu đồng tài trợ cũng như hợp tác chặt chẽ với Ngân hàng phát triển Đức KfW

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP) do hai chính phủ Đức và Úc tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam quản lý các hệ sinh thái ven biển giúp tăng khả năng phục hồi và giảm khả năng bị tổn thương nhằm bảo vệ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ cùng phối kết hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT, và các sở, ban ngành của năm tỉnh Chương trình gồm An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Sóc Trăng triển khai thực hiện Chương trình

Để biết thêm thông tin, xin ghé thăm Website của chúng tôi www.giz.de/viet-nam và http://daln.gov.vn/

icmp-cccep.html.

GIZ tại Việt Nam

Trang 6

Danh mục hình 6

Danh mục bảng 7

Giới thiệu .8

2 Phương pháp tiếp cận và phương pháp khảo sát đê ban đầu 12

2.1 Khái quát phương pháp 13

2.2 Các nội dung chi tiết về cách thực hiện khảo sát đê 14

2.2.1 Thông tin chung và các điều kiện thanh tra 15

2.2.2 Đánh giá trực quan (báo cáo ngắn và mặt cắt ngang) 16

2.2.3 Chất liệu đắp đê – các thí nghiệm hiện trường (báo cáo mặt cắt ngang) 18

2.2.4 Các điểm cắt tuyến đê 19

2.2.5 Các quan sát/lưu ý bổ sung 19

Mục lục

Trang 7

3.3 Huyện Năm Căn – các tuyến đê sông (xã Tam Giang, Đất Mới và Lâm Hải) 25

3.3.1 Xã Lâm Hải (khảo sát đê ngày 03.01.2014 #1 - #4) 25

3.3.2 Xã Tam Giang (khảo sát đê ngày 03.01.2014 #5 - #12) 26

3.3.3 Xã Đất Mới (khảo sát đê ngày 03.01.2014) 27

3.4 Huyện Trần Văn Thời (thị trấn Sông Đốc và xã Khánh Bình Tây) 28

3.4.1 Thị trấn Sông Đốc – khảo sát đê ngày 06.01.2014 #1 - #6 28

3.4.2 Xã Khánh Bình Tây – khảo sát đê ngày 20.01.2014 #1 - #6 30

3.5 Huyện Phú Tân (thị trấn Cái Đôi Vàm) – khảo sát đê ngày 06.01.2014 #7 - #10 33

4 Các kết luận và khuyến nghị 34

Tài liệu tham khảo 37

Phụ lục A: Báo cáo khảo sát đê – báo cáo mặt cắt ngang (ở khoảng cách 2 km) 38

Phụ lục B: Báo cáo khảo sát đê – báo cáo ngắn (ở khoảng cách 100 m) 40

Phụ lục C: Báo cáo khảo sát đê – các điểm cắt tuyến đê 41

Phụ lục D: Các địa điểm được khảo sát từ tháng 11/2013 đến tháng 01/2014 42

Phục lục E: Tổng quan về các địa điểm được khảo sát trong đợt khảo sát đê ban đầu 43

Phụ lục F: Kè chắn sóng tại xã Phú Tân/Tân Hải (tại cửa xả kênh Tân Biên) 45

Phụ lục G: Kè chắn sóng tại xã Khánh Bình Tây (gần đảo Hòn Đá Bạc) 46

Phụ lục H: Kè chắn sóng tại xã Khánh Tiến 47

Phụ lục I: Cửa cống và công trình bảo vệ bằng rọ đá tại xã Khánh Tiến/Khánh Hội 48

Phụ lục J: Cửa cống xã Khánh Hội 49

Trang 8

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

Hình 1: Cấu trúc phương pháp khảo sát đê 14

Hình 2: Các định nghĩa và thuật ngữ dùng trong khảo sát đê 15

Hình 3: Lớp phủ bề mặt đê bị hư hỏng nặng (bên trái) và lớp phủ bề mặt đê bằng các tấm bê tông (bên phải) [Heiland & Schüttrumpf, 2009] 17

Hình 4: Công trình bảo vệ chân đê bằng cọc gỗ Mũi tên màu vàng: khoảng trống không có lớp phủ do xói lở [Albers & Von Lieberman, 2011] 17

Hình 5: Dụng cụ thử cắt cánh bỏ túi với bộ điều hợp CL 102 (bên trái) và dụng cụ xuyên bỏ túi (bên phải) 18

Hình 6: Nhìn dọc tuyến đê (trái) và mũi đất trước đê (phải) 22

Hình 7: Nhìn dọc tuyến đê 22

Hình 8: Khảo sát đất (bên trái) và lấy mẫu đất (bên phải) 23

Hình 9: Cửa cống được nối liền với tuyến đê (bên trái) và cửa cống nằm sâu nằm hơn trong nội địa (bên phải) 23

