+ Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp khoa học phục vụ công tác bảo t n, phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Dao Quần Chẹt, nhằm góp phần xây dựng và phát triể
Trang 1QU N CHU HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
Mã số: ĐH2016-TN06-09
Chủ nhiệm đề tài: Ths.NCS Mai Thị Hồng Vĩnh
Thái Nguyên năm 2018
Trang 2QU N CHU HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
Mã số: ĐH2016-TN06-09
ác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Thái Nguyên năm 2018
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PH I H P CH NH
I Thành viên thực hiện đề tài
- GVC Hoàng Hoa Toàn : Khoa Lịch Sử - Trường Đại Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
- ThS Đỗ Hằng Nga: Bộ môn Lịch Sử - Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
II Đơn vị phối hợp thực hiện
- Sở Văn hóa TT&DL tỉnh Thái Nguyên
- Thư viện tỉnh Thái Nguyên
- Trung tâm học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Thư viện viện Dân tộc học
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ MỘT S QUAN NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THỜ C NG TỔ TIÊN 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Khái quát về địa bàn và người Dao Quần Chẹt tại điểm nghiên cứu 17
1.3 Một số quan niệm liên quan đến thờ cúng tổ tiên 28
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 T N NGƯ NG THỜ C NG TỔ TIÊN TRUYỀN TH NG 37
2.1 Thờ cúng tổ tiên cộng đ ng 37
2.2 Thờ cúng tổ tiên dòng họ 46
2.3 Thờ cúng gia tiên trong nhà chòi 66
Tiểu kết chương 2 71
CHƯƠNG 3 NHỮNG BIẾN ĐỔI VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ TRONG THỜ C NG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CH T HIỆN NAY 72
3.1 Biến đổi trong thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt 72
3.2 Giá trị của thờ cúng tổ tiên trong đời sống người Dao Quần Chẹt 87
3.3 Một số vấn đề đặt ra về bảo t n và phát huy giá trị tín ngưỡng hiện nay 96
3.4 Kiến nghị và giải pháp nhằm bảo t n, phát huy các giá trị của thờ cúng tổ tiên trong đời sống người Dao Quần Chẹt hiện nay 103
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CB VH – XH Cán bộ văn hóa - xã hội
11 TT- BVHTTDL Thông tư - Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch
13 UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 6ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: T n ng ng th ng t tiên ng i D o u n Ch t - tru n th ng
v i n đ i (qu nghiên u tr ng h p ng i D o u n Ch t t i u n Chu,
hu n i T , t nh Th i Ngu ên)
- Mã số: ĐH2016-TN06-09
- Chủ nhiệm đề tài: Ths NCS Mai Thị Hồng Vĩnh
- Tổ chức chủ trì: Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: 8/2016 - 8/2018
2 Mục tiêu:
+ Góp phần tìm hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn đời sống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong xã hội truyền thống và hiện tại
+ Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp khoa học phục vụ công tác bảo t n, phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Dao Quần Chẹt, nhằm góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
3 Tính mới tính sáng tạo:
- Góp phần cung cấp những tư liệu mới về thờ cúng tổ tiên trong truyền thống và
biến đổi của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu với ba cấp độ gia đình, dòng họ và cộng đ ng, nhằm giúp cho việc hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng và văn hóa người Dao Quần Chẹt ở địa phương nói chung
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy vai trò của thờ cúng tổ tiên phục vụ công tác bảo t n, phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở
Trang 7người Dao Quần Chẹt, nhằm góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
4 Kết quả nghiên cứu:
- Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm phục vụ công tác hoạch định và thực hiện chính sách bảo t n, phát huy các giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của người Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên hiện nay
5 Sản phẩm:
5.1 Sản phẩm khoa học:
Có 05 bài báo đăng trên tạp chí Khoa học Quốc gia
1 Mai Thị H ng Vĩnh (2016), “Hình ảnh ngôi miếu trong đời sống tín ngưỡng của người Dao Quần Chẹt (Nghiên cứu ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)”,
Tạp chí Nghiên u ông N m Á, số11 (200), tr 68 – 73
2 Mai Thị H ng Vĩnh (2017), “Các hình thức tảo mộ của người Dao Quần Chẹt ở
xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí D n tộc học, số 2 (200),
tr 74 - 79
3 Mai Thị H ng Vĩnh (2017), “Một số giá trị trong tín ngưỡng của người Dao
Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên hiện nay” T p h
Thông tin Kho họ X hội, số 09 (417) ), tr 34 – 41
4 Đàm Thị Uyên, Mai Thị H ng Vĩnh (2017), “Tục thờ cúng tổ tiên dòng họ của
người Dao Quần Chẹt ở Đại Từ, Thái Nguyên, T p h Văn hó Ngh thuật, số 401, tháng 11 – 2017, tr 17 – 20
5 Mai Thị H ng Vĩnh, Lương Thị Hạnh, Đỗ Hằng Nga (2017) “Tín ngưỡng liên quan đến h n lúa của người Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên”, Kỷ y u Hội Thảo Cấp Qu c gia, Vi n D n tộc học, Nxb Khoa học
Xã hội
* Có 01 bài báo đăng trên tạp chí KH&CN - Đại học Thái Nguyên
Trang 86 Mai Thị H ng Vĩnh (2017), “Lễ tết nhảy của người Dao Quần Chẹt ở xã Quân
Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa họ v Công ngh Th i
Ngu ên, Tập 163, số 03/1, tr 77 – 82
5.2 Sản phẩm đào tạo
* Có 01đề tài sinh viên NCKH đã nghiệm thu:
1 Giàng Thị Hương (2016), T n ng ng th ng t tiên ng i Hmông X nh ở
Tùng V i, hu n Quản B , t nh H Gi ng, Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học, Trường
Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
* Đề tài là một phần trong Luận án tiến sĩ của chủ nhiệm đề tài đã được bảo vệ:
Tên luận án: T n ng ng c nhóm D o u n Ch t ở u n Chu, Hu n i T ,
t nh Th i Ngu ên
6 Phương thức chuyển giao địa chỉ ứng dụng tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu:
- Khả năng p dụng: góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan chức năng
xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm bảo t n, phát huy giá trị tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng tại địa phương hiện nay
- Ph ơng th c chuyển giao k t quả nghiên u: kết quả nghiên cứu của đề tài là
ngu n tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu cho cán bộ, sinh viên thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội như: chuyên ngành Dân tộc học, Việt Nam học, văn hóa học, Lịch Sử Việt Nam
Trang 9INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Ancestor worship of the Dao ethnic group - tradition and
transformation (through the study of the Dao ethnic group in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province)
Code number: ĐH2016- TN06 - 09
Coordinator: MA.PhD Student Mai Thi HongVinh
Implementing institution: TNU - University of Sciences
Duration: from August/2016 to August/2018
2 Objective(s):
+ Contribute to fuller and deeper understanding of the ancestor worship of the Dao group in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province in traditional and present society
+ Suggest some scientific proposals and solutions to preserving and promoting the values of ancestor worship in the Dao Chay Group, in order to contribute to the socio-economic development and development of this ethnic group in the context of industrialization, modernization of the country and international integration today
3 Creativeness and innovativeness:
- Contribute to the provision of new material on the ancestor worship in the tradition and the transformation of the Dao ethnic group in Quan Chu with three levels of family, clan and community, to help better understand the faith of worshiping ancestors in particular and the culture of Que Dao in the local general
- Contributes to clarifying the influential factors and issues facing the ancestor worship of Dao ethnicity in the study area in the present context
4 Research results:
- The thesis contributes to the provision of scientific basis for planning and implementing the policy of preservation and enhancement of religious values of ancestor worshipping in the cause of socio-economic development of The Dao Quan Chet in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen Province today
Trang 105 Products:
5.1 Scientific publications:
There are 03 published papers:
1 Mai Thi Hong Vinh (2016), "The image of temples in religious life of Dao Quan Chet (Research in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province)", Journal of Southeast Asian Studies, 11 (200), pp 68-73
2 Mai Thi Hong Vinh (2017), "Forms of graves of Dao Quan Chet in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province", Journal of Ethnology, No 2 (200), pp 74 - 79
3 Mai Thi Hong Vinh (2017), "Some Values in the Faith of Dao Quan Chet in Quan Chu Commune, Dai Tu District, Thai Nguyen Province." Journal of Social Science Information No 09 417), pp 34 – 41
4 Dam Thi Uyen, Mai Thi Hong Vinh (2017), "Ancestor worship, the family of the Dao Quan Chet in Dai Tu, Thai Nguyen, Journal of Culture and Arts 401, November – 2017, pp 17 – 20
5 Mai Thi Hong Vinh, Luong Thi Hanh, Do Hang Nga (2017) "Beliefs related to the soul of rice Dao Quan Chet in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province", National Conference Family, Institute of Ethnology, Publishing House Social science
