1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CẤU TRÚC THAM tố của TÍNH từ TRONG TIẾNG VIỆT (đối chiếu với cấu trúc tương ứng trong tiếng anh) tt

27 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm cũng như những nghiêncứu về nó cho thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp, còn nhiều bấtđồng trong giới Việt ngữ học... Việc xác định từ loại trongkhung th

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 0.1 Lý do chọn đề tài

Tính từ (TT) tiếng Việt, như các từ loại từ vựng khác, có vai tròrất quan trọng Có thể nói, hầu hết các tài liệu về ngữ pháp tiếng Việtđều ít nhiều đề cập đến từ loại này Quan điểm cũng như những nghiêncứu về nó cho thấy đây là đối tượng nghiên cứu phức tạp, còn nhiều bấtđồng trong giới Việt ngữ học Trong tiếng Việt, từ loại này được nhiềuhọc giả cho là có nhiều nét tương đồng với từ loại động từ (ĐT) tuynhiên cơ sở cho kết luận như vậy thường chủ yếu dựa trên những tươngđồng về hoạt động cú pháp Bằng cách khảo sát cấu trúc tham tố(CTTT), luận án này góp phần tìm hiểu bản chất của tính từ (TT) tiếngViệt cũng như sự tương đồng của TT với động từ (ĐT) trong tiếng Việtở một góc độ khác Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài:

"Cấu trúc tham tố của tính từ trong tiếng Việt (đối chiếu với cấu trúctương ứng trong tiếng Anh)"

Đề tài của Luận án được phát triển từ cùng một đề tài của luận văn.Luận văn đã khảo sát, làm rõ CTTT của TT dựa trên tập hợp TT đơn tiếtở một mức độ nhất định, như: (i) Phân chia TT thành TT nội động và TTngoại động; (ii) Xác định những tham tố cơ bản trong CTTT của TT(diễn tố, chu tố); (iii) Tìm hiểu khả năng làm hạt nhân của TT trongCTTT (kết hợp với một tham tố và hai tham tố); (iv) Mối liên hệ giữaCTTT và cấu trúc cú pháp của TT tiếng Việt; (v) Đối chiếu CTTT của

TT tiếng Việt với CTTT của TT tiếng Anh ở phương diện CTTT

Trang 2

Ở luận án này, chúng tôi tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được

xử lý triệt để, những vấn đề mới được đặt ra trong luận văn, bằng cáchcủng cố thêm cơ sở lý luận, khảo sát thêm tập hợp TT đa tiết để xác địnhđúng hơn bản chất CTTT của TT tiếng Việt

Vấn đề trọng tâm mà đề tài đặt ra, cần tiếp tục giải quyết là: xácđịnh CTTT của TT tiếng Việt để thấy sự tương đồng của nó với CTTTcủa ĐT tiếng Việt Để giải quyết được vấn đề này, phải làm rõ được:(i) Về vấn đề phân định từ loại; (ii) Về ý nghĩa đặc trưng của TT;(iii) Những đơn vị đơn tiết và đa tiết làm TT; (iv) Về phạm trù nội động/ngoại động; (v) Mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TTtrong câu tiếng Việt; (vi) Các vai nghĩa cơ bản trong cấu trúc tham tố cótính từ làm hạt nhân trong tiếng Việt ; (vii) So sánh CTTT của TT tiếngViệt với CTTT của TT tiếng Anh ở mức độ toàn diện hơn

Giải quyết được các vấn đề trên, chúng tôi hy vọng tìm hiểu mộtcách hệ thống, đầy đủ hơn về CTTT của TT tiếng Việt Từ đó, cung cấpthêm cơ sở chứng minh cho sự gần gũi giữa TT và ĐT trong tiếng Việt

Trang 3

Trái với khuynh hướng trên, phần lớn các nhà Việt ngữ học, nhưNguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Nguyễn ThiệnGiáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Đinh Văn Đức,v.v đềucho rằng có tồn tại từ loại TT, và từ loại này thường được miêu tả kháđầy đủ trong mối tương quan với từ loại danh từ và ĐT Theo hướngnày, một số tác giả đề nghị phân chia từ loại theo một tiêu chí, một sốtác khác lại chủ trương xác định các từ loại qua một tập hợp tiêu chí.