Hình 10: Cột mốc tại vị trí B 08°49’38.6’’ và Đ 105°18’37.0’’ (bên trái) và nhìn dọc hàng cột mốc (bên phải) 24

Hình 11: Cửa biển Hố Gùi (kênh lộ thiên) đổ ra biển 24

Hình 12: Nhìn dọc tuyến đê (03.01.2014 #2) 25

Hình 13: Nhìn từ đỉnh đê hướng ra kênh Sông Cửa Lớn (bên trái) và nhìn dọc tuyến đê (bên phải) (03.01.2014 #4) 25

Hình 14: Công trình xây dựng đê gần cầu để xây đường trên đê 26

Hình 15: Nhìn dọc tuyến đê (03.01.2014 #10 bên trái và #12 bên phải) 26

Hình 16: Cửa cống chụp từ phía trước (bên trái) và chụp từ phía sau (bên phải) (03.01.2014 #9) 27

Hình 17: Các cột mốc tại B 08°45’18.1’’ Đ 104°57’09.2’’ và các ngôi nhà xung quanh (bên trái), các trang trại nuôi trồng thủy sản gần đó (bên phải) 27

Hình 18: Tuyến kè có đường bên trên ở phía trước hàng cột mốc cạnh con kênh 28

Hình 19: Nhìn dọc tuyến đê (06.01.2014 #1 bên trái và #5 bên phải) 28

Hình 20: Cây nằm trên sườn đê có rễ cây bị phơi lộ (bên trái) và hố lõm trên sườn đê (bên phải) 29

Danh mục hình ảnh

Trang 9

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

7

Bảng 1: Các địa điểm khảo sát đê ban đầu ở tỉnh Cà Mau 21

Bảng 2: Các địa điểm được khảo sát trong đợt khảo sát đê ban đầu ở tỉnh Cà Mau 43

Danh mục bảng Hình 25: Lớp phủ bằng các tấm bê tông trên đỉnh đê và sườn đê phía biển (bên trái) và các yếu tố không có độ gồ ghề trên sườn đê phía biển (bên phải) 31

Hình 26: Cơ đê phía biển bị lún xuống và bị ứ đọng nước 32

Hình 27: Hai đầu của công trình đê gần đảo Hòn Đá Bạc 32

Hình 28: Nhìn dọc tuyến đê (06.01.2014 #9 bên trái và #7 bên phải) 33

Hình 29: Kè chắn sóng tại cửa xả kênh Tân Biên giữa hai xã Phú Tân và Tân Hải 45

Hình 30: Khu vực xung quanh kè chắn sóng tại cửa xả kênh Tân Biên giữa hai xã Phú Tân và Tân Hải 45 Hình 31: Kè chắn sóng tại xã Khánh Bình Tây gần đảo Hòn Đá Bạc 46

Hình 32: Khu vực xung quanh kè chắn sóng tại xã Khánh Bình Tây gần đảo Hòn Đá Bạc 46

Hình 33: Kè chắn sóng tại xã Khánh Tiến 47

Hình 34: Khu vực xung quanh kè chắn sóng thuộc xã Khánh Tiến 47

Hình 35: Cửa cống thuộc xã Khánh Tiến/Khánh Hội: nhìn về phía nội địa (bên trái) và nhìn về phía biển (bên phải) 48

Hình 36: Công trình bảo vệ bằng rọ đá tại cửa cống thuộc xã Khánh Tiến/Khánh Hội 48

Hình 37: Công trình bảo vệ bằng rọ đá tại cửa cống xã Khánh Tiến/Khánh Hội và tuyến kè chắn sóng được nối liền 49

Hình 38: Cửa cống thuộc xã Khánh Hội: nhìn về phía nội địa 49

Hình 39: Cửa cống thuộc xã Khánh Hội 49

Trang 10

01 01 01Giới thiệu

Trang 11

Do các điều kiện địa lý giáp ranh của mình, tỉnh Cà Mau, một tỉnh cực nam của Tổ quốc, được báo cáo là cực kỳ dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu, đặc biệt là trước các tác động của mực nước biển dâng Tỉnh có ba mặt giáp biển (Biển Đông và vịnh Thái Lan) là phía Đông, Nam và Tây, với chiều dài đường

bờ biển là 254 km 87 cửa sông đổ ra biển, trong đó có 7 cửa sông lớn (Gành Hào, Bồ Đề, Rạch Gốc, Ông Trang, Cái Đôi Vàm, Sông Đốc, Khánh Hội) Toàn bộ hơn 10,000 km sông, kênh, đào chịu ảnh hưởng bởi thủy triều của biển Đông và biển Tây Ngoài ra, toàn tỉnh chỉ nằm trên mực nước biển có vài mét, một số vùng rộng lớn thậm chí chỉ trên mực nước biển 1 hoặc 2 mét Sự kết hợp của các điều kiện này và các yếu tố khác nữa khiến cho tỉnh Cà Mau rất dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu

Hệ thống đê biển của tỉnh Cà Mau bao gồm hai phần – đê biển Đông và đê biển Tây Dự án xây dựng đê biển Đông (từ sông Gành Hào đến sông Bảy Háp) đã được phê duyệt và hiện nay công tác giải phóng mặt bằng đang được thực hiện Tuyến đê có tổng chiều dài 76 km với đỉnh đê cao 3,20 m được nhắm đến

Đê biển Tây đã được xây dựng cách đây vài năm Một dự án nâng cấp đê hiện đang trong giai đoạn quy hoạch giải phóng mặt bằng Như đã xác định trong khuôn khổ dự án, đê biển Tây kéo dài từ sông Bảy Háp đến sông Tiểu Dừa với tổng chiều dài tuyến đê là 108 km và độ cao dự kiến của đỉnh đê là 3,00 m

Bên cạnh hệ thống đê biển, tỉnh Cà Mau còn có ba cấp độ đê sông: đê sông trên các con sông lớn do chính phủ cấp kinh phí, đê sông trên các con kênh nhỏ hơn do các huyện/xã làm chủ sở hữu và các bờ

kè tư nhân trên các con sông để bảo vệ các trang trại nuôi trồng thủy sản Trong phần dưới đây, chỉ đề cập đến các tuyến đê sông gần kênh sông Cửa Lớn

Trang 12

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

Gió to và sóng lớn do bão và áp thấp nhiệt đới gây ra làm xói lở nghiêm trọng các khu rừng phòng hộ ở phía trước các tuyến đê biển hoặc, nếu rừng phòng hộ không thể phát huy được chức năng của nó thì

sẽ dẫn đến xói lở đê Ngoài ra, các yếu tố khác, như các tác động của con người hoặc thảm thực vật trên

đê, đều có thể đe dọa đến hệ thống đê

Nhưng hiện chưa có bản đồ về hiện trạng hệ thống đê tỉnh Cà Mau và vị trí chính xác (dựa trên GPS) của các tuyến đê hiện cũng chưa có Ngoài ra, hiện trạng đê thì không rõ ràng Để cải thiện tình hình này

và cung cấp các thông tin cần thiết cho việc xác định mức ưu tiên đối với các công trình gia cố và xây dựng đê, một phương pháp thanh tra các tuyến đê của tỉnh Cà Mau đã được xây dựng và áp dụng tại một vài nơi Phương pháp khảo sát đê này và các kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu được trình bày trong phần dưới đây

Trang 14

02 02 02 Phương pháp tiếp cận

và phương pháp khảo sát đê ban đầu

Trang 15

Với mục đích phân tích hiện trạng hệ thống đê tỉnh Cà Mau, cần phải xây dựng một phương pháp khảo sát đê đơn giản nhưng hiệu quả Các đặc điểm chính của phương pháp thanh tra này là:

l Thu thập được các thông tin có liên quan về hình dạng và hiện trạng của các tuyến đê;

l Nhanh chóng, đơn giản và hiệu quả kinh tế;

l Dễ học hỏi, kể cả đối với các cán bộ không có nhiều chuyên môn kỹ thuật;

l Được điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện hoàn cảnh của tỉnh Cà Mau

Cuối cùng, đã xây dựng được một phương pháp tiếp cận giúp có được cái nhìn tổng quan về hệ thống

đê thông qua việc xem xét các vấn đề sau đây:

l Hiện nay, hệ thống đê ở tỉnh Cà Mau không thể chia thành các đoạn vì các đặc điểm của đê cứ

ít nhất vài trăm mét lại có thay đổi;

l Các tuyến đê không được sửa chữa và bảo trì một cách thường xuyên và các hư hỏng nhẹ hơn hoặc các mối đe dọa khác (các hố lõm, hố đào) cứ vài mét lại xuất hiện Đặc biệt, tình trạng xói lở và các loài thực vật không chỉ xuất hiện rải rác trên đê, mà còn tiếp diễn với các khoảng cách dài hơn

Vì những lý do này mà đã tiến hành xây dựng một phương pháp thanh tra, bao gồm các lần khảo sát

đê với các khoảng cách được xác định trước thông qua việc sử dụng các check-list Một đợt khảo sát đê, trong đó mỗi quan sát riêng lẻ sẽ được báo cáo cụ thể, thì chưa thực sự khả thi và không được khuyến nghị cho tỉnh Cà Mau để xem xét hiện trạng của hệ thống đê

Phương pháp khảo sát đê được xây dựng bao gồm các phân tích trực quan về đê và tài liệu hóa các kết quả phân tích, xây dựng tài liệu hình ảnh và các thí nghiệm địa chất tại hiện trường Phương pháp tiếp cận này dễ học và thực hành, kể cả đối với những cán bộ không có nhiều kiến thức chuyên môn hoặc kinh nghiệm Có ba mẫu báo cáo khác nhau được sử dụng để phân tích và đánh giá hệ thống đê:

