1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình trồng lúa cao sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu tại tỉnh Trà Vinh

46 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 897,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn lúa xuất khẩu của ĐBSCL thì lúa cao sản chất lượng cao chiếm một phần lớn đáp ứng được đa phần thị trường xuất khẩu: Hạt gạo trong ít bạc bụng, hàm lượng amylose dưới hoặc bằng

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

“Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình trồng

lúa cao sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu tại tỉnh Trà Vinh”

2008-2010

MỞ ĐẦU

Lúa là nguồn lương thực chính cho hơn 3 tỷ người trên toàn thế giới Chỉ tính riêng tại Châu Á, hơn 2 tỷ người tiêu dùng lúa gạo và 70% năng lượng calo của họ từ lúa gạo Tại Châu Phi, lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng nhất đối với người nghèo có thu nhập thấp và trung bình

Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời và có nền văn minh lúa nước mà hiếm có quốc gia nào trên thế giới có được Cùng với sự đa dạng về văn hóa, tài nguyên khí hậu và tập quán canh tác, Việt Nam có sự đa dạng về cơ cấu giống cây trồng địa phương, đặc biệt là giống lúa địa phương cổ truyền Ngoài Thái Lan thì Việt Nam là nước thứ hai xuất khẩu gạo hàng đầu trong thị trường gạo thế giới Chính vì thế mà ở các nước Châu Á có rất nhiều nghiên cứu về phát triển giống lúa ngày càng

có năng suất cao trong đó có Việt Nam

Nhu cầu thị trường trên thế giới đòi hỏi chất lượng gạo Việt Nam xuất khẩu phải luôn đạt tiêu chuẩn hơn về chất lượng lẫn số lượng Một số thị trường khó tính đòi hỏi hạt “gạo sạch” nghĩa là không sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, nhiều phân bón Chính vì thế mà nước ta đã áp dụng nhiều chương trình mới trong sản xuất lúa như “3 giảm, 3 tăng”, ngoài ra còn có chương trình mới “1 phải, 5 giảm” đang áp dụng thử nghiệm ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm đảm bảo nguồn gạo sạch đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

Đặc biệt BSCL là nơi vựa lúa lớn nhất nước và là nơi cung cấp hơn 80% lượng gạo xuất khẩu mỗi năm Nguồn lúa xuất khẩu của ĐBSCL thì lúa cao sản chất lượng cao chiếm một phần lớn đáp ứng được đa phần thị trường xuất khẩu: Hạt gạo trong ít bạc bụng, hàm lượng amylose dưới hoặc bằng 25%, một số giống có mùi thơm, Điều này cho thấy cây lúa chiếm vị trí rất quan trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnh Trà Vinh nói riêng Mặc dù thời gian qua chúng ta đã đẩy mạnh phát triển nhiều giống lúa, áp dụng khoa học vào trong canh tác, song thế mạnh trên vẫn chưa thực sự phát huy hết tiềm năng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh như yêu cầu đặt ra hiện nay

Bên cạnh đó ĐBSCL còn có nhiều bất ổn do sự bùng phát của giống lúa như IR

50404, OM 576 theo thống kê năm 2008 ở một số tỉnh chiến tỷ lệ rất cao như: Đồng

Trang 2

Tháp 43%, Trà Vinh 40%, Vĩnh Long 30%, Tiền Giang 31%, An Giang 27%, sự bất

ổn trên là nguy cơ bùng phát dịch rầy nâu Bởi vì theo Cục trồng trọt nhằm để đảm bảo

sự đa dạng sinh học, giảm áp lực bùng phát dịch hại thì ở mỗi địa phương diện tích dành cho mỗi giống dù giống đó có khả năng kháng rầy nâu cũng không vượt quá 20% Chính vì thế, với mục tiêu là thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất giống làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất và tăng thu nhập của người nông dân ĐBSCL một số tỉnh đã thực hiện sản xuất thử nghiệm giống lúa chất lượng cao như Bến Tre, Cần Thơ, đạt hiệu quả trong việc bổ sung nguồn giống mới cho tỉnh

Trà Vinh cũng là một trong những tỉnh cần có một số giống mới nhằm thay thế những giống địa phương đang thoái hoá dần Việc nghiên cứu để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh là hết sức cần thiết để đảm bảo nguồn giống sản xuất có năng suất và chất lượng cao, phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu Việc đưa giống lúa cao sản chất lượng cao vào sản xuất thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng thích nghi và xây dựng các mô hình sản xuất có triển vọng trong điều kiện của địa phương đặc biệt cho vùng chuyên canh tác lúa là rất cần thiết

Tất cả các vấn đề nêu trên chúng ta đặt ra các câu hỏi làm thế nào có một số giống đạt tiêu chuẩn cung cấp cho nông dân sản xuất lúa trong tỉnh Trà Vinh? Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nào nhằm tăng thu nhập, tăng chất lượng sản phẩm mà hạn chế ít nhất mức chi phí cho người nông dân trong sản xuất lúa? Làm thế nào để có sự tham gia đánh giá chất lượng giống của người nông dân?, Để trả lời các câu hỏi nêu trên việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình trồng lúa cao sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu tại tỉnh Trà Vinh” là rất cần thiết

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Giống là yếu tố hàng đầu trong các yếu tố tạo nên năng suất, chất lượng của cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, việc xác định tiềm năng, năng suất, tính ổn định, khả năng thích ứng của các giống với điều kiện sinh thái, tập quán canh tác của từng vùng, từng địa phương là việc làm vô cùng cần thiết Chính vì thế trong sản xuất lúa yếu tố giống cũng là một trong những yếu tố đi đầu nhằm tăng năng suất, tăng thu nhập cho người dân

Việt Nam có khoản 50% giống lúa sử dụng là của IRRI hoặc có nguồn gốc từ IRRI IRRI đã có những đóng góp trong công cuộc phát triển ngành nông nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là về cây lúa, đã đem lại hiệu quả thiết thực Một số kết quả nghiên cứu: Năm 2002 nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, thuỷ lợi, quản

lý cây trồng tổng hợp nên năng suất lúa tăng từ 4,24 lên 4,57 tấn/ha (http://news.socbay.com); hai giống lúa của Việt Nam là Nàng Hương Chợ Đào và Một Bụi đã được IRRI chuyển gien có chứa hàm lượng vitamin A, hạt gạo có màu hồng đỏ, các nhà khoa học của IRRI đã chuyển gien thành công, với kết quả trong gạo có vitamin A, nguyên tố vi lượng sắt (giúp hình thành tế bào máu) và gien BT để kháng sâu đục thân lúa Theo nghiên cứu, ăn gạo có vitamin A sẽ giúp người tiêu thụ giảm sự mù mắt, đặc biệt là trẻ em Màu hồng đỏ là màu biểu hiện hạt gạo có chứa tiền vitamin A (http://news.socbay.com/); Tiếp theo bước đột phá khám phá giải mã bộ gen của lúa gạo, các nhà khoa học của IRRI cũng tạo ra hơn 40.000 giống mới, băng cách

sử dụng các chất hóa học hoặc tia phóng xạ để loại bỏ các đoạn ngẫu nhiên trong nhiễm sắc thể của gạo (http://www.agbiotech.com.vn/vn/)