Nhiều nhà Việt ngữ học nhìn thấy sự tương đồng sâu sắc của hai từloại ĐT và TT Do sự gần nhau về đặc điểm ngữ pháp, trước hết là trongchức vụ vị ngữ, TT và ĐT có những đặc điểm chung, khiến người tanghĩ đến khả năng gom chúng vào một phạm trù Quan điểm này đượcnhiều tác giả chia sẻ, như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh văn Đức, Nguyễn ThịQuy, cao Xuân Hạo,v.v

Từ khi ngữ pháp chức năng được áp dụng giải quyết các vấn đềtrong ngôn ngữ học, nhiều vấn đề như việc xác định câu, từ loại đượcxem xét lại, được xác định gần bản chất hơn Trọng tâm nghiên cứu câuđược chuyển từ chủ - vị sang vị từ Câu không chỉ được xem xét trênbình diện cú pháp như trước đây, mà còn được chú trọng làm rõ trênbình diện nghĩa Từ loại cũng được xác định rõ hơn trong sự hành chứccủa từ, trong khung tham tố, trong câu Việc xác định từ loại trongkhung tham tố làm cho từ loại bộc lộ bản chất rõ nhất trên các bình diện,đặc biệt là bình diện nghĩa – một bình diện có khả năng xác định đượcnhững vấn đề phổ quát trong ngôn ngữ Việc xác định TT từ góc độ

Trang 4

CTTT cũng là một hướng khả thi, cần thiết Những nhà ngữ pháp chứcnăng đã nghiên cứu các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trêncác bình diện hình thức và nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng– mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích – để từ đó tìm

ra quy tắc xây dựng cấu trúc của đơn vị ngôn từ cơ bản là câu Nghĩamiêu tả của câu (còn được gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩakinh nghiệm) phản ánh sự tri nhận và kinh nghiệm của chúng ta về thếgiới, theo đó mỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi và quay quần xungquanh là những tham tố, biểu thị những vai nghĩa nào đó Những tác giảtiêu biểu cho xu hướng này là Tesniere, Fillmore, Givón, Dik, Cao XuânHạo, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Vân,v.v

Việc nghiên cứu CTTT của TT chỉ mới được giới ngôn ngữ họcthế giới chú ý trong vài chục năm gần đây Chưa bàn trực tiếp về CTTTcủa TT nhưng nhiều nhà Việt ngữ học, như Nguyễn Tài Cẩn, DiệpQuang Ban, Đinh Văn Đức,v.v đã gián tiếp bàn về CTTT của TT vớinhững tên gọi khác nhau như “cụm TT”, “đoản ngữ TT”, “tổ hợp TT”,

“nhóm TT”, v.v Như vậy, TT đã được nhiều tác giả bàn đến trong mốiliên hệ với các thành tố phụ trước, thành tố phụ sau, nhưng chưa tác giảnào bàn đầy đủ, thấu đáo về CTTT của TT, và đặt nó trong thế đối sánhvới CTTT của ĐT, nhằm làm rõ những tương đồng về nhiều mặt giữa

TT và ĐT trong tiếng Việt Việc xác định TT từ góc độ CTTT nằm trong

xu hướng xác định từ loại trong ngữ đoạn chức năng, trong sự hành chứccủa từ Vai trò hạt nhân trong khung tham tố sẽ giúp TT bộc lộ hết khả

Trang 5

năng hoạt động trong sự tương ứng, sự bất xứng giữa hai bình diện cúpháp và ngữ nghĩa.