2.1 Khái quát phương pháp

Trang 16

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

l Báo cáo khảo sát đê – báo cáo mặt cắt ngang (ở các khoảng cách 2 km) [xem Phụ lục A];

l Báo cáo khảo sát đê – biên bản ngắn (ở các khoảng cách 100 m) [xem Phụ lục B];

l Báo cáo khảo sát đê – các điểm cắt trên tuyến đê [xem Phụ lục C]

Các mẫu báo cáo này bao gồm các thông tin khái quát về các điều kiện khảo sát và đội khảo sát, các check-list giúp đánh giá và báo cáo về hiện trạng đê, tài liệu về các kết quả thí nghiệm hiện trường (trong trường hợp báo cáo mặt cắt ngang) và các quan sát hoặc lưu ý khác Các báo cáo này được sử dụng trên hiện trường trong sự kết hợp với một tài liệu hình ảnh Việc số hóa các kết quả được nhắm đến thông qua việc tích hợp các kết quả vào trong hệ thống GIS và tạo ra các bản đồ ví dụ như về các điểm nóng xói lở đê hoặc thảm thực vật

2.2 Các nội dung chi tiết về cách thực hiện khảo sát đê

Biên bản ngắn được thực hiện cho các khoảng cách 100 m, báo cáo mặt cắt ngang được thực hiện cho các khoảng cách 2 km Mẫu báo cáo cho các điểm cắt tuyến đê được sử dụng trong trường hợp ví dụ có cửa cống hoặc kênh lộ thiên Sự lựa chọn phương pháp tiếp cận này được liên kết với khảo sát địa hình

đê được dự kiến thực hiện trong tương lai gần Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8481:2010 “Công trình

đê điều – Yêu cầu về thành phần và khối lượng khảo sát địa hình”, một cuộc khảo sát địa hình của hệ thống đê bao gồm một mặt cắt ngang cho các khoảng cách 2 km và thêm 3 điểm khảo sát ở các khoảng cách 50 m (một điểm trên đỉnh đê, một điểm tại mỗi bên chân đê) Việc điều chỉnh phương pháp khảo sát đê cho phù hợp với các tiêu chuẩn này cho phép kết hợp khảo sát đê với khảo sát địa hình Một biên bản ngắn được lựa chọn cho các điểm ở khoảng cách 100 m, một mẫu báo cáo chi tiết cho các mặt cắt ngang nhằm điều chỉnh lượng thời gian thanh tra cho phù hợp với việc khảo sát trên cạn Hình 1 minh họa cấu trúc của phương pháp khảo sát đê được xây dựng

Hình 1: Cấu trúc phương pháp khảo sát đê

Trang 17

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

15

Hình 2: Các định nghĩa và thuật ngữ dùng trong khảo sát đê

Trong phần dưới đây sẽ giải thích chi tiết hơn về các mẫu báo cáo thanh tra Các định nghĩa và thuật ngữ

có liên quan được sử dụng trong khảo sát đê được minh họa trong Hình 2

Các thiết bị cần thiết khi khảo sát đê là: thiết bị GPS, một máy ảnh (nếu có thể thì loại có gắn GPS), một thước mét dây, dụng cụ xuyên bỏ túi và dụng cụ thử cắt cánh bỏ túi, xẻng, các biên bản khảo sát đê (3 loại), giấy dự phòng và bút viết

2.2.1 Thông tin chung và các điều kiện thanh tra

Mỗi mẫu biên bản bao gồm các thông tin chung và các điều kiện thanh tra Phần này giúp tài liệu hóa:

l Tên của người khảo sát và cơ quan/chức vụ của (những) người khảo sát trong trường hợp có thắc mắc về sau này;

l Ngày tháng và thời gian thanh tra (quan trọng khi khớp nối các bức ảnh nếu chúng bị xáo trộn), số địa điểm được thanh tra;

Trang 18

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

l Vị trí địa lý của địa điểm: số liệu GPS trên đỉnh đê, ví dụ 8°55’10”B, 105°22’32”Đ hoặc định dạng UTM 541288,18; 985967,18; Các tọa độ có dạng WGS84, UTM Zone 48N (EPSG: 32648);

l Thời tiết trong thời gian thanh tra tại vị trí này (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang); quan trọng

vì thời tiết có thể ảnh hưởng đến các thí nghiệm hiện trường;

l Có chụp ảnh hiện trường không như là một lời nhắc nhở để hoàn thiện tài liệu ảnh