5.2 Training results:
* 01 scientific research student:
Mai Thi Hong Vinh (2017), "Festive dance of Dao Quan Chet people in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen province", Journal of Science and Technology, Vol 163, pp 77 – 82
* 03 under graduation thesis:
Giàng Thị Hương (2016), Ancestral worship of the Hmong Xanh in Tung Vai
commune, Quan Ba district, Ha Giang province, Student research project, College
of Sciences - Thai Nguyen University
* The project is part of the coordinator’s PhD thesis:
Title of the thesis: The belief of The dao Quan Chet in Quan Chu Commune, Dai Tu District, Thai Nguyen Province
Trang 116 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of reserach results:
- Ability to apply: The thesis contributes to the provision of scientific basis for planning and implementing the policy of preservation and enhancement of religious values of ancestor worshipping in the cause of socio-economic development of The Dao Quan Chet in Quan Chu commune, Dai Tu district, Thai Nguyen Province today
- The result of the thesis is a reference source for teaching and studying for lecturers and students in Sociological area, especially in the major of Vietnam Study, History, Anthroology
March 15 2018
Implementing Institution Author
Doc Mai Thi Hong Vinh
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực thúc đẩy xã hội phát triển, trong đó tín ngưỡng nói chung và thờ cúng tổ tiên nói riêng với tư cách là một thành tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có vai trò cố kết giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, cộng đ ng, tạo nên sức mạnh xã hội rộng lớn Xét ở một góc độ khác, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên góp phần bảo t n và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống cũng như điều chỉnh, định hướng các chuẩn mực và ứng xử xã hội Thờ cúng tổ tiên là truyền thống có sức sống lâu bền trong cộng đ ng các dân tộc Việt Nam, chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, văn hóa tốt đẹp Do đó, trong Nghị
quyết 25-NQ/ngày 12/03/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nêu: “Giữ
Trong 54 dân tộc ở nước ta, người Dao cư trú rải rác từ khu vực miền núi biên giới Việt – Trung, Việt – Lào cho tới một số tỉnh trung du Bắc bộ và hiện nay một bộ phận
di cư vào Tây Nguyên, nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở một số tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ, trong đó có Thái Nguyên Người Dao ở Thái Nguyên g m có ba nhóm: Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang và Dao Đỏ Xã Quân Chu, huyện Đại Từ là địa bàn tập trung khá đông người Dao Quần Chẹt Nhóm Dao Quần Chẹt ở Thái Nguyên, trong quá trình hội nhập với các dân tộc anh em trong cùng lãnh thổ Việt Nam, đã duy trì những nét
Trang 13văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng của tộc người Một trong những biểu hiện sâu đậm về đặc trưng văn hóa đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được lưu giữ khá lâu bền trong đời sống tộc người Tuy nhiên, hiện nay trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập, văn hóa của các tộc người ở nước ta, một mặt tiếp thu các giá trị văn hóa mới nhằm phù hợp với xã hội hiện đại, nhưng mặt khác cũng đặt ra vấn
đề cấp bách đòi hỏi cần phải giải quyết đó là sự biến đổi nhanh chóng các giá trị văn hóa Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu tất yếu nằm trong lôgic tổng thể ấy
Từ trước đến nay, nghiên cứu về người Dao ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học quan tâm trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là về lịch sử và ngu n gốc tộc người, trang phục, nhà cửa, nghi lễ, phong tục tập quán,… Tuy nhiên, đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu (Đại Từ, Thái Nguyên) cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, vì vậy đề tài nghiên cứu là hoàn toàn mới
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề tài “T n ng ng th ng t tiên ng i D o
u n Ch t - tru n th ng v i n đ i (qu nghiên u tr ng h p ng i D o u n
Ch t t i u n Chu, hu n i T , t nh Th i Ngu ên)” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn thiết thực, như: góp phần nhận diện bức tranh về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong truyền thống và biến đổi hiện nay; cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ công tác hoạch định và thực hiện chính sách bảo t n, phát huy vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài
+ Góp phần tìm hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn đời sống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong truyền thống và hiện tại; giá trị và những vấn đề đang đặt ra đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của nhóm Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
+ Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp khoa học phục vụ công tác bảo t n, phát huy những giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nhóm Dao Quần Chẹt,
Trang 14nhằm góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người này trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay
3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ một số quan niệm và thực hành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong truyền thống của người Dao Quần Chẹt;
- Làm rõ những biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt hiện nay và các yếu tố tác động đến sự biến đổi đó;
- Làm rõ một số giá trị và vấn đề đang đặt ra trong thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt hiện nay;
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp khoa học phục vụ công tác bảo t n, phát
huy những giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nhóm Dao Quần Chẹt hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Ph m vi không gi n: Địa bàn nghiên cứu của đề tài là xã Quân Chu, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên Sở dĩ chúng tôi chọn xã này để nghiên cứu bởi đây là nơi cư trú khá tập trung của người Dao Quần Chẹt ở Thái Nguyên (1.241 người) Trong đó,
đề tài chủ yếu khảo sát tại các xóm có đông người Dao Quần Chẹt cư trú ở Quân Chu, như: xóm Hòa Bình 2, xóm Chiểm 1, xóm Vang, xóm Cây H ng, xóm Dốc
Vụ, xóm Hàng Sơn Ngoài ra, đề tài còn khảo sát tại hai xã có người Dao Quần Chẹt cư trú của huyện Đại Từ, như xã Thông Nông, xã Tân Yên
Trang 15- Ph m vi th i gian: Các nội dung nghiên cứu trên được tìm hiểu trong cả xã hội
truyền thống và biến đổi hiện nay Mặc dù sự biến đổi của thờ cúng tổ tiên thường diễn ra trong một quá trình lâu dài, thời điểm so sánh giữa truyền thống và hiện tại rất khó phân định, song chúng tôi tạm thời xác định mốc thời gian biến đổi bắt đầu
từ năm 1986 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Nguồn tài liệu
- Ngu n tư liệu chính của đề tài được tác giả dựa trên những tài liệu, tư liệu
điền dã dân tộc học tại địa phương;
- Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố trên các sách chuyên khảo, bài
tạp chí, báo cáo khoa học, luận án và các tư liệu liên quan, nhất là về vấn đề tín ngưỡng nói chung và thờ cúng tổ tiên của người Dao nói chung và người Dao Quần Chẹt nói riêng ở Việt Nam để tham khảo, so sánh
- Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học hiểu biết về vấn đề này, đ ng thời tham khảo các tài liệu thống kê và lưu trữ của các
tổ chức ở Trung ương và địa phương
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- i n d d n tộc học: Đây là phương pháp chủ yếu được đề tài sử dụng để thu
thập thông tin trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu và thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của chủ thể văn hóa mà đề tài quan tâm Phương pháp này được thực hiện thông qua các kỹ năng như quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, ghi chép kết hợp sử dụng các kỹ thuật bổ trợ như chụp ảnh, ghi âm, quay phim, Để có thể thu thập thông tin hoàn thành luận án, đề tài đã tiến hành các đợt điền dã tại xã Quân Chu và một số xã có người Dao Quần Chẹt cư trú, như: xã Hoàng Nông, xã Tân Yên (huyện Đại Từ)
u n s t: Đây là phương pháp đầu tiên mà đề tài sử dụng khi đến địa bàn
nghiên cứu Mục đích là để nhận biết được cảnh quan, môi trường cư trú, cách bố trí
Trang 16làng bản của người dân; bước đầu nhận thức được hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân ở địa phương Đặc biệt, qua quan sát cho phép thu thập được thông tin ban đầu về đối tượng và địa bàn nghiên cứu nhằm định hướng chính xác hơn những vấn đề sẽ tìm hiểu qua các kỹ năng khác; đ ng thời đây cũng là một căn cứ có thể kiểm chứng trong quá trình xử lý các thông tin thu thập được từ chủ thể văn hóa một cách chính xác nhất
u n s t th m dự: Đề tài sử dụng phương pháp này với mục đích có thể ghi
chép một cách hệ thống các hành vi, đặc điểm của người tham gia nghi lễ cũng như
đ lễ và cách bày biện, sắp đặt, trang trí không gian tổ chức nghi lễ Cụ thể, đề tài
đã quan sát tham dự trong các dịp lễ, như: tết nhảy, tảo mộ tượng trưng, tết tháng năm, tết tháng bảy, nghi lễ cúng thần, cầu mùa ở miếu làng và ở nhà ông Mo, Trong những lần quan sát trực tiếp các nghi lễ, đề tài kết hợp ghi chép, phỏng vấn những người cùng tham gia như thầy cúng, các đối tượng thụ lễ, người tham dự về những gì đang diễn ra, mục đích ý nghĩa của các hành vi Thông qua quan sát tham