Một số nghiên cứu khác của công ty Bayer CropScience của Singapore đã mở một cơ sở nghiên cứu tạo ra giống lúa vừa cho năng suất cao vừa kháng được sâu bệnh, đã có nhiều giống lúa có năng suất chất lượng cao hơn các giống lúa thường 20 – 30% Hiện nay, các giống này đã được trồng ở Ấn Độ, Brazil, Việt Nam và 4 nước khác Trong đó Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục nghiên cứu và thương mại hoá các giống lúa lai có năng suất cao hơn các giống lúa thuần truyền thống Đặc biệt Philippin được

sự hỗ trợ của FAO, viện nghiên cứu lúa IRRI và Trung Quốc lúa lai cũng được thương mại hoá, chính phủ Philippin đã có nhiều chính sách phát triển giống lúa lai từ năm

2003 – 2007

1 Tình hình nghiên cứu về cây lúa ở các tỉnh phía Bắc:

Ở các tỉnh phía Bắc có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến cây lúa, mục đích chính của các công trình nghiên cứu là tìm ra những giống lúa mới vừa thích nghi

Trang 4

vừa đạt năng suất hay nói cách khác là tăng lên về mặt số lượng và chất lượng, một số nghiên cứu cụ thể như:

- Khảo nghiệm chọn lọc tập đoàn giống lúa, qua một năm thực hiện và kế thừa các kết quả đề tài nhiều năm trước, các giống có triển vọng đã được đưa ra khảo nghiệm và sản xuất thử Đề tài đã chọn được một số giống có triển vọng, đề nghị bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh đó là hai giống lúa Thiên Nguyên Ưu 9, Thiên Nguyên

Ưu 16 và một giống ngô HN45 Bên cạnh đó, đề tài đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo trồng cho các giống có triển vọng và tuyên truyền, quảng cáo thông qua các hội nghị đầu bờ, các phương tiện thông tin đại chúng, hướng dẫn kỹ thuật bằng các tờ rơi và thông qua các mô hình khuyến nông để đưa vào sản xuất nhanh chóng

- Nghiên cứu về đánh giá nguồn vật liệu giống lúa địa phương phục vụ chọn tạo giống lúa cho vùng canh tác nhờ nước trời vùng núi Tây Bắc Việt Nam của Trường Đại Học Nông Nghiệp 1 Hà Nội với phương pháp điều tra, thu thập, phân loại giống lúa địa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ để làm vật liệu di truyền lai tạo giống lúa cho vùng nước trời phía Bắc Việt Nam như G4, G6, G10, G13, G14, G19, G22, G24 Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC 93-1 phục vụ sản xuất lương thực phía Bắc ở vùng cao của viện bảo vệ thực vật Từ Liêm, Hà Nội với phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn chọc LC 93-1 có thời gian sinh trưởng 115-125 ngày, năng suất 3-4 tấn/ha, chịu hạn khá, chất lượng gạo tốt, thích hợp cho đồng bào dân tộc nghèo ở vùng cao (http://www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/31giogluavn.htm)

- Nghiên cứu chọn giống lúa chịu hạn của Viện cây lương thực thực phẩm với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ IRRI với phương pháp lai hữu tính kết hợp với gây đột biến để tạo ra tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá, năng suất cao như CH 2, CH 3, CH 133,

CH 5 trồng rộng rãi ở miền Trung du miền núi phía Bắc, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (http://www.lrc.ctu.edu.vn/pdoc/34/31giogluavn.htm)

- Với mục tiêu giúp các hộ nông dân nâng cao nhận thức và tiếp cận với các tiến bộ kỹ thuật mới, dần trở thành các chuyên gia nông hộ trong việc thực hiên một cách hiệu quả 3 giảm 3 tăng và hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, Tầm nhìn Thế giới vừa thí điểm thành công hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong vụ xuân 2008 Kết quả cho thấy, nông dân đã tăng năng suất lúa thêm 10% trong khi giảm được 50-60% lượng thóc giống, 10-20% lượng phân bón, 40 -50% thuốc bảo vệ thực vật thông qua mô hình SRI Tới thời điểm cuối vụ đông xuân 2009 có trên 264.000 nông dân áp dụng toàn phần và từng phần SRI trên 85.422 ha tại 21 tỉnh miền Bắc; trong đó tại 6 tỉnh chương trình hỗ trợ, số nông dân áp dụng và diện tích áp dụng chiếm 43% Việc áp dụng SRI làm giảm chi

Trang 5

phí đầu vào, tăng năng suất đã làm lợi thêm cho nông dân từ 1,8-3,5 triệu đồng/ha/vụ (http://www.dongthap.gov.vn)

Qua các nghiên cứu đã đóng góp cho việc bổ sung giống lúa mới cho vùng mặt

dù không trực tiếp ảnh hưởng đến cùng nghiên cứu, nhưng những vấn đề đã được nghiên cứu trước đây, rút ra các thuận lợi khó khăn làm cơ sở, tài liệu tham khảo để các nghiên cứu sau này được tốt hơn

2 Tình hình nghiên cứu về cây lúa ở các tỉnh phía Nam:

Ở phía Nam công tác nghiên cứu chọn tạo khảo nghiệm và bình chọn giống lúa được nghiên cứu rất mạnh mẽ vì ĐBSCL là nơi vựa lúa lớn nhất nước Một số Viện Trường và các tỉnh mỗi năm đều nghiên cứu tìm ra giống thích hợp cho từng địa phương, trong đó Viện Lúa ĐBSCL là nơi nghiên cứu để chọn tạo ra các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích nghi với các điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, xây dựng các qui trình kỹ thuật canh tác tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp

Viện lúa ĐBSCL cũng đã chọn tạo và phóng thích các giống lúa mới có khả năng chống chịu với rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá,đáp ứng kịp thời và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bệnh dịch gây ra Nhiều giống lúa cao sản chất lượng cao phục vụ xuất khẩu cũng được Viện nghiên cứu chọn tạo và đưa vào sản xuất Mới đây, Viện lúa ĐBSCL đã nghiên cứu những giống cây trồng, đặc biệt là giống lúa thích nghi với biến đổi khí hậu như ngập mặn, khô hạn, nắng nóng, ngập úng… bước đầu mang lại những thành quả tốt (http://truyenthongkhoahoc.vn/vn)