Bức ảnh đầu tiên nên chụp công cụ GPS đưa ra thông tin vị trí GPS chính xác để cho phép sự tương quan của các bức ảnh về sau này Chụp thêm các bức ảnh ở phần giữa đỉnh đê theo các hướng khác nhau, nghĩa là bắt đầu với tầm nhìn hướng ra biển và sau đó tiếp tục xoay 90° theo chiều kim đồng hồ để chụp ảnh Theo đó, mỗi địa điểm sẽ tiến hành chụp 5 bức ảnh Cố gắng tránh có hình người trong ảnh Tài liệu ảnh cho phép có cái nhìn về địa điểm được khảo sát về sau này và kiểm tra xem, ví dụ phạm vi của thảm thực vật Đối với các điểm cắt trên tuyến đê (cửa cống, các kênh lộ thiên), sẽ tiến hành chụp 2 bức ảnh (xem ví dụ Hình 16): một ảnh chụp hướng ra biển (nghĩa là đằng sau công trình), một ảnh chụp hướng về phía nội địa (nghĩa là phía trước công trình) Các bức ảnh được chụp mà không sử dụng tính năng phóng to

2.2.2 Đánh giá trực quan (báo cáo ngắn và mặt cắt ngang)

Các thông tin cơ bản có liên quan về hiện trạng đê và vùng xung quanh đê được thu thập trong quá trình đánh giá trực quan Một giúp tổ khảo sát đi qua các điểm khác nhau cần được phân tích Để tránh

bỏ xót các quan sát, đỉnh đê, sườn đê và các đoạn chuyển tiếp cần được phân tích bằng cách nhìn chi tiết vào mỗi phần (tránh chỉ đứng ở giữa đỉnh đê) Không đưa phần đánh giá các chỗ bị hư hỏng hoặc các quan sát bổ sung vào trong các mẫu báo cáo vì cần phải có kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm mới thực hiện được công việc như đánh giá sự nguy hiểm của các vết nứt hiện có hoặc tình trạng xói lở Các khía cạnh sau đây cần được phân tích về tình trạng tồn tại và/hoặc vị trí của chúng:

l Xói lở/các hố xói (Hình 4 và Hình 20): Xói lở hoặc các hố xói có thể xảy ra trên sườn đê phía biển cũng như là trên đỉnh đê hoặc sườn đê phía đất liền Có thể có các nguyên nhân khác nhau như xói lở do mưa, lũ lụt hoặc các hố lõm do cây bị bật gốc hoặc các yếu tố không ổn định của đê

l Các loài thực vật mọc trên/trong đê (Hình 28): Các loài thực vật có thể tác động tiêu cực đến tính ổn định của đê và sự xuất hiện của các loài thực vật này trên đê cần được đánh giá cẩn thận Tất cả các loài thực vật (cây cối, cây bụi, hoa, cỏ cao, v.v… ngoại trừ cỏ thấp và cỏ dại) cần được báo cáo cụ thể

l Rễ cây lẫn trong nguyên liệu đắp đê (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang): Rễ cây lẫn trong nguyên liệu đắp đê có thể quan sát được rõ nhất trong các hố lõm mới hoặc các hố đào mới (ví

dụ trong các hố thực hiện thí nghiệm hiện trường)

l Động vật đào hang: Các loài động vật, như chuột, có thể đào hang trong đê, đào lỗ và điều đó làm giảm tỉnh ổn định của đê

l Lớp phủ bề mặt đê (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang) (Hình 3): Các lớp phủ bề mặt đê thông thường là các lớp đá dăm và các tấm bê tông hoặc thép Ngoài ra trồng cỏ để bảo vệ đê khói xói lở và cũng được xem như một lớp phủ bề mặt đê

l Công trình bảo vệ chân đê (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang) (Hình 4): ví dụ lớp phủ rải đá,

Trang 19

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

17

l Đất phía trước đê: rừng ngập mặn, đất trống, nhà cửa, nuôi trồng thủy sản hoặc các mục đích

sử dụng khác

Ngoài ra, các giá trị hình học sau đây cần được đo lường/ước tính:

l Chiều rộng đỉnh đê: được đo bằng thước mét dây;

l Khoảng cách giữa chân đê phía biển và đai rừng ngập mặn (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang): ước tính;

l Khoảng cách giữa chân đê phía đất liền và công trình sử dụng đất (chỉ trong báo cáo mặt cắt ngang): ước tính

Hình 3: Lớp phủ bề mặt đê bị hư hỏng nặng (bên trái) và lớp phủ bề mặt đê bằng các tấm bê

tông (bên phải) [Heiland & Schüttrumpf, 2009]

Hình 4: Công trình bảo vệ chân đê bằng cọc gỗ Mũi tên màu vàng: khoảng trống không có lớp

phủ do xói lở [Albers & Von Lieberman, 2011]