dự, tác giả được chứng kiến các nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng diễn ra tại chính địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, nhờ có quan sát tham dự tác giả có thể rút ra những kinh nghiệm trong phương pháp tiếp cận chủ thể văn hóa để khai thác thông tin một cách hiệu quả nhất
Phỏng vấn s u: Đối tượng chính được chọn phỏng vấn sâu g m: thầy cúng,
trưởng họ, người già am hiểu phong tục tập quán của cộng đ ng tại những địa bàn tập trung đông người Dao Quần Chẹt sinh sống ở Quân Chu Bên cạnh đó, cán bộ
xã, cán bộ thôn/xóm, những người trực tiếp tham gia vào nghi lễ, thanh niên người Dao Quần Chẹt, những người dân tộc khác nhưng thường xuyên có mối quan hệ với người Dao Quần Chẹt tại địa phương cũng được quan tâm phỏng vấn Nội dung phỏng vấn sâu được thiết kế theo các vấn đề chính của đề tài Đề tài kết hợp phỏng vấn đương đại và h i cố để khôi phục một cách tương đối đầy đủ về quan niệm, nhận thức, tâm lý và hành vi của người Dao Quần Chẹt liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong truyền thống và biến đổi
Thảo luận nhóm: Với mục đích tiếp cận ý kiến nhiều chiều của chủ thể văn hóa,
hiểu được tâm tư nguyện vọng của họ liên quan đến hoạt động thờ cúng tổ tiên, tác
Trang 17giả đã tiến hành các cuộc thảo luận nhóm, g m: nhóm người già và nhóm thanh niên, nhóm nữ giới, nhóm nam giới
- Ph ơng ph p hu ên gi : Phương pháp này được áp dụng thông qua các cuộc
thảo luận, trao đổi trực tiếp theo từng vấn đề chuyên sâu, nhằm thu thập tư liệu, kinh nghiệm nghiên cứu từ các chuyên gia
- Ph ơng ph p h th ng, ph n t h, so s nh, t ng h p: Đề tài sử dụng phương
pháp này nhằm xử lý các ngu n tài liệu thu thập được, kết hợp với so sánh đ ng đại
và lịch đại nhằm tìm ra sự tương đ ng và khác biệt trong đời sống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt so với một số nhóm Dao khác Trên cơ sở
đó, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp để nhận diện những đặc điểm cơ bản trong sinh hoạt thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt ở địa phương
Ch ơng 2: T n ng ng th ng t tiên tru n th ng
Ch ơng 3: Bi n đ i, gi trị v những vấn đ đặt ra, ki n nghị, giải ph p
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ MỘT S QUAN NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THỜ C NG TỔ TIÊN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Dao ở Việt Nam
Nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam, được các học giả người Pháp quan tâm nghiên cứu từ khá sớm Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhằm phục vụ cho việc cai trị của thực dân Pháp, một số cha cố và sĩ quan Pháp đã có những cuộc công cán, tìm hiểu, ghi chép về người Dao Trong đó, đáng chú ý là các bài viết của
Bonifacy: “Một cuộ ông n ở vùng ng i M n t th ng m i 1901 đ n cu i
th ng giêng 1902” [4], “Giản h v ng i M n C o L n” [5] Tuy nhiên, trong các
bài viết tác giả thường đứng trên quan điểm của chủ nghĩa thực dân, xem người Dao
là dân tộc lạc hậu cần được khai hóa văn minh Maurice Abadie trong công trình
“Les Mans du Haut - Tonkin” [107] được công bố vào năm 1922, đã mô tả khái quát
về đặc điểm văn hóa của người Dao và cho rằng các dân tộc Pà Thẻn, Sán Dìu, Cao Lan cùng nằm trong khối cộng đ ng dân tộc Dao, nên ấn phẩm này chưa đi sâu nghiên cứu về đời sống tín ngưỡng của từng nhóm Dao Năm 1982, học giả người
Pháp Jacques Lemoine xuất bản cuốn sách với tiêu đề “Yao ceremonial paintings”
[104], tuy không nghiên cứu trực tiếp đến người Dao ở Việt Nam, song đã đề cập đến sự ảnh hưởng của Đạo giáo trong đời sống tín ngưỡng của tộc người Dao nói chung
Ở Trung Quốc, nhà nghiên cứu Ngọc Thời Giai với bài viết “Di ng i
Dao xu ng iên giới T N m Trung u v một s n ớ ông N m Á trong th i
kỳ Minh, Thanh” [23] đã tổng hợp các tài liệu thư tịch, gia phả, tín ca, văn học
truyền miệng để khái quát quá trình di cư của người Dao trong phạm vi các địa phương ở Trung Quốc và ra nước ngoài, trong đó có Việt Nam Tại Hội thảo Quốc
tế lần thứ VII về người Dao được tổ chức ở Thái Nguyên (1995), học giả Trương
Hữu Tuấn có báo cáo: “Mấy vấn đ v ng i D o di v o Vi t Nam” [79], tham
luận này đã cung cấp thêm những nội dung khoa học về con đường, nguyên nhân di
cư vào Việt Nam cũng như sự biến đổi về văn hóa của họ sau khi di cư Cũng tại
Trang 19Hội thảo này, nhà nghiên cứu người Pháp Jacques Lemoine với bài viết: “Kh i qu t
v di sản văn hó D o v hi n đ i hó ở Vi t Nam” [38] đã đề cập tới đặc điểm tín
ngưỡng tôn giáo của người Dao ở hai phương ngữ Mi n và Mùn, đ ng thời khẳng định:“Sự đ d ng c nhóm ùng ản sắ riêng a mỗi nhóm l đặ điểm
1.1.2 Nghiên cứu của các học giả trong nước về người Dao và tín ngưỡng của người Dao
Thờ cúng tổ tiên là một hình thái của tín ngưỡng gắn bó lâu đời trong mỗi cộng
đ ng các tộc người ở nước ta Đối với người Dao, thờ cúng tổ tiên không phải là lĩnh vực mới mẻ với các nhà khoa học Tuy nhiên, vấn đề này phần lớn được đề cập mang tính l ng ghép thông qua các nghiên cứu về văn hóa như: trang phục, nhà cửa, các nghi lễ trong chu kỳ đời người, nên số lượng các công trình nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên của người Dao nói chung không nhiều so với các lĩnh vực khác Dựa vào ngu n tài liệu mà chúng tôi thu thập được, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu mang tính chuyên biệt về thờ cúng tổ tiên của dân tộc Dao nói chung và từng nhóm địa phương nói riêng Do đó, đề tài chủ yếu tổng quan các công trình nghiên cứu về văn hóa, tín ngưỡng người Dao; văn hóa, tín ngưỡng người Dao Quần Chẹt nhằm thông qua đó khảo cứu vấn đề nghiên cứu chính của đề tài là thờ cúng tổ tiên
1.1.2.1 C nghiên u v văn hó v t n ng ng c ng i Dao
Ngay từ thời Phong Kiến, người Dao đã được phản ánh trong “ i nam nhất
th ng h ” [59] do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, trong đó có đề cập đến
người Mán (Dao) ở Thái Nguyên: “M n Sơn - Man hằng năm thu nhập đ c bao
nhiêu l thì t nh nh n khẩu để đ ăn, òn th đ m đ i lấy b ,…m n o Ti n
Trang 20trong nh th th n B n C Th nh v ơng khi sinh on hoặc trai hoặ g i đ u m l n
t th n” [59, tr.155] Tuy nhiên, do ngu n tư liệu hạn chế nên những công trình này
thường dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát một số đặc điểm về tên gọi, phong tục
tập quán, trang phục ở nước ta thời bấy giờ của người Dao nói chung
Năm 1971 chuyên khảo “Ng i Dao ở Vi t Nam” [20] của nhóm tác giả Bế
Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến đã phản ánh diện mạo của người Dao ở Việt Nam một cách tương đối toàn diện với các nội dung phong phú và được miêu tả khá chi tiết, từ tên gọi, ngu n gốc lịch sử đến những sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa vật chất và tinh thần, Những kết quả nghiên cứu của công trình này cho đến nay vẫn có giá trị khoa học trong việc tìm hiểu về tộc người Dao ở nước ta, nhất là so sánh giữa truyền thống và hiện tại
Trên cơ sở tổng hợp những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc, năm 2002
Diệp Đình Hoa đã biên soạn công trình “Ng i Dao ở Trung Qu c” [35] Nội dung
cuốn sách được chia làm 6 chương, trong đó tác giả tập trung thể hiện văn hóa của người Dao ở Trung Quốc một cách toàn diện trên các mặt: cuộc sống vật chất, phong tục tập quán, xã hội, văn hóa, giáo dục Đ ng thời, luận giải tính truyền thống và hiện đại trong văn hóa của tộc người Dao với nhiều yếu tố liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng: vấn đề Bàn Vương, vấn đề Đạo giáo là một trong những nét văn hóa vừa có sự biến đổi để thích nghi vừa giữ lại được các đặc trưng truyền thống để tạo nên bản sắc riêng trong văn hóa người Dao ở Trung Quốc Công trình này là ngu n tư liệu quý báu về đời sống của người Dao ở Trung Quốc, thông qua
đó đề tài có thể so sánh với người đ ng tộc của họ ở Việt Nam
Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn trong cuốn “Ng i Dao trong cộng đồng d n tộc
Vi t Nam” [78] đã có sự kết hợp giữa việc dựng lại bức tranh văn hóa của tộc người
Dao trên các mặt: ngôn ngữ - văn tự, trang phục, nhà cửa, cưới xin tang ma, văn học nghệ thuật, kết quả đã góp phần làm nổi bật vai trò của người Dao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Trong tác phẩm này, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao được thể hiện qua các nghi lễ, lễ tiết truyền thống, từ đó
nhóm tác giả khẳng định: “Tr ớc khi ti p với tôn gi o Trung Hoa (Phật,
L o, o) ng i D o đặt ra những hình th i lễ nghi thu n D o để t ởng nhớ, t ơn
Trang 21t tiên đ ó ông th nh lập v ph t triển dòng họ v tri n ông h m đ sinh
d ng mình gi ” [78, tr.127] Tuy vậy, tác phẩm này mới dừng lại ở việc khái
quát một số vấn đề về văn hóa của người Dao nói chung mà chưa nghiên cứu sâu và mang tính tổng thể về các loại hình tín ngưỡng của họ, nhất là cho từng nhóm Dao
cụ thể
Trong kỉ yếu hội thảo “Sự ph t triển văn hó - hội c ng i Dao: hi n t i
v t ơng l i” (hội thảo quốc tế thứ 7 về người Dao, tổ chức tại Bắc Thái năm 1998)