0.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1 Mục đích nghiên cứu

Xác định rõ bản chất của từ loại TT trong tiếng Việt Từ góc độCTTT, luận án tập trung xác định nhóm từ vẫn được coi là TT tiếng Việt(cùng với ĐT) có tư cách là một tiểu loại của vị từ Chúng có CTTT vớinhiều điểm tương đồng CTTT của ĐT tiếng Việt

0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát, phân tích khả năng hoạt động của TT tiếng Việt ở haiphương diện: cấu trúc cú pháp và CTTT Làm rõ các vai nghĩa và vai cúpháp của TT trên hai phương diện này Tìm mối liên hệ giữa CTTT vàcấu trúc cú pháp của TT Đối chiếu CTTT của TT tiếng Việt với CTTTcủa TT tiếng Anh

0.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TT (TT) trong tiếng Việtvà cấu CTTT của nó Xác định cụ thể hơn, đối tượng khảo sát sẽ giớihạn ở 1612 TT đơn tiết và những 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là

TT đơn tiết và yếu tố sau có tư các bổ ngữ

- Phạm vi nghiên cứu là CTTT của TT, cấu trúc cú pháp của TT,và quan hệ giữa hai bình diện này

Trang 6

- Ngữ liệu nghiên cứu được lấy chủ yếu từ "Từ điển tiếng Việt"(Hoàng Phê chủ biên, 2006) và từ ngôn ngữ được được sử dụng tronggiao tiếp hàng ngày (xem Phụ lục).

0.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, đặc biệt là lýthuyết về CTTT, để xác định CTTT của TT được rõ hơn Bên cạnh đó,luận án cũng sử dụng các quan điểm của Dixon, Givon, v.v để giảiquyết những vấn đề có liên quan

Về phương pháp, luận án sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, miêu tả: dùng để miêu tả TT ở phươngdiện cú pháp và CTTT (trong tiếng Việt và trong tiếng Anh)

- Phương pháp đối chiếu: dùng để chỉ ra những tương đồng, khácbiệt giữa CTTT trong tiếng Việt và trong tiếng Anh, qua đó biện giải,làm rõ thêm những đặc điểm CTTT của TT trong tiếng Việt

- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê dữ liệu phục vụ chonhững luận điểm trong luận án

0.6 Đóng góp của luận án

Về phương diện lý luận, luận án cố gắng làm rõ CTTT của TT;dùng tiêu chí CTTT để xác định bản chất của TT; tìm mối liên hệ giữaCTTT và cấu trúc cú pháp của TT; chứng minh sự gần gũi giữa ĐT và

TT trong tiếng Việt

Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần giúp cho việc sử dụngtiếng Việt chính xác hơn; những ngữ liệu, phân tích trong luận án cũng

Trang 7

sẽ giúp cho người học ngoại ngữ (đặc biệt các ngôn ngữ biến hình,chẳng hạn, tiếng Anh) thuận lợi hơn trong quá trình nhận diện và sửdụng các cấu trúc câu có chứa TT Nội dung luận án cũng có thể làm tàiliệu cho việc dịch thuật Anh - Việt và ngược lại.

0.7 Cấu trúc luận án

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp nhưsau: phần chính văn có dung lượng 176/184 trang, gồm: phần Mở đầu(32 trang); Chương 1 – Những cơ sở lý luận chung (39 trang); Chương 2– Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt (51 trang); Chương 3 – Mốiquan hệ giữa cấu trúc tham tố và cấu trúc cú pháp của tính từ tiếng Việt(21 trang); Chương 4 – Đối chiếu tính từ tiếng Việt với tính từ tiếng Anhở phương diện cấu trúc tham tố và phương diện có liên quan (25 trang);phần Kết luận (4 trang) Phần còn lại gồm Danh mục tài liệu tham khảo,Danh mục các bài báo khoa học