Trang 20

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

2.2.3 Chất liệu đắp đê – các thí nghiệm hiện trường (báo cáo mặt cắt ngang)

Cứ 2 km (cho mỗi báo cáo mặt cắt ngang) lại tiến hành các thí nghiệm thực địa để xác định các thông số

cơ học đất của nguyên liệu đắp đê và thu thập các thông tin về cường độ của nó Dụng cụ xuyên bỏ túi

và dụng cụ thử cắt cánh bỏ túi được sử dụng trong các thí nghiệm này Các thí nghiệm sẽ được thực hiện trên đỉnh đê hoặc, nếu không thể thực hiện được ở đó, thì thực hiện trên sườn đê phía đất liền Chọn cẩn thận vị trí đo để tránh sỏi hoặc các bề mặt cứng khác ảnh hưởng đến việc đo lường Các phép đo phải được thực hiện trong các mẫu “mới” hoặc các bề mặt bị cắt vì việc đất bị phơi khô sẽ ảnh hưởng đến các kết quả, nghĩa là đào một cái hố sâu ít nhất 10 cm trong trường hợp không có các hố lõm mới Khu vực thí nghiệm phải bằng phẳng Sau khi thanh tra xong, lấp và đầm chặt tất cả các hố đào

Các thí nghiệm với dụng cụ xuyên bỏ túi (xác định cường độ kháng nén không hạn chế nở hông [kg/cm²]): Di chuyển vòng tròn màu đỏ về vị trí đối diện với thân xuyên (theo hướng đọc thấp nhất trên thang điểm) Giữ chắc dụng cụ và đẩy với một lực không đổi vào trong đất đến đường rãnh hiệu chuẩn

ở vị trí 6,35 mm (¼”) so với đầu Đọc trực tiếp cường độ kháng nén không hạn chế nở hông [kg/cm²] ở đầu chịu tải thấp hơn của vòng tròn đỏ gần đầu tay cầm nhất

Dụng cụ thử cắt cánh bỏ túi (xác định cường độ kháng cắt [kg/cm²]): Di chuyển kim báo ngược chiều kim đồng hồ về 0 để thiết lập lại thiết bị Chọn một bề mặt phẳng vừa phải (có đường kính ít nhất là 25 mm) Sử dụng cánh cắt đất to (0,2 kg/cm²) cho các mẫu dẻo/mềm, cánh cắt nhỏ (2,5 kg/cm²) cho đất sét cứng hoặc tương tự thế Ấn cánh cắt xuống đất đến độ sâu thí nghiệm Xoay cánh cắt đất theo chiều kim đồng hồ với một áp lực dọc không đổi sao cho đất vỡ trong khoảng 5 đến 10 giây (cánh cắt tiếp tục quay khi đất vỡ) Để ý rằng kim báo không bị ảnh hưởng bởi việc quay cánh cắt của bạn Đọc giá trị

từ kim báo (kim báo sẽ vẫn ở vị trí đo cho đến khi nó được thay đổi vị trí bằng tay) Cường độ kháng cắt [kg/cm²] được xác định với các biểu đồ chuyển đổi đi kèm với thiết bị đo Ghi chép lại số bộ điều hợp, giá trị đọc và cường độ kháng cắt

Hình 5: Dụng cụ thử cắt cánh bỏ túi với bộ điều hợp CL 102 (bên trái) và

dụng cụ xuyên bỏ túi (bên phải)

Trang 21

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

19

2.2.4 Các điểm cắt tuyến đê

Các điểm cắt tuyến đê có thể là các điểm yếu của hệ thống đê và cần đặc biệt chú ý Các điểm cắt tuyến

đê phổ biến nhất ở tỉnh Cà Mau là các cửa cống và kênh lộ thiên Với mục đích lập bản đồ hệ thống đê,

vị trí và hiện trạng của các điểm cắt tuyến đê cần được chú ý Do vậy, việc khảo sát đê bao gồm một mẫu báo cáo để thu thập các thông tin về các điểm cắt tuyến đê Mẫu báo cáo này phân biệt giữa các công trình trong/trên đê và các kênh lộ thiên xuyên qua đê và bao gồm việc kiểm tra các điểm sau đây: Đối với các công trình trên/trong đê:

l loại: cống, cửa xả, trạm bơm, v.v…;

l chiều rộng của công trình: đo lường;

l các thiệt hại có thể nhìn thấy được;

l các hố xói có thể nhìn thấy được;

l bờ kênh bị xói lở mạnh;

l các công trình bảo vệ được xây dựng

Đối với các kênh lộ thiên xuyên qua đê:

l chiều rộng của kênh: ước tính;

l bờ kênh bị xói lở mạnh;

l các công trình bảo vệ được xây dựng

2.2.5 Các quan sát/lưu ý bổ sung

Một phần về các quan sát và lưu ý bổ sung được bao gồm trong mỗi biên bản Cần ghi chép lại các thông tin liên quan về đê và khu vực xung quanh đê mà trong biên bản không đề cập đến, như là:

l xói lở hoặc các kiểu thực vật, nguy cơ cây bị bật rễ;

l các thông số kỹ thuật về việc sử dụng đê hoặc mũi đất (ví dụ bờ kè khu nuôi trồng thủy sản ở trên đỉnh đê);

l nếu rãnh phía trước đê được dùng làm kênh mương hoặc dùng cho nuôi trồng thủy sản;

l các đánh giá về nguyên liệu đắp đê (thí nghiệm ngón tay, các vết nứt quan sát được và độ sâu của các vết nứt, v.v…);

l thông tin thu thập được từ người dân địa phương;

l các vấn đề phát sinh trong quá trình khảo sát đê (ví dụ lý do tại sao không thực hiện được các thí nghiệm hiện trường, tại sao không đo được chiều rộng của đỉnh đê, v.v…)