đã tập hợp nhiều nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế viết về người Dao ở Việt Nam và một số nước, như: Trung Quốc, Lào, Mỹ,… Nội dung của những bài viết này đã đi sâu nghiên cứu về các nhóm Dao ở từng địa phương cụ thể trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa Trong đó, tôn giáo tín ngưỡng được đề
cập ở một số bài viết, như: “B n Hồ trong Folklor d n tộc Dao” [89] của Ngô Đức Thịnh; “V i trò tôn gi o trong vi c th ng nhất ý th c cộng đồng Dao” [98] của Đặng Nghiêm Vạn; “Tục cấp sắc c ng i D o v t nh gi o dục c nó”
[25] của Lê Sỹ Giáo;… Có thể nói, đây là những bài viết giới thiệu khá kỹ về một số lĩnh vực liên quan đến tín ngưỡng của người Dao của các học giả uy tín ở trong và ngoài nước
Bên cạnh các công trình tổng quan về người Dao ở Việt Nam, còn một số nghiên cứu chuyên sâu đề cập đến một hay một số lĩnh vực văn hóa tinh thần và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao nói chung hoặc một nhóm địa phương gắn
với địa bàn cụ thể ở nước ta, như: Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp Bộ về T n
ng ng d n gi n tộ ng i mi n n i ph ắc n ớc ta của Hoàng Hòa Toàn
[74] Trong báo cáo này, thờ cúng tổ tiên của người Dao được tác giả l ng ghép
trong phân tích các yếu tố của tín ngưỡng “B n V ơng đ c th ng hung với t
tiên a t ng dòng họ, t ng gi đình Ngo i vi c th ng h ng ng òn ó lễ
ng B n v ơng riêng” [74, tr.11] và tác giả cũng dành một chương để viết về
tục cấp sắc của người Dao Đây là công trình cung cấp những cơ sở tư liệu phong phú trực tiếp về đời sống tín ngưỡng dân gian của các dân tộc ở miền núi phía Bắc nước ta, song lại không đi sâu vào một tộc người cụ thể, phạm vi khảo sát tương đối rộng là những hình thái tín ngưỡng còn t n tại trong đời sống các dân tộc cư trú ở miền núi phía bắc nước ta
Trang 22Trong cuốn“Văn hó tru n th ng ng i Dao ở H Gi ng” [37] do Phạm
Quang Hoan và Hùng Đình Quý đ ng chủ biên đã phản ánh bức tranh văn hóa truyền thống của người Dao ở Hà Giang một cách sinh động, cụ thể từ lịch sử tộc người, mối quan hệ dân tộc, các hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, tổ chức làng bản đến những nghi lễ gia đình, tín ngưỡng - tôn giáo, văn hóa dân gian, tri thức dân gian, Đặc biệt, nhóm tác giả không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về người Dao ở Hà Giang một cách chung chung mà trong từng nội dung đều có sự khảo tả khá chi tiết về văn hóa của từng nhóm Dao để thấy được những đặc trưng riêng của mỗi nhóm địa phương Trên cơ sở đó, văn hóa truyền thống của người Dao được phản ánh vừa mang tính toàn diện vừa sâu sắc Chính vì vậy, công trình này là ngu n tư liệu quý báu để chúng tôi tìm hiểu về văn hóa người Dao nói chung và tín ngưỡng của họ nói riêng
Cuốn sách “Nguồn g c lịch sử tộ ng i vùng iên giới ph Bắc Vi t Nam”
[38] do Nguyễn Chí Huyên chủ biên, năm 2000 đã nghiên cứu về người Dao dưới góc độ ngu n gốc lịch sử và quá trình thiên di vào Việt Nam Trên cơ sở đó, tác phẩm cung cấp tư liệu khoa học giúp cho người đọc nhận thức sâu sắc hơn về ngu n gốc cũng như quá trình thiên di của tộc người Dao đến Việt Nam qua các thời kỳ
Nhà nghiên cứu Lý Hành Sơn trong ấn phẩm “C nghi lễ ch y u trong chu kỳ
đ i ng i c nhóm D o Ti n ở Ba Bể, Bắc K n” [71] đã trình bày khá sinh động
những nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người, đ ng thời nêu lên quá trình biến đổi của các nghi lễ này ở nhóm Dao Tiền, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Các hoạt động tín ngưỡng mặc dù không được thể hiện một cách rõ nét, song trong từng nội dung nghiên cứu chính đã phản ánh đời sống tín ngưỡng của người Dao Tiền, như: quan
niệm về h n và thể xác, sự sống và cái chết “đồng o qu n ni m hồn l trung t m
c a thể s ng” [71, tr 216]; “hồn c ng i n o đó vĩnh viễn đi không trở v thì
ng i đó sẽ ch t”; “ng i ch t đ hó hình d ới d ng m v th ng s ng ở th giới kh d ới sự quản lý a t tiên” [71, tr 218]; và một số nghi thức thể hiện tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên qua nghi lễ tang ma, lễ cấp sắc, sinh đẻ, hôn nhân, Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đăng tải nhiều bài viết về phong tục tập quán của người
Dao trên Tạp chí Dân tộc học, như: “V i kh nh v t m lý ng i Dao Ti n
Trang 23(thể hi n qu tôn gi o t n ng ng)” [69]; “Lễ cấp sắ v ản sắ văn hó ng i Dao” [68], Đáng chú ý là trong bài viết “Lễ cấp sắ v ản sắ văn hó ng i Dao” tác giả đã nhấn mạnh người Dao chịu ảnh hưởng từ nhiều sắc thái tôn giáo mà
trước hết là Đạo giáo, ảnh hưởng của vật linh giáo và hình thái thờ cúng tổ tiên khá đậm nét
Năm 2003, ấn phẩm “Văn hó tru n th ng d n tộ T , D o, S n Dìu ở
Tu ên u ng” [21] do Nịnh Văn Độ chủ biên được công bố Ngoài trình bày khái
quát về tên gọi, địa bàn cư trú, cơ cấu xã hội, các nội dung chính của ấn phẩm này
đã đi sâu nghiên cứu về đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang mang tính đặc trưng của địa phương Thông qua đó, tác phẩm đã rút ra được những mặt tích cực, hạn chế và một số ứng dụng thực tiễn trong văn hóa truyền thống của người Dao ở Tuyên Quang bao g m cả yếu tố tín
ngưỡng Năm 2006, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam công bố ấn phẩm “Văn
hó phi vật thể c d n tộc ở vùng lòng hồ th đi n Tu ên u ng” [3] Trong
cuốn sách này, nội dung văn hóa tinh thần của người Dao với tư cách là một dân tộc chiếm số đông của tỉnh được miêu tả khá công phu, nhất là đời sống tín ngưỡng dân gian, như: quan niệm về thế giới và con người, tín ngưỡng liên quan đến bệnh tật, thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng nông nghiệp và một số tục lệ xã hội
Phạm Văn Dương trong sách “Th ng trong văn hó t n ng ng ng i Dao
Họ” [15] đã phân tích đời sống cá nhân, tiểu sử nghề nghiệp, con đường vào nghề
và hành nghề trong thế giới thần linh qua việc thực hiện các nghi thức cúng bái trong những nghi lễ truyền thống của thầy cúng người Dao Họ; đánh giá vai trò của các thầy cúng trong đời sống văn hóa tinh thần và sự phát triển của người Dao Họ hiện nay Mặc dù, công trình không đi sâu khảo cứu về tín ngưỡng của người Dao
Họ, nhưng thông qua nghiên cứu về thầy cúng đã góp phần làm rõ diện mạo các hoạt động tín ngưỡng và thực hành nghi lễ của nhóm Dao này ở Lào Cai
Vấn đề phát triển bền vững văn hóa tộc người là chủ đề đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các tác giả Vương Xuân Tình và Trần H ng
Hạnh đã đ ng chủ biên cuốn “Ph t triển vùng văn hó tộ ng i trong qu trình hội
nhập ở vùng ông Bắc” [75], với những nội dung chính được tập trung xem xét là
Trang 24đánh giá sự phát triển bền vững văn hóa các tộc người ở khu vực Đông Bắc trong quá trình hội nhập, trong đó có khảo sát nghiên cứu ở tỉnh Thái Nguyên và tộc người Dao Qua ngu n tư liệu thực tế, tính bền vững của vùng Đông bắc (trong đó
có tộc người Dao ở Lạng Sơn được nghiên cứu sâu sắc hơn) được đánh giá dựa vào các chỉ báo đã chỉ ra sự giao thoa tiếp biến văn hóa giữa các tộc người đang diễn ra, nhưng bản sắc văn hóa của từng tộc người trong trang phục truyền thống, văn học nghệ thuật truyền thống, tín ngưỡng truyền thống… vẫn còn được người dân và cộng đ ng duy trì Công trình này đã cung cấp những cơ sở khoa học cho việc tìm hiểu về văn hóa người Dao ở các địa phương khu vực Đông Bắc cũng như nghiên cứu văn hóa tộc người ở Thái Nguyên, nhất là xem xét đánh giá về sự vận động biến đổi văn hóa trong quá trình hội nhập để phát triển bền vững văn hóa tộc người hiện nay
Trần Hữu Sơn là một trong những nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu
về người Dao ở Việt Nam Trong đó, một số tác phẩm đáng chú ý là: “Lễ ới
ng i Dao Tuyển” [64]; “Tục ngữ, u đ ng i Dao” [65]; Nội dung của các
cuốn sách này đã cung cấp ngu n tư liệu quý báu về văn hóa tinh thần của người Dao, nhất là về bản sắc tộc người trong cưới xin, văn học nghệ thuật dân gian,… Bên cạnh đó, các nhà khoa học nước ta còn công bố nhiều bài viết trên các tạp
chí, như: “ i s ng t n ng ng c ng i Dao Họ ở L o C i” của Phạm Văn
Dương [15] đã khảo tả về thế giới quan, tín ngưỡng đa thần, các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp, những nghi lễ liên quan đến cộng đ ng, các nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người và một số đặc trưng trong đời sống tín ngưỡng của người Dao Họ ở Lào Cai, Các nét văn hóa riêng đó được tác giả giải thích là do phụ thuộc vào ngu n gốc lịch sử, môi trường, cảnh qua cư trú, hoàn cảnh xã hội
và giao lưu văn hóa Như vậy, bức tranh về đời sống tín ngưỡng của người Dao
Họ bên cạnh các đặc trưng riêng đ ng thời cũng chứa đựng những nét chung
trong văn hóa của người Dao ở Việt Nam Bài viết “T n ng ng tôn gi o a
ng i Dao ở Vi t N m” của Vương Duy Quang [61] với nội dung chính được chia
làm hai phần Trong phần thứ nhất, bài viết đề cập đến các hoạt động tôn giáo tín
ngưỡng truyền thống mà tác giả cho là có các hoạt động nổi bật g m: thờ cúng Bàn Vương và tổ tiên, lễ cấp sắc và tín ngưỡng tôn giáo liên quan đến nông nghiệp
Trang 25Trong đó, nội dung được trình bày có sự kết hợp giữa khảo tả và luận giải những vấn đề liên quan nhằm làm rõ bản sắc văn hóa của tộc người Dao Ở phần thứ hai, bài viết trình bày về sự biến đổi trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Dao,