Việc chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất của Viện lúa ĐBSCL: Ở mỗi tỉnh đều

có vệ tinh khảo nghiệm giống lúa mới thông qua các tổ sản xuất giống hay các nông dân sản xuất lúa Theo Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương cho biết: Trong tổng số 6,88 triệu ha gieo trồng lúa của cả nước, diện tích sử dụng giống lúa do Viện lúa ĐBSCL chọn tạo đã đạt 50,1% diện tích, đóng góp 5/10 giống lúa được trồng phổ biến nhất trong cả nước và 8/10 giống được trồng nhiều nhất ở ĐBSCL Hàng năm, Viện đều tổ chức sản xuất và cung ứng giống lúa siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng và xác nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng cho các địa phương, góp phần đưa tổng diện tích sản xuất lúa ở ĐBSCL sử dụng giống đạt tiêu chuẩn các cấp từ dưới 10% (năm 1999) lên hơn 34% như hiện nay (http://truyenthongkhoahoc.vn/vn)

Viện cũng đã xây dựng được 11 quy trình kỹ thuật được công nhận ở cấp Quốc gia đã được nông dân áp dụng và mang lại hiệu quả lớn Giải pháp thâm canh tổng hợp

“3 giảm 3 tăng” đạt khoảng 35% diện tích trồng lúa vùng ĐBSCL tương đương khoảng 1,2 triệu ha, hiệu quả mang lại 1,1 triệu đồng/ha (http://truyenthongkhoahoc.vn/vn)

Trang 6

Trường Đại Học Cần Thơ cũng là nơi lai tạo cung ứng giống lúa đứng thứ hai ở ĐBSCL, Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL chính thức được thành lập theo quyết định số 269/QĐ-ĐHCT.TCCB ngày 24-03-2005 cuả Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ thực hiện nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực đặc biệt từ năm 1977 đến 2006, Viện đã chọn tạo được trên 50 giống lúa cao sản ngắn ngày, 18 giống trung vụ đưa ra sản xuất đại trà, có 13 giống lúa được Bộ NN-PTNT công nhận là giống quốc gia và hiện đang phóng thích nhiều giống lúa triển vọng Một số giống lúa như: MTL250, MTL364, MTL392, MTL422, MTL325, MTL384 có năng suất cao, có mùi thơm, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chống chịu sâu bệnh, phù hợp với nhiều vùng sinh thái ở ĐBSCL, và được nông dân rất ưa chuộng, trồng nhiều ở Sóc Trăng, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang (http://demo.cuscsoft.com/)

Mặt khác, kỹ thuật ngày càng hiện đại, đòi hỏi nhu cầu giống ngày càng tốt nên việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng các mô hình trồng lúa cao sản chất lượng cao phục vụ nhu cầu nội địa xuất khẩu là hết sức cần thiết nhằm theo kịp sự phát triển nền nông nghiệp và khai thác tốt tiềm năng sản xuất Một số nghiên cứu trong lĩnh vực chọn giống lúa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như sau:

- Nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục vụ đồng bằng sông Cửu Long của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495, OM4498, OM2514 trồng rộng rãi ở vùng sản xuất ngập lũ ĐBSCL (http://www.lrc.ctu.edu.vn/)

- Nghiên cứu thực nghiệm xác định cơ cấu giống lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Bến Tre do Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh Bến Tre chủ trì thực hiện đã đưa thực nghiệm 10 giống lúa cao sản và 05 giống lúa mùa, kết quả chọn được giống OMCS 2000 và OM 3536 có năng suất cao, kháng sâu bệnh tốt, thích nghi rộng

- Nghiên cứu giống lúa cho vụ Hè Thu và Thu Đông vùng Tây Nam Bộ: Tổng kết từ 120 thí nghiệm so sánh và 18 cuộc đánh giá trên ruộng trình diễn tại 17 tỉnh phía Nam và Viện lúa ĐBSCL tại hai vụ Hè Thu 2007 và Hè Thu 2008 cho thấy có tổng cộng 161 giống đạt thành tích tốt nằm trong thứ tự cao từ 1 đến 5 Trong 161 giống này, các giống đạt năng suất cao là OM 4900 (21,7%), OM 6073 (19,3%), OM 6162 (15,5%) Ba giống cùng có tầng suất 9,9% là OM 5199, OMCS 2000, OM 3689 Những giống có tầng suất biến thiên từ 6,8 đến 8,1% xếp theo thứ tự từ cao đến thấp là

OM 5490, OM 4097, OM 4286, OM 6377, OM 4495, OM 6677, OM 5472 (http://giongcaytrongbinhminh.com/)

- Trung tâm Giống cây trồng Bến Tre đã tổ chức hội thảo đánh giá giống lúa khảo nghiệm vụ đông xuân 2008-2009 Trong 2 vụ Đông xuân và Hè thu hàng năm,

Trang 7

Trung tâm Giống cây trồng Bến Tre đều tiến hành sản xuất khảo nghiệm giống nhằm đánh giá, tuyển chọn nhiều bộ giống lúa mới có năng suất, chất lượng gạo tốt bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh, phục vụ cho bà con nông dân Vụ Đông xuân 2008-

2009, Trung tâm giống cây trồng đã tiến hành sản xuất khảo nghiệm 161 giống Trong đó có 132 giống khảo nghiệm, bao gồm 67 bộ giống của Viện lúa ĐBSCL, 65 giống của Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL, 12 bộ giống sản xuất thử do Trung tâm chọn

ra từ vụ hè thu năm 2008, 7 bộ giống lúa thơm và 10 bộ giống lọc dòng, nông dân và cán bộ kỹ thuật đã chọn ra 10 bộ giống có ưu điểm nổi bật như giống OM6162, OM4900, OM6677, HG2, OM6068, OM1348, OM6073, MTL623, OM2474 và OM2478 Trong đó, hai giống OM4900 và OM6677 là những giống đứng đầu trong cuộc bình chọn của Viện lúa ĐBSCL và các tỉnh ĐBSCL (http://www.dost-bentre.gov.vn/tin-tuc-su-kien/thong-tin-khcn/)

- Hiện nay, một số giống lúa mới của Viện Lúa ĐBSCL xác định có khả năng kháng mặn khá cao như OM6976, OM6677, OM5464, OM5629, OM5166 đã và đang được khảo nghiệm ở một số tỉnh: Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu, Bến Tre Kết quả khảo nghiệm ban đầu ghi nhận khá khả quan, trong đó giống lúa OM5464 đang được đề nghị nhân rộng và trình Bộ NN-PTNT công nhận là giống lúa sản xuất thử trong năm 2010 (http://www.liferice.com.vn/vn/newsdetail/giong-lua-chiu-han-man-o-dbscl.html)

Thêm vào đó, sản suất lúa ở ĐBSCL đã áp dụng quy trình canh tác tiên tiến theo tiêu chuẩn VietGAP tại một số tỉnh ĐBSCL, quy hoạch vùng trồng lúa chất lượng cao

Tất cả các vấn đề mà các nhà khoa học đã nghiên cứu đã góp phần rất lớn cho

sự phát triển cây lúa nói riêng và nền nông nghiệp nói chung Nó làm cơ sở và nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo

3 Tình hình nghiên cứu về cây lúa tỉnh Trà Vinh:

Phát triển nông nghiệp là một trong những thế mạnh của tỉnh Trà Vinh, để đạt được năng suất cao trong sản phẩm tạo ra thì khâu đầu tư về giống là rất quan trọng, thời gian quan đã có nhiều nơi như Trung tâm Giống nông nghiệp, một số đề tài dự án

đã khảo nghiệm và chọn tạo nhiều giống mới nhưng so với nhu cầu giống của xã hội thì vẫn chưa đáp ứng đủ, do đó không đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của địa phương

về giống nhằm theo kịp sự phát triển trong nền nông ngiệp và khai thác tốt tiềm năng sản xuất

Một số đề tài nghiên cứu về cây lúa như:

+ Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất lúa đặc sản và cao sản theo phương pháp hữu cơ sinh học tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh do tác giả Nguyễn Hồng

Trang 8

Sơn và Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thực hiện, kết quả mô hình khả thi đạt hiệu quả cao

+ Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng tổng hợp các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp để làm giảm giá thành và tăng năng suất chất lượng lúa gạo tại tỉnh Trà Vinh

do tác giả Nguyễn Thị Lộc và Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long làm chủ trì cũng đạt kết quả cao như mục tiêu đã đề ra

+ Nghiên cứu xây dựng phát triển mạng lưới nhân giống lúa và cung cấp lúa thơm tác giả cho tỉnh Trà Vinh do tác giả Nguyễn Thị Lang thuộc Viện lúa ĐBSCL chủ trì, kết quả đạt được có hai giống được phục tráng cho tỉnh Trà Vinh là KhaoDawMali 105 và Jasmine 85 Bên cạnh đó, cần bổ sung một số giống có triển vọng là OM 2718, OM4498, OM2717, OM3214 ngắn ngày phục vụ theo yêu cầu sản xuất lúa 3 vụ

+ Nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất giống lúa có năng suất, chất lượng và

so sánh 4 giống triển vọng tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh do tác giả Lâm Ngọc Triết thuộc Sở Nông nghịêp và Phát triển nông thôn Trà Vinh chủ trì, kết quả đã đưa ra 4 giống cho năng suất trung bình cao nhất là MTL 363, OM 4495, OM 2718, OM 4872, khuyến cáo cho người dân sản xuất theo phương pháp sạ hàng

+ Nghiên cứu xây dựng phát triển mạng lưới nhân giống lúa và cung cấp giống lúa thơm tác giả cho tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2004-2006 do tác giả Nguyễn Thị Lang, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long làm chủ trì cũng đạt kết quả cao như mục tiêu đã

đề ra

- Tình hình khảo nghiệm giống lúa tỉnh Trà Vinh:

Năm 2008 tỉnh Trà Vinh đã khảo nghiệm giống lúa như sau: Khảo nghiệm giống lúa với bộ giống lúa của Viện lúa và Viện nghiên cứu lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, kết quả đã chọn ra một số giống có năng suất chất lượng cao, kháng bệnh và đưa vào sản xuất đại trà như: gồm 9 loại giống MTL (597, 601, 602, 612, 614, 560, 575, 547,499), gồm 10 loại giống OM (4214-4, 6297, 4101, 5453, 5451, 5199, 4088, 4218,

4944, 5464)

Đến năm 2009 đã tổ chức mô hình trình diễn giống lúa mới gồm một số giống lúa của Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL và Trường Đại Học Cần Thơ: kết quả khảo nghiệm chọn ra các giống: OM 4662, OM 6162, OM 7360, OM 6071, OM 4590, OM

Trang 9

Để hoàn thành một chu kỳ sống cây lúa cần trải qua các giai đoạn sinh trưởng của nó Bắt đầu từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng và kết thúc là giai đoạn chín Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), quá trình sống của cây lúa gồm có 3 giai đoạn:

* Giai đoạn tăng trưởng:

Là giai đoạn bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hoá đòng Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6, chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồi ngạnh trê Mỗi cây lúa sạ thẳng thường cho 2-5 chồi trong khi mỗi cây lúa cấy cho 10-

30 chồi Như vậy sự đâm chồi không quan trọng lắm đối với lúa sạ thẳng

Thông thường số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay chồi có ích) thấp hơn

so với chồi tối đa và ổn định trước 10 ngày trước khi đạt số chồi tối đa Các chồi ra sau

đó thường tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng đối với chồi khác

* Giai đoạn sinh sản:

Kéo dài từ lúc phân hoá đòng đến khi lúa trỗ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và ở các giống lúa dài ngày hay ngắn ngày đều không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra bẹ của lá cờ; lúa trỗ bông

* Giai đoạn chín:

Bắt đầu từ lúc trỗ bông đến khi thu hoạch Giai đoạn này trung bình 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ chín sữa, chín sáp, chín vàng và chín hoàn toàn

5 Đặc tính một số giống lúa ở đồng bằng sông Cửu Long:

* Giống OM 6600: Thời gian sinh trưởng 100 – 105 ngày, chiều cao cây 90 – 100

cm, hạt gạo dài rất đẹp, gạo trong ít bạc bụng, thơm nhẹ và dẻo cơm, tính ổn định kháng sâu rầy và kháng được bệnh đạo ôn ở cấp độ 1, có năng suất đạt từ 6 tấn/ha trở lên, phẩm chất gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

* Giống OM 6377:

- Thời gian sinh trưởng: 95 -100 ngày

- Chiều cao cây : 85 - 90 cm Cứng cây, đẻ nhánh khá; lá cờ trung bình, thẳng; bông dài, hơi khoe bông

Trang 10

- Nhiễm Rầy nâu (cấp 3 - 4), hơi kháng cháy lá, kháng vàng lùn

- Năng suất trung bình vụ Đông Xuân: 6- 8 tấn/ ha, Hè Thu: 4,0 - 5,0 tấn/ ha

- Trọng lượng 1000 hạt: 28-29 g

- Hạt gạo dài, trong, ít bạc bụng; tỷ lệ hạt chắc cao, gạo đẹp

- Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu

* Giống OM 7926: Giống có thời gian sinh trưởng: 100 ngày; chiều cao cây:

95-100 cm; dạng hình đẹp, đẻ nhánh khá, lá cờ to, thẳng, bông dài, hạt đóng khít; trọng lượng 1.000 hạt: 27,4 gram; tỷ lệ gạo nguyên: 50%; gạo dài, trong; nhiễm rầy nâu (cấp

3 - 5), nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 6), năng suất: 6-8 tấn/ha; thích nghi cả 2 vụ Đông xuân

và hè thu, phẩm chất gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

* Giống OM 6071: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 90-95 cm Phẩm

chất gạo hạt dài, thơm nhẹ, dẻo cơm Chống chịu bệnh rầy nâu và đạo ôn thích hợp các vụ trong năm