Trang 22

03 03 03 Khảo sát đê ban đầu ở tỉnh Cà Mau

và các kết quả thanh tra

Trang 23

Đã đến thăm một vài địa điểm của tỉnh Cà Mau để tiến hành khảo sát đê ban đầu và sử dụng phương pháp khảo sát đê trình bày trong chương 2 nếu có thể Bảng 1 khái quát các khu vực khảo sát, ngày tháng

và thành phần tham gia Một bản đồ đánh dấu các địa điểm được khảo sát trình bày trong Phụ lục D

Bảng 1: Các địa điểm khảo sát đê ban đầu ở tỉnh Cà Mau

Huyện Xã Ngày tháng Số biên bản Thành phần tham gia

Nam, Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, GIZ

1 Ông Thời ( Cán bộ kỹ thuật Ban quản lý đê – Chi cục Thủy lợi), Ông Diện (Cán bộ kỹ thuật – Chi cục Thủy lợi)

2 Ông Diện (Cán bộ kỹ thuật Chi cục Thủy lợi)

Trang 24

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

Các địa điểm được khảo sát và các kết quả khảo sát đê được trình bày trong các phần dưới đây Các kết quả dưới dạng các báo cáo (Phục lục A đến C) đã được số hóa bằng cách sử dụng các bảng Microsoft Excel bao gồm các vị trí GPS chính xác của các địa điểm Tài liệu ảnh được xử lý tiếp và lưu trữ theo số biên bản

3.1 Huyện U Minh (xã Khánh Tiến) – khảo sát đê ngày

27.11.2013

Đoạn đê được khảo sát tại xã Khánh Tiến nằm một phần ở phía bắc kênh Hương Mai và là một phần của

đê biển Tây Việc khảo sát đê tại địa điểm này được thực hiện với một đội đông hơn bao gồm một đội khảo sát đất và các cán bộ kỹ thuật lấy mẫu đất Hình 6 (bên trái) là hình ảnh tuyến đê Đỉnh đê không được lát hoặc phủ cỏ/thực vật Thảm thực vật xuất hiện bên sườn đê phía biển và phía đất liền và cây cối xuất hiện ở đoạn chuyển tiếp từ sườn đê sang đỉnh đê Ở phía trước đê, có thể nhìn thấy các hộ gia đình sống rải rác và một rãnh lớn được tạo ra do đào đất lấy nguyên liệu đắp đê và hiện đang được dùng làm kênh cho tàu thuyền qua lại (Hình 6 bên phải) Một khu rừng ngập mặn nằm ở giữa kênh này và biển Khu vực nội địa được sử dụng bởi các trang trại nuôi trồng thủy sản tư nhân nằm ngay dưới chân đê

Đi dọc theo tuyến đê vài trăm mét, hình dạng của đê thay đổi và trở nên lộn xộn hơn (xem Hình 7) Ở đó, có thể nhìn thấy thảm thực vật trên đỉnh đê và đoạn chuyển tiếp giữa đỉnh đê và sườn đê khó xác định hơn

Hình 6: Nhìn dọc tuyến đê (trái) và mũi đất trước đê (phải)

Hình 7: Nhìn dọc tuyến đê

Biển Nội địa

Trang 25

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

23

Khảo sát trên cạn được tiến hành theo các tiêu chuẩn Việt Nam bởi một cán bộ khảo sát đất và những người hỗ trợ Mặt cắt ngang của địa điểm khảo sát được đo lường Một mốc quốc gia gần đó giúp tham khảo các độ cao đo được với chiều cao tham chiếu Ngoài ra, các mẫu nguyên liệu đắp đê được lấy để phân tích trong phòng thí nghiệm theo các Tiêu chuẩn Việt Nam Hình 8 là khảo sát đất theo mặt cắt ngang (trái) và quy trình lấy một mẫu đất (phải) Các kết quả đầu tiên của việc khảo sát trên cạn cho thấy rằng đỉnh đê bị lún xuống khoảng 1 m (chiều cao thiết kế ban đầu là 2,5 m, nhưng bây giờ đỉnh đê nằm