mà cụ thể là sự xuất hiện những tôn giáo mới nhất là đạo Tin Lành và ảnh hưởng của nó trong đời sống của người Dao Tác giả không chỉ nghiên cứu về yếu tố văn hóa tín ngưỡng truyền thống mà còn chỉ ra được sự biến đổi để làm rõ bức tranh đa dạng trong đời sống tâm linh luôn biến đổi của người Dao ở Việt Nam trước đây và hiện nay
Tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa bàn cư trú khá đông người Dao, đã góp phần tạo nên sự phong phú trong bức tranh văn hóa của các dân tộc ở địa phương, do đó văn hóa tộc người Dao ở Thái Nguyên cũng là đề tài được nhiều học
giả quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau.Trong đó đáng chú ý là: “ ịa
h Th i Ngu ên” [76] đây là công trình công phu của tập thể tác giả cùng biên
soạn, đã cho người đọc tiếp cận một cách tổng thể các lĩnh vực về địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, các đơn vị hành chính của tỉnh Phần dân cư – dân tộc đã thể hiện được diện mạo của các thành phần dân tộc cư trú ở Thái Nguyên, g m: dân
số, phân bố dân cư, hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội, văn hóa tinh thần Trong đó, đời sống tín ngưỡng của cộng đ ng người Dao ở Thái Nguyên cũng được khai thác trên một số phương diện, như: quan niệm về thế giới quan, thờ cúng
tổ tiên, thờ ma bếp, thổ thần,… Tuy nhiên, công trình mới chỉ đề cập đến văn hóa người Dao nói chung mà chưa đi sâu vào từng nhóm địa phương và gắn với địa bàn
cụ thể ở các huyện, xã có dân tộc Dao cư trú
Năm 2011, Hà Thị Thu Thủy công bố công trình “Nghiên u tri th d n
gian c ng i Dao ở t nh Th i Ngu ên v đ xuất giải ph p ảo tồn, ph t hu bản sắ văn hó d n tộc” [91] Đối tượng nghiên cứu chính là tri thức dân gian
của các nhóm Dao ở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó có nhóm Dao Quần Chẹt Kết quả đã cung cấp ngu n tư liệu về thành phần các nhóm người Dao ở Thái Nguyên, bản sắc văn hóa và các tri thức dân gian trong một số lĩnh vực của đời sống tộc người Đặc biệt, tác giả đã đề cập một cách khái quát về các hình thức tín ngưỡng dân gian, như: thờ cúng tổ tiên, ma chay, các nghi lễ trong sản xuất và chăn nuôi, tục cấp sắc, Tuy nhiên, nội dung liên quan đến tín ngưỡng
Trang 26của người Dao ở Thái Nguyên hầu hết chỉ được đề cập mang tính chất l ng ghép với các nội dung khác nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu chuyên sâu về tri thức dân gian của tộc người
1.1.2.2 C nghiên u v ng i Dao Qu n Ch t v t n ng ng c a họ
Trong công trình “Ng i Dao Qu n Ch t ở mi n n i v trung du Bắc Bộ” [84]
do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên đã trình bày đời sống tín ngưỡng của người Dao Quần Chẹt một cách cụ thể và sinh động, g m: quan niệm về thế giới và con người; tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp; tục lệ và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; lễ cấp sắc Thông qua nghiên cứu, tác giả đã đi đến kết luận, đánh giá về sự vận động của văn hóa, đặc biệt là văn hóa tinh thần của người Dao Quần Chẹt ở trung du Bắc Bộ
trước sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan: “Văn hó ng i Dao
Qu n Ch t trong khu vự đ nghiên u đ ng thể hi n khả năng ph t triển bản sắc c mình trong đ i s ng hi n đ i: nhi u y u t văn hó tinh th n nh tục cấp sắc, t t nhảy, đ ng ti p tụ đ du trì v th h ng với đi u ki n s ng hi n đ i
c ộng đồng ng i Dao Qu n Ch t” [84, tr.196] Những kết quả của công
trình có giá trị so sánh, đối chiếu trong quá trình tìm hiểu về đời sống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao Quần Chẹt ở địa phương
Một trong những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa riêng của tộc người Dao nói chung và người Dao Quần Chẹt nói riêng chính là tri thức địa phương, vì vậy đây là lĩnh vực được các học giả quan tâm Năm 1999, tác giả Trần H ng Hạnh với đề tài
“Tri th đị ph ơng v h phòng v hữa b nh c ng i Dao Qu n Ch t ở óm
M , Tu Lý, Hu n Bắc, t nh Hò Bình” [29] đã cung cấp ngu n tư liệu dân
tộc học quan trọng về tri thức địa phương trong phòng và chữa bệnh của người Dao Quần Chẹt ở xã Tu Lý Theo đó, trong truyền thống chữa bệnh dân gian ngoài các cách chữa bệnh bằng thuốc nam, kinh nghiệm dân gian thì cách chữa bệnh bằng
“ma thuật” cũng t n tại khá phổ biến và chiếm một vai trò quan trọng trong đời
sống của đ ng bào
Năm 1997, tác giả Trần Văn Ái và Đỗ Đức Lợi qua đề tài khoa học cấp cơ sở
về “Tục cấp sắc c ng i Dao Qu n Ch t t nh Bắ Th i” [43] đã đi sâu nghiên
cứu lễ cấp sắc của người Dao Quần Chẹt ở tỉnh Bắc Thái cũ Thông qua lễ cấp sắc,
Trang 27tín ngưỡng Thờ cúng Bàn Vương vị thủy tổ của người Dao được thể hiện khá rõ nét, đ ng thời phản ánh đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Dao Quần Chẹt chịu ảnh hưởng của tam giáo, nhất là Đạo giáo Tuy nhiên, công trình này mới chỉ phản ánh một hoạt động tôn giáo tín ngưỡng cụ thể thông qua nghi lễ cấp sắc, mà chưa nghiên cứu tổng thể về tín ngưỡng của người Dao Quần Chẹt
Trong nghiên cứu về “Lễ tục c ng i Dao ở Vĩnh Ph v L o C i” [49] của
các tác giả Xuân Mai và Phạm Công Hoan đã đề cập một cách tổng thể văn hóa của người Dao Quần Chẹt ở Vĩnh Phúc Với ngu n tư liệu phong phú, đời sống tín ngưỡng của nhóm Dao Quần Chẹt được phác họa khá chi tiết một số nghi lễ, như: tục cấp sắc, tang ma và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp Song, chuyên khảo này mới chỉ dừng lại ở một số hình thức tín ngưỡng tiêu biểu mà chưa nghiên cứu toàn diện về đời sống tín ngưỡng của nhóm Dao Quần Chẹt ở Vĩnh Phúc
Ngoài ra, trong các Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Dân tộc học những năm 2005 [101] và 2006 [102] có một số bài viết liên quan đến người Dao Quần Chẹt nói
chung cũng như tín ngưỡng của họ nói riêng Đáng chú ý là các bài viết: “L ng ản
c ng i Dao Qu n Ch t ở Ph Thọ” của Nguyễn Ngọc Thanh (2004); “Tập
qu n, nghi lễ liên qu n đ n nh ở c ng i Dao Qu n Ch t Võ Mi u, huy n
Th nh Sơn, T nh Ph Thọ” của Trần Thu Hiếu (2005); “Y học c truy n c a phụ nữ
Dao Qu n Ch t Vì, hu n B Vì, t nh H T ” của Vũ Thị H ng (2005);
“C nghi lễ hôn nh n ng i Dao Qu n Ch t” của Vũ Tuyết Lan (2005);…
Đặc biệt là những bài viết liên quan đến các nghi lễ trong sinh hoạt tín ngưỡng của
người Dao Quần Chẹt ở một số địa phương, như: “Lễ nhằng chậm v nhằng chậm
đ o ng i Dao Qu n Ch t huy n Lập Th h, Vĩnh Ph ” của Phạm Đăng Hiến
(2004); “Lễ t t nhảy c ng i Dao Qu n Ch t Ng Ho ng, hu n Yên Lập, Ph
Thọ” của Phạm Thị Thiên Nga (2006); Trong những bài viết này, các tác giả đã
khảo tả khá chi tiết một số nghi lễ cụ thể trong đời sống tín ngưỡng của người Dao
Quần Chẹt với những sắc thái riêng mang tính địa phương Chính vì vậy, đây là
ngu n tài liệu quý báu để đề tài tham khảo và so sánh trong luận án
Qua các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước trên cho thấy, nghiên cứu
về văn hóa người Dao nói chung và tôn giáo tín ngưỡng nói riêng đã được nhiều tổ
Trang 28chức và nhà khoa học quan tâm Không ít công trình nghiên cứu khá công phu, tương đối toàn diện với ngu n tư liệu phong phú, có giá trị đã được công bố Từ đó, cho phép chúng ta hình dung được bức tranh tương đối toàn diện về người Dao ở Việt Nam nói chung và một số nhóm ở các địa phương cụ thể Tuy nhiên, do các tác giả chủ yếu vẫn tập trung nghiên cứu về ngu n gốc lịch sử, hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, các phong tục, tập quán và nghi lễ trong chu kỳ đời người… nên những công trình nghiên cứu mang tính chuyên biệt về thờ cúng tổ tiên còn hạn chế
Ở Thái Nguyên so với các dân tộc khác, như: Tày, Nùng, Sán Dìu những nghiên cứu về người Dao Quần Chẹt cho đến thời điểm hiện nay còn khá khiêm tốn, đặc biệt hầu như chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của nhóm Dao này Do vậy, mặc dù đề tài nghiên cứu là mới, nhưng những nghiên cứu đã công bố ở các mức độ khác nhau từ trước đến nay đều là ngu n tài liệu tham khảo quan trọng, có giá trị thiết thực giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này
1.2 Khái quát về địa bàn và người Dao Quần Chẹt tại điểm nghiên cứu
1.2.1 Về điều kiện tự nhiên xã Quân Chu
Quân Chu là xã miền núi nằm ở phía Nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm huyện gần 20km về phía Nam, cách thành phố Thái Nguyên hơn 20km về phía Tây Nam Phía Đông giáp với thị trấn Quân Chu (huyện Đại Từ); phía Tây qua các đỉnh của dãy núi Tam Đảo lần lượt giáp với các xã Đại Đình, Tam Quan, thị trấn Tam Đảo và xã Minh Quang (huyện Tam Đảo), xã Trung Mỹ (huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc); phía Nam giáp với xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên); phía Bắc giáp với xã Cát Nê (huyện Đại Từ) Với đặc điểm vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi để sQuân Chu có thể giao lưu về nhiều mặt với các xã khác trong huyện và những địa phương lân cận
Nằm dưới chân núi Tam Đảo, địa hình của xã Quân Chu khá phức tạp, nghiêng dần từ phía Đông Bắc sang phía Tây Nam; phía Tây và Tây Nam xã Quân Chu chủ yếu là dạng địa hình đ i núi cao, tiếp đến là dạng đ i bát úp và địa hình bằng phẳng,
độ cao trung bình khoảng 80m so với mực nước biển, phía Bắc và phía Đông là các
gò đ i nằm xen giữa các khu dân cư và những cánh đ ng có diện tích nhỏ hẹp Khu
đ i núi chủ yếu là đất đá gan trâu kết hợp đất đỏ bazan, khu ruộng phẳng bề mặt là
Trang 29lớp đất mầu, phía dưới là lớp đất đỏ bazan Ven theo triền núi Tam Đảo, nhân dân
