Nghiên cứu về kiến thức, thái độ thực hành ATTP của học sinh về thực ăn đường phố. Gòm điều kiện cơ sở, trang thiết bị, con người trực tiếp chế biến, kiến thức chọn thực phẩm an toàn. Nghiên cứu dựa trên tì liệu chuẩn của cục An toàn thực phẩm
Trang 1KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM THỨC ĂN ĐƯỜNG PHỐ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TIỀN GIANG NĂM 2018
Hồ Văn Son
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tình trạng ô nhiễm thực phẩm thức ăn đường phố (TĂĐP) hiện nay là vấn đề
được toàn xã hội quan tâm TĂĐP là loại hình được học sinh ưa chuộng sử dụng, nếu đối tượng này không có kiến thức và thực hành tốt trong việc sử dụng TĂĐP thì sẽ có nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm rất cao
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ học sinh Trung học cơ sở (THCS) tại huyện Tân Phú Đông có kiến
thức đúng, thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố và các yếu tố liên quan đến kiến thức
và thực hành của học sinh
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 580 học sinh các khối lớp 6,
7, 8, 9 trên địa bàn huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang, từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018,
Kết quả: Tỉ lệ học sinh đã từng tiếp cận các thông tin về an toàn thực phẩm là 79,4% Kết
quả có 20,86% các em có kiến thức đúng về TĂĐP, thực hành chung đúng về TĂĐP đạt 21,38% Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính với kiến thức đúng và thực hành đúng về thức ăn đường phố Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số tiền các em được cho hàng tuần, giữa việc tiếp cập thông tin ATTP, giữa tiếp cận qua kênh trực tiếp với kiến thức và thực hành về sử dụng TĂĐP Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về sử dụng TĂĐP (PValue<0,05).
Kết luận: Tỉ lệ học sinh có kiến thức và thực hành đúng về sử dụng TĂĐP chưa cao Cần
tăng cường các hoạt động truyền thông về ATTP đặc biệt là các lợi ích và tác hại của TĂĐP nhằm nâng cao kiến thức, thực hành của học sinh.
Từ khóa: kiến thức, thực hành, thức ăn đường phố, học sinh, Tân Phú Đông, Tiền Giang.
ABSTRACT
KNOWLEDGE AND PRACTICES OF FOOD SAFETY ACTIONS OF BASIC UNIVERSITY STUDENTS
IN TAN PHU DONG DISTRICT, TIEN GIANG PROVINCE 2018
Hồ Văn Son*
Background: The current food contamination of street food is a matter of concern to the
whole society Street food is the preferred form of food for students, and if they do not have good knowledge and practice in the use of street food, there is a high risk of food poisoning.
Objectives: To determine the percentage of secondary school pupils in Tan Phu Dong
district having correct knowledge, proper practice in using street food and factors related to their knowledge and practice.
Methods: Cross-sectional study of 580 students in grades 6, 7, 8, 9 in Tan Phu Dong
district, Tien Giang province, from March 1818 to September,
Results: The percentage of students who had access to food safety information was 79.4%.
As a result, 20.86% of children have correct knowledge about street food, the correct practice of street food is 21.38% There was no statistically significant association between age group, sex and correct knowledge and street food practices There was a statistically significant relationship between the amount of money given weekly, between access to food safety information, direct access to the channel and the knowledge and practice of using street food There was a statistically significant correlation between correct knowledge and proper use of street food (PValue <0.05).
Conclusion: The percentage of students with proper knowledge and practice on using
street food is not high It is necessary to strengthen communication activities on food safety, especially the benefits and harms of street food to improve the knowledge and practice of students.
Trang 2Keywords: knowledge, practice, street food, students, Tan Phu Dong, Tien Giang.