ở độ cao 1,5 m) Các kết quả chi tiết được trình bày trong báo cáo có liên quan của Phân viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam (SIWRP) Một thí nghiệm ngón tay về nguyên liệu đắp đê do một chuyên gia thực hiện cho thấy rằng người ta đã sử dụng nguyên liệu thích hợp để đắp đê (hỗn hợp, hoặc đất sét, bùn và cát) Sự phân bố kích thước hạt cũng như là các thông số cơ học đất khác như các giới hạn Atterberg của dung trọng khô được trình bày trong báo cáo của SIWRP

Bên cạnh đoạn đê được mô tả, cũng đã tiến hành khảo sát tại cửa cống đóng mở kênh Hương Mai (xem Hình

9 bên trái) Cửa cống này được nối liền với tuyến đê và do vậy giúp bảo vệ vùng nội địa khỏi lũ lụt Tuy nhiên, đoạn đê bên cạnh cống đã bị lún xuống vì thế thời gian gần đây nước chảy tràn qua đê (xem báo cáo của SIWRP về các kết quả khảo sát trên cạn khu vực xung quanh cửa cống) Một cửa cống mới đang được xây dựng phía sâu hơn trong nội địa (xem Hình 9 bên phải) Cửa cống này vẫn chưa được nối với tuyến đê

Hình 8: Khảo sát đất (bên trái) và lấy mẫu đất (bên phải)

Hình 9: Cửa cống được nối liền với tuyến đê (bên trái) và cửa cống sâu hơn

trong nội địa (bên phải)

Trang 26

Báo cáo khảo sát đê

Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

xã Tam Giang Đông) – khảo sát đê ngày 02.01.2014

Tại huyện Đầm Dơi vẫn chưa xây dựng đê biển Có thể thấy một đai rừng ngập mặn rộng (khoảng 3 km) được chia thành các khu rừng phòng hộ (cho phép nuôi trồng thủy sản và khai thác) và các khu rừng ngập mặn xung yếu (không có người dân sinh sống, cấm khai thác) Ranh giới giữa hai khu vực rừng này được đánh dấu bằng các cột mốc (cứ 500 m lại có một cột mốc, xem Hình 10, số liệu GPS và một bản đồ do Sở NN&PTNT cung cấp) Khoảng 1 km rừng ngập mặn nằm phía trước hàng cột mốc Khuyến nghị nên xây một tuyến đê trong nội địa từ hàng cột mốc (cho phép khai thác rừng ngập mặn ở đó) Nguyên liệu đắp đê sẽ được lấy từ các khu vực gần đó (ví dụ đất phơi khô từ việc nạo vét các con kênh) Hàng cột mốc bị chắn bởi rừng ngập mặn và rất khó tiếp cận; các khảo sát bổ sung (đặc biệt là các thí nghiệm hiện trường) không có nhiều ý nghĩa/không thể thực hiện

Một công trình thủy lợi ở phía trước rừng phòng hộ được Sở NN&PTNT nhắm đến để chống xói lở và hỗ trợ phục hồi rừng ngập mặn Tuy nhiên, nhiều vụ chặt phá rừng ngập mặn vẫn diễn ra Lũ lụt thường xuyên xảy

ra (khoảng gần 2 lần một năm) Gần khu vực được khảo sát, có một kênh lộ thiên (Sông Hố Gùi) với chiều rộng hơn 20 m (xem Hình 11) Vì không có cửa cống đóng mở kênh, nên một trận lũ có thể di chuyển vào sâu trong nội địa mà không bị cản trở gì kể cả khi có một tuyến đê

Hình 10: Cột mốc tại vị trí B 08°49’38.6’’ và Đ 105°18’37.0’’ (bên trái) và

nhìn dọc hàng cột mốc (bên phải)

Hình 11: Cửa biển Hố Gùi (kênh lộ thiên) đổ ra biển

Trang 27

Báo cáo khảo sát đê Kết quả của đợt khảo sát đê ban đầu tại tỉnh Cà Mau

25

3.3 Huyện Năm Căn – các tuyến đê sông (xã Tam Giang, Đất Mới

và Lâm Hải)

3.3.1 Xã Lâm Hải (khảo sát đê ngày 03.01.2014 #1 - #4)

Trong khoảng cách 200 đến 300 m từ kênh Sông Cửa Lớn, đê sông tại xã Lâm Hải nằm gần cây cầu được xây tạm kết nối huyện Ngọc Hiển với phần còn lại của tỉnh Cà Mau Ở một số nơi, trên đỉnh đê xuất hiện nhiều loài thực vật (xem Hình 12), ở các nơi khác, các bờ kè của khu nuôi trồng thủy sản bao quanh đỉnh

đê (xem Hình 13) Một rãnh đào (không được sử dụng) nằm ở phía trước đê, sau đó đến rừng ngập mặn

Hình 13: Nhìn từ đỉnh đê hướng ra kênh Sông Cửa Lớn (bên trái) và

nhìn dọc tuyến đê (bên phải) (03.01.2014 #4) Hình 12: Nhìn dọc tuyến đê (03.01.2014 #2)

Ngày đăng: 26/03/2019, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w