* Giống OM 5629: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 100-105cm,

phẩm chất gạo trong đẹp mềm cơm, Kháng tốt chịu đạo ôn và rầy nâu và bệnh cháy lá, chịu phèn khá Năng suất trung bình từ 6-8 tấn/ha, có khả năng chịu được độ mặn 3 - 4 phần ngàn giống OM 5629 thích nghi cao, dễ canh tác nên rất phù hợp sản xuất vụ Hè Thu

* Giống MTL 513:

- Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày

- Chiều cao cây (cm): 90-95

- TL 1000 hạt (g): 27-28

- Dài hạt (mm): 7,0

- Năng suất (T/ha): 6-8

Thơm nhẹ, gạo dài trong, cơm mềm dẻo, ít bạc bụng, Hơi kháng cháy lá, hơi kháng rầy nâu Thích nghi đất phù sa phèn nhẹ

* Giống VND 95-20: Thời gian sinh trưởng 90-103 ngày, chiều cao cây lúa 85-90cm

Phẩm chất hạt gạo dài trong, dẻo cơm Bị nhiễm rầy nâu và đạo ôn, thích hợp vùng đất phèn Năng suất trung bình từ 4-6 tấn/ha

6 Giới thiệu vùng nghiên cứu:

Tỉnh Trà Vinh nằm ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long, giữa 2 con sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Hậu Phía Bắc Trà Vinh là tỉnh Bến Tre được ngăn cách bởi sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền), phía Tây Nam giáp với tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ qua ranh giới sông Hậu, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông là biển Đông

Trang 11

Trà Vinh nối với tỉnh Vĩnh Long bằng quốc lộ 53, quốc lộ 54 tuyến thông thương đường bộ duy nhất nối Trà Vinh với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long

và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là thành phố Hồ Chí Minh quốc lộ 60

Ở vị trí nằm giữa hai con sông Cổ Chiên, Hậu Giang và một mặt giáp biển (dài 65km), nơi có 2 cửa sông (Cung Hầu và Định An) được xem là 2 cửa sông quan trọng thông thương đồng bằng sông Cửu Long với biển Đông, nối với cả nước và quốc tế

Do vậy, Trà Vinh ở vào địa thế có tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng đối với đồng bằng sông Cửu Long Đây là lợi thế mà các tỉnh khác không có được Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 229.510 ha, với 8 đơn vị hành chính, gồm Thành phố Trà Vinh và các huyện Càng Long, Cầu Kè, Tiểu Cần, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải

- Khí tượng:

Nằm trong vùng ĐBSCL, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: Có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như: Gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít,

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,6oC, biên độ nhiệt giữa tối cao: 35,8oC, nhiệt độ tối thấp: 18,5oC, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm thấp: 6,4oC Nhìn chung nhiệt độ tương đối điều hòa và sự phân chia 4 mùa trong năm không rõ chủ yếu

2 mùa mưa, nắng

- Bức xạ:

Toàn tỉnh có tổng số giờ nắng cao: 7,7 giờ/ngày, bức xạ quang hợp dồi dào: 82.800 cal/năm, cho phép cây trồng phát triển quanh năm Tuy nhiên, với phương thức canh tác như hiện nay, nguồn năng lượng này chưa được tận dụng bao nhiêu, nhất là trong mùa khô

- Ẩm độ:

Tỷ lệ ẩm độ trung bình cả năm biến thiên từ 80 - 85%, biến thiên ẩm độ có xu thế biến đổi theo mùa; mùa khô đạt 79%, mùa mưa đạt 88% Riêng ẩm độ trung bình của tất cả các tháng đều đạt trên 90%, đây là điều kiện thích hợp cho sự phát triển và lây lan của một số dịch bệnh xảy ra

- Gió: Toàn tỉnh có 2 hướng gió chính:

Gió mùa Tây Nam: từ tháng 5 - 10 DL, gió thổi từ Biển Tây vào mang nhiều hơi nước gây ra mưa

Gió chướng (gió mùa Đông Bắc hoặc Đông Nam): thịnh hành nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau có hướng song song với các cửa sông lớn Gió chướng là nguyên nhân gây ra nước biển dâng cao và đẩy mặn truyền sâu vào nội đồng Vận tốc gió đạt cao nhất trong tháng 2, 3 DL (vận tốc 5 - 8 m/s) và thường mạnh vào buồi

Trang 12

chiều Vì vậy, sự xuất hiện các đỉnh mặn do gió chướng tác động đã làm cho việc sản xuất không ổn định trong thời gian này

- Sương muối:

Sương muối xuất hiện hàng năm tập trung vào các tháng cuối năm tử tháng 12

- 2 DL do hiệu ứng của các yếu tố: Ẩm độ cao cuối mùa mưa kết hợp với nhiệt độ thấp nhất trong năm và sự thịnh hành của gió chướng Do mang theo một hàm lượng muối đáng kể trong không khí, sương muối đã ảnh hưởng không ít đến tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng

- Bốc hơi:

Tổng lượng bốc hơi toàn tỉnh cao, bình quân 1.293 mm/năm Vào mùa khô, lượng bốc hơi rất mạnh từ 130 - 150 mm/tháng, nhất là các vùng giồng cát cao và khu vực sát biển, gây ra sự khô hạn gay gắt ở các vùng này Riêng huyện Duyên Hải, lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa năm đã gây ra sự mao dẫn muối lên và tập trung ở tầng mặt làm cho lý tính đất trở nên xấu và khó sử dụng hơn

- Mưa:

Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1.588 - 1.227 mm), phân bố không ổn định và phân hóa mạnh theo thời gian và không gian Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải

Về thời gian mưa, có 90% lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa bắt đầu tử tháng 5 đến tháng 11 Càng về phía biển, thời gian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm Đây là hạn chế lớn đối với sản xuất của vùng này vì thời gian mưa có ích cho cây trồng rất ngắn Huyện có số ngày mưa cao nhất là Càng Long (118 ngày), Trà Vinh (98 ngày); thấp nhất là Duyên Hải (77 ngày) và Cầu Ngang (79 ngày)

- Hạn:

Hạn hàng năm thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 - 18 ngày Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ (tháng 6,7) là quan trọng trong khi các huyện còn lại: Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ (tháng 7, 8) thường nghiêm trọng hơn

* Thuỷ văn:

+ Mật độ sông rạch:

Ngoài sông Hậu và sông Cổ Chiên ra, hệ thống kênh rạch trong đồng khá phát triển, rộng và sâu ở cửa, hẹp và cạn dần khi vào trong nội đồng Các hệ thống trục chính bao gồm:

- Phía sông Cổ Chiên: rạch Láng Thé, kênh Trà Vinh, rạch Bãi Vàng rạch Thâu Râu

Trang 13

- Phía sông Hậu: Rạch Mỹ Văn, sông Cần Chông, rạch Trà Cú, Tống Long, Vàm Ray, kênh Láng Sắc (Nguyễn Văn Pho)

- Hệ thống kênh trục dọc: Kênh Trà Ngoa, kênh 3/2 - Thống nhất quan trọng nhất mang nhiệm vụ tiếp ngọt cho từng vùng