đã khai phá nương bãi để tr ng chè và nhiều loại cây lương thực, cây công nghiệp khác Phần lớn đất ruộng trên địa bàn là đất dốc tụ trên nền đá mẹ gabro, độ PH trung bình từ 5 – 5,5, về cơ bản không có hiện tượng lún, sụt đất, việc làm đất tương đối dễ dàng [17, tr 9]
Quân Chu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song cũng mang một số đặc điểm khác biệt nhất định Khí hậu ở đây được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa đông có đặc điểm hanh khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này thời tiết lạnh, có những đợt gió mùa Đông bắc từ 7 ngày đến 10 ngày, lượng mưa ít nên thường thiếu nước cho cây tr ng vụ Đông Mùa hè nóng nực từ tháng 4 đến tháng
10, nhiệt độ cao lượng mưa lớn từ tháng 6 - 8, chiếm trên 70% lượng mưa của cả năm nên thường gây ngập úng ở một số địa bàn trong xã ảnh hưởng đến sản xuất Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,90C, lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000mm đến 2.500mm, phân bố không đều giữa các tháng và có sự chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô (mùa mưa chiếm tới trên 70% tổng lượng mưa cả năm), số giờ nắng trong năm dao động từ 1200 giờ đến 1500 giờ, được phân bố tương đối đ ng đều giữa các tháng trong năm Độ ẩm trung bình cả năm là 85%, độ ẩm cao nhất vào các tháng 6
- 8, độ ẩm thấp nhất vào tháng 11 và 12 hàng năm Sương mù bình quân từ 20 đến
30 ngày trong năm, sương muối xuất hiện ít Nhiệt độ trung bình năm từ 200
C -
220C, nhiệt độ cao nhất là 390C, nhiệt độ thấp nhất là 70C
Về thủy văn, đây là xã có hệ thống sông suối, khe rạch khá dày đặc, trong đó có
3 suối chính là suối Đá Đen, suối Chiểm và suối Vang đều bắt ngu n từ dãy núi Tam Đảo Từ suối Đền (hạ lưu), theo tỉnh lộ 261 đi vào khoảng 2,5km về phía Tây
là khu vực Đát Ngao với hệ thống thác nước có tổng chiều dài 2km, đỉnh núi phía trên thác có mặt bằng rộng và đẹp thích hợp cho việc xây dựng khu nghỉ dưỡng, rải rác trong các xóm có ao h , đầm nhỏ với độ sâu từ 1 - 2m, tập trung ở những xóm
có mật độ dân cư lớn Hệ thống suối, khe lạch và ao h của xã có tổng diện tích mặt nước trên 195 ha [17, tr.11] Những ngày mưa to nước lớn thường xảy ra hiện tượng
lũ cục bộ tại những khu vực quanh suối Một phần ngu n nước này phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế, xã hội của địa phương
Trang 30Toàn xã có 2.818,14 ha đất lâm nghiệp trong tổng số 4.041,19 ha diện tích tự nhiên (trong đó có 2.055 ha rừng đặc dụng thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, 260,91
ha rừng phòng hộ và 502,23 ha rừng sản xuất), có khoảng 90% là đ i núi với nhiều chức năng sử dụng khác nhau như đất ở, đất giao thông, đất thủy lợi, đất tr ng rừng, đất tr ng cây lâu năm,… Xã Quân Chu cùng 10 xã và thị trấn khác của huyện Đại
Từ thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, có thế mạnh về phát triển cây chè, cây ăn quả, đàn gia súc… gắn liền với những tiềm năng phát triển du lịch dọc theo triền đông dãy Tam Đảo
Những điều kiện tự nhiên nói trên có sự ảnh hưởng nhất định đến đời sống kinh
tế - xã hội của người Dao Quần Chẹt ở địa phương, từ đó gián tiếp tác động đến việc hình thành và biến đổi các đặc điểm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của họ
1.2.2 Dân cư, dân tộc, tên gọi và nguồn gốc lịch sử
- ặ điểm d n v d n tộc: Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở
1/4/2009, dân tộc Dao ở Thái Nguyên có 25.360 người chiếm 3,38% tổng số người Dao ở Việt Nam Căn cứ vào số liệu thống kê năm 2011 của Phòng Dân tộc huyện Đại Từ cho biết, tổng số người Dao của huyện là 4.152 người, trong đó xã Quân Chu có 1.241 người Dân tộc Dao cư trú ở Thái Nguyên g m ba nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt và Dao Lô Gang [76, tr 611] Dao Đỏ cư trú chủ yếu ở huyện Phú Lương và Đ ng Hỷ; Dao Lô Gang ở huyện Võ Nhai; Dao Quần Chẹt ở huyện Đại
Từ Ngoài ra, các nhóm Dao còn cư trú rải rác ở các huyện Định Hóa, Phú Lương, Phổ Yên, Phú Bình, Ở Quân Chu duy nhất chỉ có nhóm Dao Quần Chẹt cư trú Quân Chu là địa bàn sinh sống của các tộc người: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Thái,… và nhóm Dao Quần Chẹt Các tộc người cư trú theo hình thức xen kẽ, nhưng với người Dao Quần Chẹt họ vẫn có thói quen sống theo dòng họ thành những cụm riêng Chẳng hạn ở xóm Cây H ng, hiện nay người Dao Quần Chẹt chiếm 16/60 hộ, trong đó chỉ có dòng họ Đặng và chi Triệu Mốc, họ chủ yếu
là anh em, con cháu của vợ ch ng ông bà: Triệu Thị An và Đặng Văn Minh Người Dao Quần Chẹt sống tập trung ở 10/19 xóm của xã Quân Chu, g m: xóm Hòa Bình
1, xóm Hòa Bình 2, xóm Vang, xóm Cây H ng, xóm Chiểm 1, xóm Dốc Vụ, xóm Hàng Sơn, xóm Cây H ng, xóm Đ ng Hàng, xóm Bá Nghi Hình thức cư trú tập
Trang 31trung của người Dao Quần Chẹt ở địa phương phần nào phản ánh mối liên kết chặt chẽ trong dòng họ, cộng đ ng và là điều kiện để giúp đỡ nhau trong cuộc sống,
đ ng thời là cơ sở góp phần duy trì và thực hành các phong tục tập quán truyền thống của tộc người trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Mặt khác, hình thức cư trú xen kẽ là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự giao thoa văn hóa giữa người Dao Quần Chẹt với các tộc người khác cùng sinh sống
- Tên gọi: Theo các kết quả nghiên cứu, tên gọi Dao Quần Chẹt chủ yếu dựa
vào trang phục của người phụ nữ với đặc điểm: mặc quần ống hẹp, bó sát vào chân Ngoài ra, người Dao Quần Chẹt còn được gọi với các tên khác, như: Dao Sơn Đầu -
do trước đây người phụ nữ thường chải tóc bằng sáp ong nên gắn với cái tên Dao Sơn Đầu; Dao Tam Đảo - bởi trước khi đến cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ họ đã ở chân núi Tam Đảo (Vĩnh Yên); tại Yên Bái và Tây Bắc lại xuất hiện tên gọi Dao Nga Hoàng - vì trước đó họ cư trú tại xã Nga Hoàng (huyện Yên Lập, Vĩnh Phúc) [21, tr 32] Ở Quân Chu, người Dao Quần Chẹt và các tộc người
khác thường gọi họ là “ng i M n” để phân biệt với các tộc người cùng cộng cư
- Nguồn g c: Các nhà Dân tộc học ở Việt Nam và Trung Quốc đều khẳng định
dân tộc Dao có ngu n gốc từ phía nam Trung Quốc Theo kiến giải của Trần Quốc Vượng, người Dao vốn là cư dân khởi phát từ nhóm Đông - Việt xưa ở đất Châu Dương và Châu Kinh, nay là một phần đất thuộc các tỉnh Giang Tô, Giang Tây, Chiết Giang, An Huy và H Nam của Trung Quốc Khi sang Việt Nam, Trung du miền núi phía Bắc là địa bàn đến đầu tiên của tộc người này và đến nay vẫn là vùng
cư trú tập trung của người Dao ở Việt Nam Với ngu n gốc tộc người như vậy có thể phần nào lý giải tại sao trong tâm thức của các nhóm Dao đều có ý niệm rằng,
sau khi chết đi linh h n sẽ về với tổ tiên ở Dương Châu đại điện
Về thời gian và con đường di cư sang Việt Nam đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau Theo quan điểm của Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung,
Nguyễn Nam Tiến trong “Ng i Dao ở Vi t Nam” cho biết, người Dao sang Việt
Nam bằng đường bộ và đường thủy Đối với các nhóm Dao cư trú ở Tây Bắc đến Việt Nam bằng đường bộ vào thế kỉ XIII; các nhóm Dao ở Đông Bắc và một số tỉnh Trung du đến Việt Nam bằng đường thủy, quá trình thiên di bắt đầu từ thế kỉ XIII
Trang 32đến XX [19, tr 22] Gần đây nhất theo ngu n tài liệu thu thập từ cuốn sách cổ “ u
Sơn Bảng văn” của Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương đã khẳng định thêm thời
gian xuất hiện của người Dao ở Việt Nam là từ thế kỉ XIII [15, tr 23] Về ngu n gốc của nhóm Dao Quần Chẹt ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Viện Dân tộc học (1978) cho biết người Dao Quần Chẹt và người Dao Tiền có mặt ở các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tuyên, Bắc Thái là từ Quảng Đông và Quảng Yên Trung Quốc di
cư đến
Kết quả khảo sát gia phả của một số dòng họ người Dao Quần Chẹt ở địa phương và theo kết quả phỏng vấn sâu đối với các cụ già cho biết, người Dao Quần Chẹt vốn từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam, khi sang nước ta điểm đến đầu tiên là các vùng đất thuộc tỉnh Quảng Ninh, sau đó tản đi các địa bàn khác nhau, g m: Hòa Bình, Vĩnh Phúc (chủ yếu là khu vực Tam Đảo), Phú Thọ, Chẳng hạn, theo gia phả của họ Bàn ở Quân Chu cho biết ngu n gốc và quá trình di cư của họ như sau:
Như vậy, người Dao Quần Chẹt ở nước ta từ Trung Quốc thiên di sang Việt Nam với điểm đến đầu tiên là Quảng Ninh Từ Quảng Ninh di cư đi các tỉnh khác nhau, trong đó người Dao Quần Chẹt ở Thái Nguyên hiện nay đa phần từ các khu vực thuộc địa phận Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Tuyên Quang di cư đến
1.2.3 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa
1.2.3.1 ặ điểm kinh t
Sản xuất nông nghiệp kết hợp với khai thác các ngu n lợi tự nhiên là hoạt động sinh kế truyền thống và là ngu n cung cấp chính về lương thực, thực phẩm cho cộng đ ng người Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu Tr ng trọt với các loại hình chủ yếu là nương rẫy, ruộng bậc thang và ruộng nước Cây tr ng chính là lúa và ngô
Vĩnh Phúc
(Việt Nam)
Quảng Tây
(Trung Quốc)
Trang 33Canh tác nương rẫy kèm theo lối du canh du cư nên cuộc sống của đ ng bào hết sức khó khăn Từ khi có chính sách định canh định cư, nương rẫy dần thu hẹp thay vào
đó là những thửa ruộng nước và nương bằng ngày càng được mở rộng Ruộng nước được khai thác ở nhiều loại địa hình khác nhau, như: ruộng gần bờ suối, ruộng một