_
* Trung tâm Y tế huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang
Tác giả liên lạc: CN Hồ Văn Son, ĐT: 0916 195 936 Email: cnsontpd@gmail.com
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Thức ăn đường phố tiềm ẩn những nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của người sử dụng Học sinh là nhóm đối tượng có nguy cơ ngộ độc thực phẩm do TAĐP rất cao do đối tường này thường xuyên sử dụng TAĐP, đặc biệt hơn
là nguy cơ ngộ độc tập thể khi cùng sử dụng thực phẩm ô nhiễm
Tại huyện Tân Phú Đông, loại hình TAĐP đang phát triển nhanh, đặc biệt là một
số cá nhân kinh doanh TAĐP từ các huyện lân cận đến buôn bán trước cổng trường học, việc kiểm soát chấ lượng thực phẩm vẫn chưa chặt chẽ nên nguy cơ tiềm ẩn là rất lớn
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để xác định tỷ lệ học sinh Trung học cơ
sở (THCS) tại huyện Tân Phú Đông có kiến thức đúng, thực hành đúng về sử dụng thức
ăn đường phố và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của học sinh nhằm giúp ngành y tế địa phương có cơ sở xây dựng các can thiệp phù hợp để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm TĂĐP tuổi học đường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ em tại địa phương
Mục tiêu nghiên cứu
1 Xác định tỷ lệ học sinh THCS tại huyện Tân Phú Đông có kiến thức đúng, thực hành đúng về sử dụng TAĐP;
2 Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về sử dụng TAĐP của học sinh THCS tại huyện Tân Phú Đông
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: học sinh THCS năm học 2017 – 2018 tại các trường trên địa
bàn huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 580 học sinh các
khối lớp 6, 7, 8, 9 trên địa bàn huyện
Cỡ mẫu: Sử dụng công thức tính như sau:
Tỉ lệ học sinh có thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố 51% (6), chọn e=5% là sai số mong muốn, Z là giá trị mong muốn với độ tin cậy đòi hỏi, chọn độ tin cây 95% thì Z2(1-α/2)=1,96, hệ số thiết kế (HSTK) là 1,5 Cở mẫu theo công thức là 575 người, làm tròn 580 người
Phương pháp chọn mẫu: Huyện Tân Phú Đông có 6 xã, mỗi xã đều có 01 trường THCS Tiến hành phân bố mẫu cho mỗi trường là 100 học sinh, trong đó chia đều cho các khối lớp 6,7,8,9 mỗi khối lớp 25 em Lập danh sách học sinh mỗi khối lớp, chọn ngẫu nhiên hệ thống bằng cách chọn một điểm xuất phát trên danh sách rồi khoanh tròn vào số thứ tự trên danh sách lớp theo hệ số k = 5 để chọn ra 25 em mỗi khối lớp/trường rồi khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, thực tế mẫu thu được 580 học sinh
Phân tích số liệu: Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và phân tích bằng phần mềm Stata 12, xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về sử dụng TĂĐP bằng kiểm định chi bình phương (kiểm định Fisher nếu vọng trị <5) Mức độ kết hợp được đo lường bằng chỉ số PR ( Prevalence Ration - Tỷ số tỷ lệ hiện mắc) với ước lượng khoảng tin cậy (KTC) 95%
Z2
(1- /2) × p × (1-p)
n = _ x HSTK
Trang 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Phân bố đối tượng theo các đặc điểm cá nhân
Khối lớp
Từ kết quả thu thập được trên 580 em, chúng tôi nhận thấy, nữ chiếm đa số với tỉ lệ 61,55%; Mẫu phân phối tương đối đồng đều ở các khối lớp, dao động từ 134 đến 150 học sinh/khối
Về tiền sinh hoạt hàng tuần, đa số các em được cha mẹ phát cho trên 50.000 đồng/tuần với tỉ lệ 69,83% Hầu hết các em đều có thói quen đến trường ăn sáng với 90,34%
Bảng 2 Tiếp cận thông tin về an toàn thực phẩm
Các kênh tiếp nhận (N=461)
Kênh trực tiếp
Kênh gián tiếp