Nhìn chung, mật độ kinh trục phân bố khá đều trong tỉnh từ 4 - 10 m/ha Đối với mật độ kinh nội đồng, nhìn chung Trà Vinh có mật độ còn thấp (< 50% so với yêu cầu sản xuất) Huyện có mật độ kênh cao nhất của toàn tỉnh là Tiểu Cần (45m/ha); thấp nhất là Duyên Hải, Trà Cú, Cầu Ngang (18 - 28 m/ha)

+ Chế độ thuỷ văn:

Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ triều Biển Đông thông qua 2 sông lớn và mạng lưới kênh rạch chằng chịt Đây là chế độ bán nhật triều không đều, ngày có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống, Mỗi tháng có 2 kỳ triều cường (vào ngày 1 và

15 ÂL) và 2 kỳ triều kém (vào ngày 7 và 23 ÂL)

Do gần biển, biên độ và mực nước trên sông rạch khá cao nên tiềm năng tiêu tự chảy của tỉnh rất lớn Chỉ riêng một phần ở Càng Long và khu vực giữa tỉnh (phần giáp ranh của 1 huyện: Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang) do có sự giáp nước từ nhiều hướng và biên độ triều tắt nhanh nên bị ngập kéo dài 3 - 4 tháng Nhìn chung, khoảng 1/3 diện tích đất tự nhiên của tỉnh bị ngập khá sâu vào mùa mưa (> 0,6m) phân bố tập trung ở ven sông và các trũng giữa giồng của các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú Tuy tiêu rút dễ dàng nhưng độ sâu ngập này đã hạn chế việc thâm canh lúa mùa như bón phân, sử dụng giống mùa cao sản Các vùng

gò ngập ít (< 0,4m) phân bố chủ yếu ở khu vực giữa tỉnh (thuộc vùng lúa cao sản), đây là vùng có khả năng canh tác màu và thâm canh lúa cao sản nhưng dễ bị hạn ảnh hưởng

Do bị mặn ảnh hưởng nên dù động lực triều cao nhưng chỉ 1 phần diện tích của tỉnh có khả năng sử dụng nước sông để tưới tự chảy và chủ yếu ở các khu vực nhiễm mặn ít (2 - 3 tháng)

+ Tình hình nhiễm mặn:

Hàng năm có khoảng 90% diện tích đất tự nhiên của tỉnh bị nhiễm mặn với chiều dài xâm nhập của nước mặn (4g/lít) là từ 30 km từ biển vào Sự truyền mặn bắt đầu từ tháng 12 tại Hưng Mỹ trên sông Cổ Chiên và Trà Kha trên sông Hậu Mặn lên cao nhất vào tháng 4 tại cửa Vũng Liêm (sông Cổ Chiên) và Cầu Quan (sông Hậu) Mặn thường kết thúc vào tháng 6, thời gian sớm hay muộn phụ thuộc vào thời gian, lượng mưa tại thượng nguồn và địa phương

Dựa trên ranh giới độ mặn 4‰, có thể phân tỉnh ra làm 6 vùng ảnh hưởng mặn như sau:

Trang 14

- Vùng mặn thường xuyên (mặn 4‰ quanh năm): chiếm 17,7% diện tích nông nghiệp

- Vùng mặn 5 - 6 tháng (từ tháng 1 - 6 DL): 25,8%

- Vùng mặn 4 tháng (từ tháng 2 - 5 DL): 13,9%

- Vùng mặn 3 tháng (từ tháng 3 - 5 DL): 16,6%

- Vùng mặn 2 tháng (từ tháng 4 - 5 DL): 1,8%

- Vùng mặn 2 tháng bất thường (từ tháng 4 - 5 DL): 15,1%

Hiện trạng cho thấy việc canh tác 2 vụ lúa ổn định chỉ giới hạn ở vùng mặn < 4 tháng Riêng 1 phần khu vực Cầu Ngang và huyện Duyên Hải, thời gian nhiễm mặn dài, nguồn nước ngọt khan hiếm mà lại có lượng mưa và thời gian mưa ít nên sản xuất nông nghiệp rất khó khăn, vùng thích hợp cho thủy sản và lâm nghiệp nhiều hơn Tóm lại: Về mặt khí tượng thủy văn, Trà Vinh có nhiều điều kiện bất lợi cho sản xuất Nông nghiệp nhưng lại có 1 phần diện tích có thế mạnh cho Thủy sản và Lâm nghiệp Trong nông nghiệp, đã tận dụng các điều kiện hiện có, việc gieo cấy đúng thời

vụ là quan trọng và thủy lợi cần đi trước 1 bước để làm nền tảng cho việc phát triển nông nghiệp (Nguồn: http://www.travinh.gov.vn)

Trang 15

CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương tiện:

2.1.1 Địa điểm:

Đề tài được thực hiện tại 4 xã của 4 huyện như sau:

Ấp Cầu Tre, xã Long Thới, huyện Tiểu Cần, Trà Vinh

Ấp Bến Thế, xã Tân Sơn, huyện Trà Cú, Trà Vinh

Ấp Cây Cách, xã Bình Phú, huyệng Càng Long, Trà Vinh

Ấp Đầu Giồng, xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, Trà Vinh

Đây là những vùng đất chuyên canh tác lúa 3 vụ, hàng năm bổ sung một lượng sản lượng lúa chủ yếu cho tỉnh Trà Vinh, góp phần vào sự phát triển nền nông nghiệp của tỉnh

Hình 2.1 Bản đồ hành chính các điểm nghiên cứu

Trang 16

- Tình hình xuất khẩu lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long

- Quy trình trồng lúa chất lượng cao có ứng dụng chương trình 3 giảm 3 tăng

- Một số giống lúa chất lượng cao ở đồng bằng sông Cửu Long

- Các báo cáo về tình hình sản xuất lúa và khảo nghiệm giống lúa của tỉnh Trà Vinh hai năm 2008-2009

- Tài liệu có liên quan trên mạng internet

2.1.4 Công cụ:

- Quản lý số liệu bằng phần mềm exel, Word,

- Phân tích số liệu: phần mềm phân tích thống kê mẫu lúa MSTATC, Trường Đại Học Cần Thơ

- Phân tích độ bạc bụng và hàm lượng amylose bằng Juliano B.O., 1971 (A simplified assay for milled rice amylose Cereal Science Today, 16: 334-338) Trường Đại Học Cần Thơ

- Máy sạ hàng

2 Phương pháp:

2.1 Điều tra số liệu

Tổng số phiếu điều tra tại 4 điểm nghiên cứu là 80 phiếu, mỗi xã nghiên cứu điều tra

20 hộ dân sản suất lúa

Phương pháp điều tra: Phỏng vấn từng nông hộ có canh tác lúa theo mẫu phiếu điều tra (xem phụ lục 2)

- Thông tin về nông hộ (Họ tên, tuổi, )