vụ trên sườn đ i, ruộng tr ng màu, Hiện nay, với sự đầu tư vốn và hỗ trợ về kỹ thuật, nhiều gia đình đã chuyển diện tích đất vườn kém hiệu quả thành đất tr ng cây
ăn quả, nhiều loại cây tr ng như nhãn, cam, bưởi, quất đang được mở rộng diện tích
ở các xóm Chiểm 2, Hòa Bình 1 Đây hiện là ngu n thu nhập quan trọng góp phần giúp các hộ dân trong xã trong đó có người Dao Quần Chẹt thoát nghèo: năm 2011
có 39 hộ thì đến 2015 chỉ còn 7 hộ Bên cạnh đó, diện tích tr ng chè ngày càng được mở rộng với các loại giống mới để phục vụ nhu cầu của thị trường
Cùng với tr ng trọt, người Dao Quần Chẹt ở địa phương còn tiến hành chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan Trước đây, trâu, bò thường được thả rông trong rừng nhưng nay do bãi thả gia súc bị thu hẹp nên chăn dắt là chủ yếu Lợn, gà nuôi theo lối nhốt chu ng, thức ăn đa phần tận dụng nguyên liệu của nông nghiệp và thực phẩm từ tự nhiên Ngoài ra, họ còn nuôi cá ở ao và các ruộng lúa Trước đây, mục đích chính trong chăn nuôi nhằm phục vụ cho sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, như: cấp sắc, tết nhảy, cưới xin, Ngày nay, sản phẩm chăn nuôi ngoài việc làm lễ vật cúng tế, cải thiện bữa ăn hàng ngày, tiếp khách còn nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của thị trường (người Dao Quần Chẹt và một
số người Kinh bán ở chợ làng và buôn đi các vùng khác trong tỉnh) Hiện nay, chăn nuôi cũng đã khá phát triển nhưng chưa tách khỏi tr ng trọt
Thủ công nghiệp t n tại khá lâu đời trong đời sống người Dao Quần Chẹt, đáp ứng phần nào nhu cầu cuộc sống của người dân, trong đó đáng chú ý là: nghề làm giấy bản, nghề nhuộm và thêu, nghề đan, nghề mộc, nghề rèn sắt Tuy nhiên, hoạt động này chỉ là nghề phụ được tranh thủ lúc nông nhàn và diễn ra trong phạm vi gia đình là chủ yếu Ngày nay, hầu hết các gia đình đều sử dụng những sản phẩm của ngành công nghiệp được mua ở ngoài thị trường, do đó một số nghề thủ công truyền thống nêu trên đã không còn t n tại trong đời sống của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu
Trang 34Trong kinh tế truyền thống, săn bắn, hái lượm là hoạt động mang tính phổ biến
và khá quan trọng Ngu n lương thực, thực phẩm mang lại đáp ứng phần nào nhu cầu của cuộc sống hàng ngày trong điều kiện kinh tế còn khó khăn, năng suất lao động nông nghiệp thấp Săn bắt có hai hình thức chủ yếu là cá nhân và tập thể Trong những cuộc săn tập thể, sản phẩm được chia đều cho tất cả mọi người đi săn
và một phần dành nấu cháo mời cả làng cùng ăn Hái lượm được diễn ra khá thường xuyên nhằm tìm kiếm những vật phẩm của tự nhiên, như: các loại rau rừng, măng,
củ mài, hoa chuối phục vụ sinh hoạt gia đình Ngày nay, săn bắn và hái lượm không còn phổ biến trong đời sống của người Dao Quần Chẹt như trước đây
Nhìn chung, kinh tế truyền thống của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu dựa trên cơ sở nền tảng kinh tế nông nghiệp kết hợp với khai thác các sản vật của tự nhiên, đặc biệt là từ rừng, tạo điều kiện để hình thành và duy trì các hình thức tín ngưỡng truyền thống, như: tín ngưỡng h n linh và thờ cúng đa thần, thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng nghề nghiệp, Hiện nay, mặc dù đời sống của họ vẫn trên cơ sở nền tảng kinh tế nông nghiệp tr ng lúa và tận dụng các ngu n lợi tự nhiên, nhưng
đ ng bào đã đẩy mạnh tr ng các loại cây công nghiệp (đặc biệt cây chè), cây ăn quả, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa Trong khi đó, một số nghề thủ công truyền thống đang bị mai một dần Sự chuyển biến đó cũng làm thay đổi đáng kể diện mạo kinh tế của cộng đ ng người người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu và tác động nhất định tới sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của họ
1.2.3.2 ặ điểm hội
Thiết chế xã hội truyền thống của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu g m 3
loại hình chủ yếu là làng, dòng họ và gia đình Làng “l ng” của người Dao Quần
Chẹt cư trú khá phân tán, điều kiện để dựng làng phải có ngu n nước sản xuất, sinh hoạt, có đất đai để làm ruộng, nương và bãi thả gia súc Nhà ở thường bố trí thấp hơn ngu n nước nhằm thuận tiện cho việc dẫn nước về sinh hoạt Làng người Dao Quần Chẹt mặc dù cư trú chủ yếu xen kẽ trong cùng một khu vực với các tộc người khác, nhưng họ thường sống riêng theo từng cụm Qua quan sát cho thấy, cách thức
cư trú các tộc người tại Quân Chu là làng người Kinh thường ở gần đường quốc lộ,
Trang 35trong khi làng của các dân tộc khác như Tày, Sán Dìu, Dao Quần Chẹt chủ yếu ở gần bìa rừng, dưới các chân đ i thuộc vùng sâu, vùng xa của xã
Xưa kia, chịu trách nhiệm quản lý trong làng là các già làng, trong đó vai trò của thầy cúng có vị trí quan trọng, đặc biệt việc thực hiện các nghi lễ liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng của cộng đ ng, dòng họ và gia đình Mọi hoạt động của cộng
đ ng chịu sự quản lý của bộ máy xã hội truyền thống mang tính tự quản, vận hành theo luật tục Ngày nay, ngoài cơ quan quản lý hành chính cấp xã, ở mỗi xóm có trưởng thôn đứng đầu quản lý chung, bên cạnh là đại diện của các tổ chức chính trị -
xã hội khác Ở các xóm đều xây dựng hương ước mới nhằm bảo vệ môi trường và giữ gìn sự đoàn kết trong làng Tính cộng đ ng biểu hiện ở tục lệ đổi công trong sản xuất, giúp đỡ nhau trong tang ma, cưới xin, làm nhà, cấp sắc giữa các gia đình cùng làng, cùng xóm Tính cộng đ ng cao là một đặc điểm nổi bật và được lưu truyền cho tới hiện nay, góp phần vào việc duy trì và thực hành tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên cộng đ ng của người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu
Trước đây, làng của người Dao Quần Chẹt là sự kết hợp của những gia đình nhỏ theo dòng họ cùng cư trú Khi mới đến khai phá lập làng, hầu hết các dòng họ đều sống quây quần theo từng cụm, ngày nay trong quá trình di cư và hôn nhân hỗn hợp đã có sự phân tán ở các địa phương Người Dao Quần Chẹt ở Quân Chu có các
họ chính: Bàn, Đặng, Lý, Hoàng, Phùng, Triệu Giữa các dòng họ có sự phân biệt bởi hệ thống tên đệm và nhà tổ riêng để thờ tổ tiên của dòng họ Nhà tổ là nơi tổ chức các nghi thức tín ngưỡng liên quan đến dòng họ Mỗi dòng họ có trưởng họ đứng đầu với trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, giúp đỡ thành viên khi có việc hệ trọng (cấp sắc, cưới xin, tang ma, tết nhảy); theo dõi, đôn đốc việc chấp hành tập quán, hòa giải, lo việc đối ngoại, thực hiện các nghi lễ chung của dòng họ Tổ chức dòng họ trong đời sống xã hội người Dao Quần Chẹt là một mắt xích quan trọng trong việc cố kết cộng đ ng
Gia đình người Dao Quần Chẹt chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền, g m một cặp vợ ch ng cùng các con chưa xây dựng gia đình hoặc có cả ông bà cùng chung sống Trong gia đình, người cha (người ch ng) quyết định mọi công việc với tư cách
là chủ gia đình đ ng thời là người thực hiện, tham gia các nghi thức thờ cúng liên
Trang 36quan đến gia đình, dòng họ và cộng đ ng Khi cha chết người con trưởng sẽ thay thế, đảm nhận những việc hệ trọng trong gia đình Tuy vậy, trong thực tế những công việc quan trọng đều có sự bàn bạc giữa vợ và ch ng cùng với các con lớn tuổi, thậm chí còn xin ý kiến của những người có uy tín trong dòng họ Nếu người Kinh vẫn thường
coi “d u on, rể kh h” thì người Dao Quần Chẹt lại coi con rể, con nuôi cũng như
con đẻ, đều được đối xử công bằng Gia đình là một thành viên của cộng đ ng, một
bộ phận quan trọng của dòng họ vừa là một đơn vị sản xuất nhưng đ ng thời cũng
là nơi trực tiếp thực hành và duy trì các sắc thái văn hóa riêng của tộc người Trong
đó, vai trò của người đàn ông rất quan trọng trong việc bảo t n, giám sát việc thực hiện và duy trì các hình thức tín ngưỡng, trong đó có thờ cúng tổ tiên
Như vậy, nếu như làng là đơn vị liên kết các dòng họ và dòng họ là đơn vị liên kết các gia đình trong phạm vi của mình để bảo t n, giám sát việc thực hiện và duy trì những đặc trưng văn hóa cổ truyền của tộc người, thì gia đình là nơi lưu giữ và thực hiện các đặc trưng đó, đặc biệt là những nghi lễ trong gia đình của dòng họ cũng như cộng đ ng Làng, dòng họ và gia đình là ba đơn vị có mối liên hệ chặt chẽ cấu trúc nên xã hội truyền thống của người Dao Quần Chẹt ở địa phương
1.2.3.3 ặ điểm văn hó
Về văn hóa vật chất, trước kia do điều kiện kinh tế khó khăn, lương thực thiếu
thốn nên ngoài cơm trong bữa ăn hằng ngày người Dao Quần Chẹt còn phải chế biến thêm các món ăn từ ngô Bên cạnh đó, họ còn thường xuyên dùng các thực phẩm tr ng được hay sẵn có, như: rau đắng, rau mướp, măng, bí,… Để các món ăn hấp dẫn hơn, người Dao Quần Chẹt thường sử dụng các loại gia vị như muối ớt, rau thơm Muối ớt làm nước chấm có vị cay, chua rất ngon; các loại rau thơm thường được sử dụng kèm theo, nhất là rau húng Trong những ngày lễ, tết người Dao Quần Chẹt còn làm nhiều loại bánh, như: bánh giầy (Rua Tau), bánh chưng,… Ngoài ra vào các ngày lễ tiết, thịt lợn, thịt gà là thực phẩm không thể thiếu, nếu ăn không hết
họ ướp muối để sử dụng lâu dài
Trang phục là một trong những nét đặc trưng nhất của văn hóa vật chất ở người Dao Quần Chẹt, đặc biệt là trang phục nữ giới Đây cũng là căn cứ quan trọng để xác định tên gọi của nhóm địa phương này Y phục nữ giới thường ngày có áo dài, yếm,