Tỉ lệ học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 năm học 2017 – 2018 tại các trường THCS trên địa bàn huyện Tân Phú Đông đã từng tiếp cận các thông tin về an toàn thực phẩm là 79,4% Trong đó,
có đến 60,52% các em biết qua kênh gián tiếp như Internet (26,25%), Tivi (24,08%), …; các kênh trực tiếp chiếm 39,48%, chủ yếu là được nhân viên y tế (15,18) và người thân nói đến (15,40%)
Kết quả của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Dương Đặng Hồng Hậu [6] trên đối tượng học sinh THPT là 85,1%, và cũng thấp hơn nghiên cứu của Lai Tín Nghĩa [9], tác giả này công
bố trên đối tượng sinh viên là 89,1% Có thể do đối tương của chúng tôi là học sinh THCS nên điều kiện tiếp cận thông tin sẽ hạn chế và không phong phú như của các tác giác trên Kênh thông tin gián tiếp qua tivi, Internet, … là kênh được đa số đối tượng trong nghiên cứu này tiếp cận, với tỉ lệ 60,52% Cũng giống như nhiều nghiên cứu của các tác gỉ đã công bố [6],[9] tivi và internet là nguồn nguồn cung cấp thông tin phổ biến Thực tế, đối với lứa tuổi học sinh các bạn
ít có thối quen đọc báo, tạp chí mà thay vào đó là các em thường xem tivi, truy cập Facebook, qua các kênh này cũng tiếp nhận được khá nhiều thông tin về an toàn thực phẩm Vì vậy, thiết nghĩ các nhà đài nên xây dựng nhiều chương trình truyền hình thực tế về vấn nạn ô nhiễm thực phẩm, tình trạng mất an toàn thực phẩm TĂĐP để cung cấp thêm nhiều thông tin cho đối tượng này
Trang 5Bảng 3 Kiến thức đúng về thức ăn đường phố
Ô nhiễm TĂĐP
Điều kiện vệ
sinh cơ sở bán
TĂĐP
Kiến thức đúng về Điều kiện cơ sở bán 127 21,90
Điều kiện chế
biến, Thiết bị,
dụng cụ
Dao thớt riêng cho thực phẩm sống/chín 245 42,24
Kiến thức đúng về Điều kiện chế biến, Thiết bị, dụng cụ 175 30,17
Điều kiện con
người trực tiếp
chế biến TĂĐP
Chứng nhận sức khỏe và tập huấn ATTP 144 24,83 Kiến thức đúng về Điều kiện con người 133 22,93
Trong số 580 em thuộc đối tượng nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 28,45% có kiến thức đúng về ô nhiễm TĂĐP; 21,90% có kiến thức đúng về Điều kiện cơ sở bán; 30,17% có kiến thức đúng về Điều kiện chế biến, Thiết bị, dụng cụ; 22,93% có kiến thức đúng về Điều kiện con người Kết quả này thấp hơn nhiều so với công bố của Lý Thành Minh [10], kiến thức của người mua TĂĐP tại tỉnh Bến Tre cũng khá cao, cụ thể là: 87,10% chọn cơ sở bán TĂĐP cách xa nguồn ô nhiễm, người bán phải mặc bảo hộ lao động 71,9%, thức ăn bày bán trong tủ kính 95,7%, không dùng giấy báo gói thức ăn 71,6% Trong một nghiên cứu khác của Dương Đăng Hồng Hậu [6] thì: tỉ lệ có kiến thức đúng về chọn nơi bán TĂĐP là 81,6%; kiến thức về quy trình chế biến là 75,20%; về người bán TĂĐP là 77,8%
Kiến thức chúng về TĂĐP là 20,86% các em có kiến thức đứng về TĂĐP Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thấp hơn những kết quả đã công bố trước đây, như tác giả Dương Đặng Hồng Hậu [6], ti lệ học sinh THPT có kiến thức đúng khá cao, đến 76,1% hay của Dehghan P [5] trên sinh viên đại học Đại học Khoa học Y tế Tabriz, Iran là 50% hay của Đinh Phương Thanh [7] nghiên cứu trên học sinh THPT tại Củ Chi cho kết quả là 28,9% có kiến thức đúng
Trên thực tế, do đối tượng của chúng tôi chỉ là học sinh THCS nên kiến thức tích lũy
về thời gian sẽ không bằng đối tượng sinh viên Hơn nữa địa bàn huyện Tân Phú Đông là huyện đảo, tỉ lệ hộ nghèo trên 40%, khi mà kinh tế xã hội chưa phát triển, nhận thức của người dân chỉ dừng lại ở mức “ăn no” chứ chưa nghĩ nhiều đến “ăn ngon, an toàn”, phần lớn các gia đình đều chỉ tập trung cho công việc mưu sinh nên một thực trạng hiển nhiên là có 90,34% em phải tự đến trường ăn sáng mà phu huynh không hề biết con mình ăn những gì Nếu các em không có được sự hướng dẫn của người lớn thì mặc nhiên sẽ sử dụng TĂĐP theo ý thích hoặc theo nhóm bạn bè mà không có kiến thức, kỹ năng sử dụng TĂĐP một cách an toàn