- Thời vụ gieo trồng: vụ mùa, lịch xuống giống,

- Cơ cấu giống đang sản xuất, năng suất hiện tại đạt được

- Tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

- Đầu tư và thu nhập trong sản xuất của hộ dân trong vùng

2.2 Chọn 6 giống lúa mới triển vọng ở đồng bằng sông Cửu Long và một giống đối chứng tại địa phương

Chọn 5 giống lúa cao sản trong bộ giống triển vọng của TS Nguyễn Thị Lang tại Viện Lúa ĐBSCL, 01 giống lúa của Trường Đại Học Cần Thơ và 01 giống đối chứng tại địa phương

Trang 17

2.3 Khảo nghiệm 7 giống đã chọn ở trên tại 2 vụ Đông Xuân 2008-2009 và Hè Thu 2009

- Quy mô khảo nghiệm: Mỗi điểm 0,4 ha gồm 7 giống

- Cách bố trí khảo nghiệm: Bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên 3 lần lặp lại

- Theo dõi quá trình phát triển cây lúa lấy các chỉ tiêu:

+ Khả năng sinh trưởng: Thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số chồi/m2, số hạt chắc/bông, số bông/khóm

+ Năng suất: Năng suất thực tế, trọng lượng 1000 hạt

+ Khả năng chống chịu: chịu hạn và chịu phèn

+ Nhiễm sâu bệnh: đạo ôn và rầy nâu

Cách lấy chỉ tiêu trên cây lúa: Lấy theo từng lô, mỗi giống lấy 3 lần lặp lại

- Phương pháp khảo nghiệm có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật:

+ Quy trình gieo cấy mạ sân (xem phụ lục 1)

+ Chương trình 3 giảm, 3 tăng (xem phụ lục 1)

+ Công thức phân sử dụng: 90N – 60P2O5 – 50K2O, Cách bón phân (xem phụ lục 7)

- Thống kê các chỉ tiêu và phân tích hàm lượng amylose và độ bạc bụng

+ Thống kê sự khác biệt có ý nghĩa hay không có ý nghĩa giữa giống đối chứng và các giống đưa vào khảo nghiệm với các chỉ tiêu đã lấy

+ Phân tích hàm lượng amylose và độ bạc bụng xem chất lượng gạo

2.4 Xây dựng mô hình trồng lúa cao sản chất lượng cao:

- Trên cơ sở các giống khảo nghiệm tại 2 vụ so sánh kết quả các chỉ tiêu đã lấy chọn ra

3 giống đạt hiệu quả cao nhất đưa vào xây dựng mô hình ở vụ Đông Xuân 2009-2010 Ghi nhận chỉ tiêu năng suất đạt được

- Quy mô xây dựng mô hình: Tổng diện tích 8 ha cho 4 điểm, mỗi điểm 2 ha

- Phương pháp xây dựng mô hình có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật:

+ Áp dụng sạ lúa theo phương pháp sạ hàng (xem phụ lục 1)

+ Áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng (xem phụ lục 1)

Trang 18

+ Tập huấn kỹ thuật sản xuất lúa cao sản chất lượng cao cho vùng nghiên cứu (Xem phụ lục 10)

+ Công thức phân sử dụng và cách bón phân giống như lúc khảo nghiệm tại 2

- Hiệu quả xã hội

- Hiệu quả môi trường

- Ghi nhận thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình

Có nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng gạo như: Hàm lượng amylose, độ bạc bụng, độ trở hồ, độ thơm, Ở đề tài này chỉ phân tích hai chỉ tiêu đại diện nhằm đánh giá gạo cứng cơm hay mềm cơm, độ bạc bụng nhiều hay ít Theo Nguyễn Thị Lang (2006) thì Tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất hạt gạo (IRRI 1996) (Bảng 2.1):

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá hàm lượng amylose và độ bạc bụng của IRRI (1996)

Chỉ tiêu đánh giá Cấp độ Chất lượng gạo Phần trăm

Trang 19

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NÔNG THÔN:

1 Tình hình chung:

Bốn xã trong vùng nghiên cứu: xã Tân Sơn - huyện Trà Cú, xã Long Thới - huyện Tiểu Cần, xã Mỹ Chánh - huyện Châu Thành và xã Bình Phú - huyện Càng Long đều có thế mạnh phát triển trồng lúa, diện tích trồng lúa chiếm đa số so với các

cơ cấu cây trồng khác

Người dân địa phương trong vùng nghiên cứu đa phần canh tác lúa theo phương pháp truyền thống, rất ít hộ nông dân áp dụng các quy trình sản xuất mới như 3 giảm,

3 tăng, Thời gian qua một số đề tài dự án đã khảo nghiệm và chọn tạo nhiều giống mới rất thành công của các nhà nghiên cứu trước đây nhưng so với nhu cầu giống của

xã hội thì vẫn chưa đáp ứng đủ, do đó không đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của địa phương về giống nhằm theo kịp sự phát triển trong nền nông ngiệp và khai thác tốt tiềm năng sản xuất

Một số giống chủ lực được dùng phổ biến như IR 50404, OM 4900, OM 576, VND 95-20, có đáp ứng được nhu cầu cung cấp lúa cao sản phục vụ cho xuất khẩu nhưng không nhiều nên nhìn chung nông dân sản xuất ra chỉ tiêu thụ cho thị trường nội địa là chính, vì thế mà thu nhập của người nông dân còn thấp

2 Kết quả sản xuất lúa năm 2008 nơi thực hiện đề tài:

Điều tra được tiến hành ngẫu nhiên tại 4 điểm nghiên cứu: Xã Tân Sơn (Trà cú):

Cơ cấu giống: Người dân sử dụng giống lúa tại 4 điểm nghiên cứu: Nhìn chung nông dân trong vùng có nhiều kinh nghiệm sản xuất lúa, loại hình canh tác lúa nước, các giống sử dụng đa phần là các giống cũ như IR 50404, OM 567, CL8, VND 95-20, một số hộ canh tác các giống mới chất lượng cao như OM 6162, OM 4900, OM 5981 nhưng chiếm tỷ lệ không lớn Đa phần người dân trong vùng thích chạy theo năng suất cao mặc dù chất lượng gạo của giống không được tốt, cụ thể cơ cấu giống các điểm nghiên cứu (xem Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Cơ cấu giống lúa tại 4 điểm nghiên cứu của đề tài năm 2008

Trang 20

3 Xã Tân Sơn - huyện

Trà Cú

OM 4900, OM 576, OM 4498, OM

4668, OM 3536, OM 5930, AS 996, VND 95-20, MTL 384, OM 2517

xã Tân Sơn (Trà Cú), đạt 5,5 tấn/ha vì có một số hộ nằm trong Tổ sản xuất giống lúa