Trang 37quần, dây lưng, xà cạp Áo dài thuộc dạng tứ thân, màu chàm, không cài khuy, cổ liền nẹp, ống tay dài được đáp vải đỏ và trắng hình vuông ở cửa tay Quần cùng màu với áo, dài tới nửa bắp chân, thân rộng, độ doãng lớn, ống rất hẹp, ở gấu được thêu trang trí các hoa văn hình cũi lợn, chim, cây thông,… Xà cạp màu trắng và không thêu thêm các loại hoa văn Đàn ông Dao Quần Chẹt xưa thường đội khăn màu chàm, đen Quần của nam giới nhuộm màu chàm hoặc màu đen, ống rộng vừa phải, dài đến mắt cá chân, cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa hay lu n dây, có thể có hoặc không có túi Ngày nay, đàn ông Dao Quần Chẹt không đội khăn mà để đầu trần hoặc đội mũ và hầu hết đều mặc quần áo của người Kinh may sẵn
Lễ phục thầy cúng g m có áo, dây lưng, váy, mũ, xà cạp và dây buộc mũ Áo
có 3 loại chính Loại thứ nhất như áo dài của người Kinh, cắt kiểu 5 thân từ vải màu vàng hay h ng nhạt, dài tay, cổ đứng cao, cài bằng nút vải chéo từ cổ xuống nách và thẳng xuống đến eo Loại thứ hai là áo dài mặc ngoài kiểu dài tay như áo dài phụ
nữ, dài quá đầu gối, áo mầu chàm được thêu trang trí các hoa văn hình cây thông, hình chân chó, hình hoa lá, hình chữ thập ngoặc, phía sau lưng áo còn thêu dấu ấn của Bàn Vương Loại thứ ba có màu đỏ, không tay, thân nửa dưới loe rộng hơn, may kiểu áo chui đầu Ngoài ra còn một loại áo không tay, kiểu cắt xẻ giữa, không khuy, trước ngực thêu 2 con r ng Váy được cắt may từ vải chàm, dạng hở có dây ở phía cạp để buộc khi mặc Mũ có 2 loại, loại mũ đầu bằng thường đội khi làm lễ Phật; loại đầu nhọn hình dạng thang cân lộn ngược thường đội khi làm lễ thánh Xà cạp bằng vải trắng, thêu hoa văn hình chữ thập ngoặc kép và hình chim theo chiều dọc của xà cạp
Theo quan niệm cổ truyền của người Dao Quần Chẹt, địa thế lý tưởng để dựng nhà ở là nơi cao ráo, nhìn ra một khoảng không gian rộng, thuận lợi cho việc làm ruộng nương, có nơi để buộc trâu bò, không thiếu nước ăn và sinh hoạt trong mùa khô Trước đây, nhà chủ yếu được xây dựng theo kỹ thuật cột ngoãm buộc dây với vật liệu tự nhiên và kiến trúc truyền thống Trong những năm gần đây, dân số trong
xã tăng lên, địa bàn cư trú được mở rộng, nhà cửa của người Dao Quần Chẹt đa phần học tập kỹ thuật dựng nhà của người Kinh, từ kiến trúc xây gạch, lợp ngói hoặc đổ mái bằng
Trang 38Về văn hóa tinh thần, người Dao Quần Chẹt có đời sống tinh thần khá phong phú Mặc dù họ chưa có chữ viết riêng nhưng trên cơ sở dùng chữ Hán
cải biên để phiên âm tiếng Dao gọi là chữ Nôm Dao, nên một hệ thống sách cổ Nôm Dao được lưu truyền trong nhân dân, đặc biệt là những gia đình thầy cúng, cung cấp nhiều tư liệu quý quan trọng về văn hóa tộc người Nội dung thể hiện trong kho sách này khá phong phú bao g m văn học dân gian, thiên văn, địa lý, y học, tôn giáo tín ngưỡng,
Ca múa nhạc dân gian được thể hiện khá phong phú trong đời sống của đ ng bào, trong đó tập trung chủ yếu ở các nghi lễ liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng Gắn liền với những điệu múa là hệ thống các nhạc cụ truyền thống, g m: trống, thanh la, não bạt, chuông nhạc, kèn, chũm chọe, tù và sừng trâu, Phần lớn các nhạc cụ đều được
sử dụng kết hợp nhằm phụ họa cho các điệu múa thêm sinh động, diễn tả được nội dung của buổi lễ Bên cạnh đó, nhiều trò chơi dân gian được ưa thích và giữ gìn cho tới ngày nay như đi cà kheo, đánh khăng, kéo co, Trong quá trình lao động sản xuất, chống chọi với những khắc nghiệt của tự nhiên, đ ng bào đã tích lũy được hệ thống tri thức dân gian phong phú Người dân có thể tính toán lịch thời gian dựa vào mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao để đoán biết tháng năm, ngày tốt ngày xấu nhất
là phục vụ sản xuất và sinh hoạt hàng ngày Dựa vào các hiện tượng tự nhiên để đoán định thời tiết như xem dấu vết hình tròn trên đá ở ven sông, nếu từ tháng giêng đến tháng ba hình tròn này cao hơn so với mặt nước năm đó sẽ mưa to, có lụt và ngược lại sẽ hạn hán
Đặc biệt, người Dao có kho tàng tri thức về y học dân gian khá phong phú, tận dụng ngu n dược liệu từ tự nhiên cùng với vốn tri thức được cha ông truyền lại từ
xa xưa đã phát huy tác dụng trong cuộc sống Nhiều bài thuốc quý không chỉ được
sử dụng trong cộng đ ng người Dao Quần Chẹt mà còn được các dân tộc khác dùng làm thuốc chữa bệnh Ngày nay, một số bài thuốc nam đã trở thành hàng hóa được
đ ng bào đem bán ở các vùng khác, như: thuốc lá tắm cho sản phụ sau sinh, thuốc chữa đại tràng, dạ dày
Đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Dao nói chung và người Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu nói riêng đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, cả ba tôn giáo này có sự hòa quyện vào nhau tạo thành một niềm tin bền vững
Trang 39cùng với các yếu tố tôn giáo truyền thống mang tính bản địa của người Dao, khi đến với người Dao đã thu nhận và dung nạp, cải biến nhiều yếu tố tôn giáo nguyên thủy của người Dao thành một biểu hiện của Đạo giáo cũng như biến những thần linh của mình thành thần linh của người Dao Cụ thể là những người đàn ông Dao muốn thắp hương lễ bàn thờ để khấn cúng ma tổ tiên, muốn tham gia vào các nghi lễ cúng bái thì phải trải qua lễ cấp sắc, tức phải có “pháp danh” hay “tên âm” mà tiếng
Dao Quần Chẹt gọi là ph t Trong quá trình cấp sắc, người ta treo các bức tranh
thờ phản ánh các thần Đạo giáo, các thầy cúng hành lễ sử dụng các bùa phép của Đạo giáo, người ta thổi tù và thỉnh Ngọc Hoàng cùng Thái Thượng Lão Quân và các thiên sư xuống chứng giám, làm lễ cho linh h n người thụ lễ lên thăm thiên đình, tổ chức cúng Bàn Vương, Tuy nhiên, tín ngưỡng đa thần của người Dao ở nước ta, trong đó có người Dao Quần Chẹt ở xã Quân Chu vẫn bao trùm và thể hiện đậm nét ở hầu hết các lĩnh vực đời sống tôn giáo tín ngưỡng của đ ng bào, từ quan niệm về sự sống và chết, về các loại ma và thần linh, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các thần linh và ma phù hộ cho cuộc sống con người đến tín ngưỡng trong tr ng trọt, chăn nuôi, trao đổi mua bán, làm nghề thủ công
1.3 Một số quan niệm liên quan đến thờ cúng tổ tiên
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản
- T n ng ng: Tín ngưỡng trong tiếng Pháp là “La croyance”, tiếng Anh là
Belief” có nghĩa là niềm tin Trong nguyên ngữ Hán, cụm từ “tín ngưỡng” là hai từ
trong một thể nội dung tin và ng ng mộ “Tín” nghĩa là lòng tin, niềm tin;
“ngưỡng” là ngưỡng vọng hướng về một cái gì đó, một lực lượng nào đó Niềm tin thể hiện ở các mối quan hệ giữa người với lực lượng siêu nhiên, người với vật nào
đó và người với người Tín ngưỡng ít nhất bao g m người tin và đối tượng tin, thể hiện niềm tin, sự ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, hư ảo, siêu thực huyền
bí nào đó và được con người tin là có thật Trong i u 2 c a Luật Tôn gi o, t n
ng ng (số 02/2016/QH14) đã giải thích nghĩa của t n ng ng như sau: là niềm tin
của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đ ng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng Như
Trang 40vậy, tín ngưỡng ở đây đã bao g m cả niềm tin và các nghi thức biểu hiện cho niềm tin đó, vì vậy cách lý giải của điều Luật đã phản ánh nội hàm khái niệm tín ngưỡng Theo Mai Thanh Hải, tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí và lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng là “trời”, “phật”, “chúa”, “thánh”, “thần” hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được con người tin là có thật và tôn thờ [27, tr 634] Nhìn chung, tín ngưỡng thể hiện niềm tin vào cái thiêng của con người, của một cộng đ ng nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể Tín ngưỡng là sản phẩm của chính con người, thể hiện các mối quan hệ ứng xử giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong xã hội; phản ánh các điều kiện vật chất tinh thần tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của một cộng đ ng cư dân nhất định Chính vì vậy, xét ở một mức độ nào đó tín ngưỡng góp phần tạo nên những đặc trưng văn hóa của con người
Hiện nay, ở nước ta và một số nước còn t n tại nhiều quan điểm khác nhau về các khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng Có quan điểm cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng
là hai phạm trù khác nhau; quan điểm khác lại khẳng định tín ngưỡng chỉ là một bộ phận quan trọng cấu thành nên tôn giáo và hai phạm trù này không thể tách rời nhau [53, tr 20] Do đó, khi sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng tôn giáo trong đề tài bao hàm
ý nghĩa thứ hai như đã đề cập, đ ng thời khái niệm tín ngưỡng khi được sử dụng như một hình thức sinh hoạt tâm linh cũng có sự phân biệt với tôn giáo ở một số đặc điểm sau [88, tr.19]:
+ Chưa có các hệ thống giáo lý mà chỉ có
các huyền thoại, thần tích, truyền miệng
+ Chưa thành hệ thống thần điện mang
tính chất đa thần
+ Còn hòa nhập giữa thế giới thần linh và
con người, chưa mang tính cứu thế
+ Gắn với cá nhân và cộng đ ng làng xã,
chưa thành giáo hội
+ Hệ thống giáo lý kinh điển, thể hiện quan niệm vũ trụ và nhân sinh Truyền thụ qua học tập ở các tu viện và thánh đường + Thần điện đã thành hệ thống, thường dưới dạng nhất thần giáo
+ Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức “cứu thế” + Tổ chức giáo hội hội đoàn khá chặt