Trang 6Bảng 3 Thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố
Chọn cơ sở bán
TĂĐP an toàn
Chọn người bán
TĂĐP an toàn
Chọn TĂĐP an
toàn
Về thực hành sử dụng thức ăn đường phố, chúng tôi ghi nhận các em có thực hành đúng về Chọn cơ sở bán TĂĐP an toàn là 32,24%; Chọn người bán TĂĐP an toàn chiếm 37,41%; Chọn TĂĐP an toàn có tỉ lệ 35,52% So với công bố của Lý Thành Minh [10], tác giả này cho biết chỉ 47,9% ngươi mua TĂĐP tỉnh Bến Tre chọn cơ sở bán sạch sẽ hay như công bố của Dương Đang Hồng Hậu [6] thì có đến 69,7% học sinh THPT tại Ninh Thuận
có thực hành đúng về nơi bán TĂĐP Sự khác biệt này có thể là do đối tượng nghiên cứu cứu tác giả trên khá rộng gồm cả công nhân, học sinh, sinh viên, nguồi buôn bán nhỏ, những người có tuổi đời lớn hơn, thường xuyên tiếp xúc với nhiều loại hình TĂĐP nên phạm vi hiểu biết và kiến thức của họ sẽ phong phú hơn và nhận thức vấn đề tốt hơn chúng tôi
Kết quả Thực hành chung đúng của đối tượng nghiên cứu này là 21,38% Kết quả này cao hơn công bố của Đinh Phương Thanh [7] là 8% nhưng thấp hơn của Dương Đang Hồng Hậu [6] là 51,0% Có lý giải cho sự khác biệt này nhu sau: đối tượng của chúng tôi
là học sinh THCS nên tầm hiểu biết hạn chế hơn nên thực hành cũng chưa có sự tư duy mà chủ yếu làm theo cảm tính, so với bài báo công bố [6] thực hiện năm 2016 thì đối tượng của chúng tôi có thực hành hạn chế là chấp nhận được Tuy nhiên, ở công bố [7], tác giả thực hiện nghiên cứu cách đây 6 năm nên có thể quy kết rằng thời điểm năm 2012 các phương tiện thông tin chưa phát triển như hiện nay, các vấn đề ô nhiễm thực phẩm chưa công bố rộng rãi nên thực hành của đối tượng ở thời điểm đó sẽ hạn chế hơn hiện nay
Bảng 4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về sử dụng thức ăn đường phố
Tiêu chí nhóm
Kiến thức Đúng
Kiến thức chưa đúng PR, KTC 95% P Value
Số tiền hàng tuần Dưới 50,000Từ 50,000 đ trở lênđ 6754 38,2913,33 108351 61,7186,67 1,87-2,962,35 <0,00001 Tiếp cận thông
tin ATTP
1,71-2,20 <0,00001
Trang 7Kênh truyền
thông (N=461)
Kết quả phân tích kiểm định Chi square test chỉ ra rằng, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính với kiến thức đúng về thức ăn đường phố Đồng thời,
có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số tiền các em được cho hàng tuần với kiến thức đúng về thức ăn đường phố, những em được cho dưới 50.000đ lại có kiến thức đúng gấp 2,35 lần nhóm còn lại (PR=2,35; CI=1,87-2,96; Pvalue<0,00001); song song đó cũng có mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin ATTP với kiến thức đúng về TĂĐP, những học sinh đã từng nghe thấy về ATTP sẽ có kiến thức đúng gấp 1,94 lần các em chưa từng nghe về ATTP (PR=1,94; CI=1,71-2,20; Pvalue<0,00001), Đặc biệt những bạn được tiếp cận qua kênh trực tiếp sẽ có kiến thức đúng gấp 1,52 lần so với nhóm gián tiếp (PR=1,52; CI=1,21-1,90; Pvalue=0,0004)
Bảng 5 Các yếu tố liên quan đến thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố
Tiêu chí nhóm
Thực hành Đúng
Thực hành chưa đúng PR, KTC 95% P Value
0,25-0,50 <0,00001
Số tiền hàng
tuần
1,06-1,81 0,0195
Tiếp cận thông
tin ATTP
1,13-1,31 <0,00001
Kênh truyền
thông
2,58-3,89 <0,00001