đã được hướng dẫn sản xuất theo quy trình sản xuất giống nên năng suất tương đối cao hơn các vùng khác; đứng thứ hai là xã Bình Phú (Càng Long) đạt 4,97 tấn/ha; đứng thứ ba là xã Long Thới (Tiểu Cần) đạt 4,41 tấn/ha và thấp nhất là xã Mỹ Chánh (Châu Thành) đạt 4,00 tấn/ha (Xem Bảng 3.1 và phụ lục 5)

3 Kết quả phân tích tài chính tại 4 điểm nghiên cứu cho sản xuất lúa:

Về hiệu quả kinh tế tại 4 điểm nghiên cứu với cơ cấu sản xuất lúa: Nhìn chung nông dân trong vùng đã có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lúa 2 vụ hay 3 vụ Trong năm 2008 do biến động giá chi phí đầu tư trong sản xuất tăng cao nhưng giá lúa đầu ra lại thấp giao động từ 2800 đồng đến chưa tới 4000 đồng/kg lúa nên hiệu quả thu nhập của một số hộ đôi khi bị thua lỗ, bình quân trong 4 vùng nghiên cứu có nơi lợi nhuận thu được rất thấp như xã Mỹ Chánh (Châu Thành) và xã Long Thới (Tiểu Cần) (Xem Bảng 3.2 và phụ lục 5)

Bảng 3.2 Kết quả phân tích tài chính cho 4 điểm nghiên cứu với cơ cấu lúa

Trang 21

có nơi lúa không bán được, các giống khác thì giá thành cũng không cao khoản 3200đồng/kg-3600 đồng/kg (Trừ một số hộ sản xuất lúa giống thì giá bán trên dưới

6000 đồng/kg)

Thêm một nguyên nhân là do giá vật tư phân bón tăng rất cao trong năm 2008 nên hầu hết bà con nông dân đầu tư nhiều nhưng lợi nhuận rất thấp, thậm chí có khi bị thua lỗ Cụ thể xã Long Thới bình quân các hộ điều tra không có lời (-1,50 triệu đồng/ha), xã Mỹ Chánh thu thấp nhất và lợi nhuận thấp thứ hai đạt 1,51 triệu đồng/ha

II KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM VỤ ĐÔNG XUÂN 2008-2009 VÀ HÈ THU 2009:

1 Kết quả lấy các chỉ tiêu trên cây lúa:

1.1 Thời gian sinh trưởng:

Thời gian sinh trưởng của cây lúa: 7 giống lúa OM 6600, OM 5629, OM 6377,

OM 7926, OM 6071, MTL 513 và giống đối chứng VND 95-20 cho thấy thời gian sinh trưởng của 3 lần lặp lại trên một điểm khảo nghiệm của cùng loại giống là như nhau Sau đây là sự khác nhau về thời gian sinh trưởng của 7 loại giống khảo nghiệm xem Bảng 3.3

Bảng 3.3 Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của 7 loại giống khảo nghiệm vụ Đông Xuân 2008-2009 và Hè Thu 2009 Tên giống Vụ Đông Xuân 2008-2009 Vụ Hè Thu 2009

1 2 Chiều cao cây lúa:

Chiều cao cây của 7 loại giống khảo nghiệm nhìn chung tuỳ vào điều kiện thực

tế của từng vùng mà chiều cao có sự biến động lên xuống trung bình 4 điểm đạt như sau: ở Vụ Đông Xuân 2008-2009 giống lúa có chiều cao trung bình cao nhất là giống

OM 5629 đạt 103,5cm, đứng thứ nhì là giống OM 6377 đạt 102,2cm, đứng thứ ba là giống OM 6600 đạt 99,9cm, các giống này cao hơn so với giống đối chứng từ 13,0-16,6cm, giống có chiều cao thấp nhất là MTL 513 đạt 82,9cm, các giống còn lại chiều cao giao động từ 92,3-97,3 Đến vụ Hè Thu 2009 giống đạt chiều cao cao nhất vẫn là

Trang 22

OM 5629 đạt 100,0cm, thứ hai là OM 6600 đạt 98,0cm, thứ ba là OM 7926 đạt 97,3cm, giống thấp nhất vẫn là MTL 513 đạt 80,9cm (xem Hình 3.1 và phụ lục 4)

OM 7926

OM 5629

OM 6071

OM 6377

OM 6600

VND9 5-20

Đông Xuân 2008-2009

Hè Thu 2009

Hình 3.1 Chiều cao cây trung bình các giống tại 4 điểm trên

2 vụ Đông Xuân 2008-2009 và Hè Thu 2009 Bảng 3.4 Chiều cao cây trung bình của các giống khảo nghiệm hai vụ Đông Xuân 2008-2009 và Hè Thu 2009 khi so sánh sự khác biệt

Tên giống Chiều cao

trung bình các giống

Xã Tân Sơn (cm) Xã Bình Phú

(cm)

Xã Mỹ Chánh (cm)

Long Thới (cm)

MTL513

81,9 81,00c 93,33 bc 87,67d 77,67d 80,00c 73,67e 75,00c 8700b OM7926

95,4 94,33ab 101,3b 89,00cd 96,67ab 96,67a 93,33bc 94,00ab 98,00a OM5629

101,8 100,7a 111,7a 98,33a 100,7a 98,33a 99,67a 102,7a 102,0a OM6071

93,6 95,67ab 100,3bc 91,00bcd 89,00bc 97,33a 92,00c 95,33ab 88,00b OM6377

97,3 94,00ab 102,3ab 97,67ab 97,33ab 88,00b 99,00ab 98,00ab 102,0a OM6600

99,0 98,67a 102,0b 95,67abc 99,00a 101,3a 99,00ab

* Trong cùng một cột, các chữ theo sau giống nhau khác biệt không ý nghĩa, các chữ khác nhau khác biệt ở mức ý nghĩa 5%.ĐX: Đông Xuân 2008-2009, HT: Hè Thu 2009

Qua Bảng 3.4 cho thấy 4 điểm khảo nghiệm nhìn chung đa số các giống ở vụ

ĐX 2008-2009 và HT 2009 đều có khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% so với giống đối

Trang 23

chứng VND 95-20, giống khác biệt ở mức cao nhất là OM 5629 (Tân Sơn: ĐX -100,7

20 đạt 332 chồi Đến vụ HT 2009 thứ tự các giống từ cao đến thấp có thay đổi nhưng giống đối chứng VND 95-20 vẫn thấp nhất đạt 357 chồi, đứng thứ nhất là MTL 513 đạt 408 chồi, thứ hai là OM 5629 đạt 402 chồi, thứ ba OM 6377 đạt 393 chồi, tiếp theo

là thứ tự các giống OM 7926, OM 6071, OM 6600

357 360

393

386 351

OM 7926

OM 5629

OM 6071

OM 6377

OM 6600

20

VND95-Đông Xuân 2008-2009

Hè Thu 2009

Hình 3.2 Số chồi/m 2 trung bình tại 4 điểm khảo nghiệm của 7 giống lúa vụ Đông Xuân 2008-2009 và vụ Hè Thu 2009

Ngày đăng: 25/03/2019, 20:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w