Nghiên cứu ghi nhận không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính với thực hành đúng về thức ăn đường phố Kết quả cho biết có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số tiền các em được cho hàng tuần với thực hành đúng về thức ăn đường phố, những em được cho dưới 50.000đ lại có kiến thức đúng gấp 1,39 lần nhóm còn lại (PR=1,39; CI=1,06-1,81; Pvalue<0,0195); song song là mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin ATTP với thực hành đúng về TĂĐP, những học sinh đã từng nghe thấy về ATTP sẽ có thực hành đúng gấp 1,22 lần các em chưa từng nghe về ATTP (PR=1,22; CI=1,13-1,31; Pvalue<0,00001) Trong đó, những bạn được tiếp cận qua kênh trực tiếp sẽ có thực hành đúng gấp 3,17 lần so với nhóm gián tiếp (PR=3,17; CI=2,58-3,89; Pvalue<0,00001)
Như vậy kênh truyền thông trực tiếp thật sự có hiệu quả rõ rệt trong thay đổi hành vi của các em, đều này hoàn toàn hợp lý khi mà các em được truyền đạt kiến thức một chủ động có trọng tâm trọng điểm thì việc thay đổi nhận thức chuyển đổi hành vi sẽ tốt hơn
Bảng 6 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng về sử dụng thức ăn đường phố
Tiêu chí nhóm
Thực hành đúng
Thực hành chưa đúng PR, KTC 95% P Value
3,86-7,07 <0,00001
Những em học sinh có kiến thức đúng sẽ có thực hành đúng gấp 5,22 lần các em chưa
có kiến thức đúng (PR=5,22; CI=3,86-7,07; P<0,00001) Điều này hoàn toàn hợp lý, vì khi có kiến thức đúng thì sẽ có thể đưa ra lựa quyết định đúng trong việc chọn mua TĂĐP Vì vậy, song song với việc kiểm tra, giám sát, cải thiện chất lượng dịch vụ TĂĐP chúng ta cần trang
bị kiến thức cho học sinh thông qua nhiều loại hình truyền thông để cải thiện tỉ lệ thực hành đúng của học sinh, qua đó góp phần giảm thiểu phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do TĂĐP
Trang 9KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận:
Kết quả điều tra, đánh giá trên 580 em học sinh THCS tại huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang, tỉ lệ học sinh đã từng tiếp cận các thông tin về an toàn thực phẩm là 79,4% Kết quả có 20,86% các em có kiến thức đúng về TĂĐP, thực hành chung đúng về TĂĐP đạt 21,38% Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính với kiến thức đúng
và thực hành đúng về thức ăn đường phố Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số tiền các
em được cho hàng tuần, giữa việc tiếp cập thông tin ATTP, giữa tiếp cận qua kênh trực tiếp với kiến thức và thực hành về sử dụng TĂĐP Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về sử dụng TĂĐP (p<0.05)
Các khuyến nghị:
1 Nâng cao nhận thức của học sinh về phòng chống về phòng chống ngộ độc thực phẩm, đặc biệt là sử dụng TĂĐP không an toàn, trong đó chú trọng sử dụng kên truyền thông trực tiếp
2 Phụ huynh cần quan tâm nhiều đến việc ăn uống của học sinh khi đến trường, tăng cường các biện pháp tuyên truyền giáo dục nhằm thay đổi hành vi sử dụng tùy tiện TĂĐP mà không xem xét, chọn lựa cẩn thận
3 Nhà trường cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục học sinh trong việc lựa chọn
và sử dụng TĂĐP, trong đó tăng cường các hoạt động ngoại khóa, nói chuyện chuyên đề làm
rõ tác hại, ảnh hưởng của TĂĐP không an toàn
4 Ngành Y tế và các ngành liên qua tại địa phương cần kiểm soát chặc chẽ các loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm đặc biệt là TĂĐP nhằm hạn chế thấp nhất sản phẩm thực phẩm kém chất lượng lưu hành trên thị trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Âu Hiền Sĩ, Bùi Thị Thúy Ngân (2012), Khảo sát Kiến thức, Thái độ, Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người sử dụng thức ăn đường phố tại Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng năm 2011 Tạp chí Y học Hồ Chí Minh tập 16, năm 2012 Trang: 304.
2 Booth, Rachelle, "Food Safety Attitudes in College Students" (2012) Honors Theses 22
https://digitalcommons.andrews.edu/honors/22.
3 Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế (2016), Hỏi – Đáp về Mua và sử dụng thức ăn đường phố an toàn cho người tiêu dùng http://www.vfa.gov.vn/truyen-thong/tai-lieu-hoi-dap-ve-thuc-an-duong-pho.html
4 Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế (2016), Hỏi – Đáp về Quyền hạn và trách nhiệm của người chế biến, kinh doanh thức ăn đường phố trong phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm http://www.vfa.gov.vn/truyen-thong/tai-lieu-hoi-dap-ve-thuc-an-duong-pho.html
5 Dehghan P, Pournaghi-Azar F, Azami-Aghdash S, Sohraby-Silabi Y, Dadkhah H, Mohammadzadeh-Aghdash H Knowledge and attitude towards health and food safety among students of Tabriz University of Medical Sciences, Tabriz, Iran J Anal Res Clin Med 2017; 5(2): 62-8 Doi: 10.15171/jarcm.2017.012
6 Dương Đăng Hồng Hậu, Phạm Thị Lan Anh, Huỳnh Ngọc Vân Anh (2016) Kiến thức và Thực hành
an toàn thực phẩm trong sử dụng thức ăn đường phố và các yếu tố liên quan ở học sinh Trung học phổ thông trường chuyên Lê Quý Đôn, Ninh Thuận Tạp chí Y học Hồ Chí Minh tập 20, năm 2016 Trang: 232.
7 Đinh Phương Thanh (2012), Kiến thức thực hành về vệ sinh an toản thực phẩm thức ăn đường phố của học sinh Trung học phổ thông Trung Phú huyện Củ Chi TP.HCM năm 2012.Khóa luận tốt nghiệp
cử nhân Y tế công cộng, Đại học Y dược TP.HCM trang 53-54.
8 Đỗ Đức Dũng, Lê Thị Hương, Nguyễn Tất Cương, Nguyễn Huệ Anh, Trần Xuân Bách (2016), Thực trạng kiến thức về ngộ độc thực phẩm của sinh viên Y2 Trường Đại học Y Hà Nội Tạp chí Y học cộng đồng số 31 – Tháng 5/2016.Trang: 15.
Trang 109 Lai Tính Nghĩa (2014), Kiến thức thực hành vê vệ sinh an toàn thực phẩm của sinh viên Đại học Kinh tế TP HCM trong sử dụng thức ăn đường phố Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ Y học dự phòng, Đại học Y dược TP.HCM trang 62-63.
10 Lý Thành Minh, Cao Thị Diễm Thúy (2008), Kiến thức - Thái độ - Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán, người mua thức ăn đường phố tại thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tạp chí Y học Hồ Chí Minh tập 12 năm 2008, trang 162.