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Trang 8

1.1 Một số vấn đề về tính từ và tính từ tiếng Việt

Nội dung phần này tập trung bàn về: các quan niệm về TT trongcác ngôn ngữ và nhấn mạnh quan điểm của Dixon – một khái quát đầyđủ, sâu sắc về TT; Quan điểm của Givón về ý nghĩa đặc trưng của TT,để từ đó, khẳng định nếu thừa nhận một tập hợp TT trong tiếng Việt, thì

nó chỉ nằm ở phương diện đặc trưng (phân biệt với tập hợp TT đượcluận án giả định); Một quan điểm phổ biến về TT tiếng Việt – về tập hợp

TT mà luận án giả định

Các tiêu chí được dùng để xác định, nhận diện TT được bàn đến.Về cơ bản, các tiêu chí - ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năngcú pháp - vẫn có tác dụng ở một mức độ nhất định, trong những phạm vinhất định trong việc phân chia từ loại Nếu không tính đến các tiêu chínày thì khó có thể bàn đến việc phân chia từ loại Thực tế cho thấy rằng:

có sử dụng cả ba tiêu chí, hay kết hợp các tiêu chí một cách riêng rẽ thìvẫn chưa có khả năng tìm được một kết quả nhất quán, một hướng đểphân định một cách triệt để từ loại nói chung cũng như từ loại tiếng Việtnói riêng Cần quan niệm đúng về các phương diện hoạt động của mỗinhóm từ loại, từ đó, xác định rõ ranh giới của từ loại trong tiếng Việt

Trong luận án này, chúng tôi cũng đề cập đến một hướng phânchia từ loại – dựa trên thang độ nghĩa Hướng phân chia này cũng chothấy chỉ có hai từ loại cơ bản, phổ quát trong các ngôn ngữ (danh từ vàĐT) TT, nếu được thừa nhận, thì nó chỉ tồn tại ở phương diện đặc trưng,

hay nói như Đinh Văn Đức: “Nói một cách tổng quát, TT là từ loại chỉ

Trang 9

đặc trưng của tất cả những khái niệm được biểu đạt bằng danh từ và ĐT”

Đối với việc phân loại TT tiếng Việt: Về mặt ngữ nghĩa, việc tìmkiếm sự khu biệt rạch ròi giữa TT nội động với TT ngoại động là ít tínhkhả thi Nếu cần phân biệt sâu hơn về mặt nghĩa, có thể coi TT nội độnglà những từ chỉ trạng thái, tính chất tự thân của đối tượng giữ vai chủngữ ở bình diện cú pháp Trong quá trình khảo sát chúng tôi cũng nhậnthấy, vai nghĩa giữ chức vụ bổ ngữ trên bình diện cú pháp thường đóngvai trò chỉ phạm vi ảnh hưởng đến chủ thể mà nghĩa của TT thể hiện chứkhông phải ảnh hưởng đến một thực thể khác Đây là những điểm khácbiệt cơ bản, quan trọng để phân biệt TT nội động được dùng với tư cáchngoại động và TT có bản chất là ngoại động Về mặt cú pháp, nhìnchung có thể phân loại TT dựa trên khả năng bắt buộc hay không bắtbuộc có bổ ngữ trực tiếp (thành TT nội động và TT ngoại động) TTngoại động khi chuyển sang dùng như nội động thường làm diễn tố (chủngữ), ý nghĩa của câu bị thay đổi Đây chính là một điểm quan trọngphân biệt TT nội động dùng như ngoại động với TT ngoại động

1.2 Cấu trúc tham tố và cấu trúc tham tố của tính từ

Tập hợp các tham tố được lựa chọn bởi một hạt nhân bao gồm cácđặc tính, quan hệ, và vai trò cú pháp của chúng được gọi là cấu trúctham tố (argument structure) của hạt nhân đó Hạt nhân này đóng vai tròquyết định Chính ý nghĩa của nó sẽ chi phối, quyết định đến số lượng

Trang 10

tham tố (cần bao nhiêu, có thể có bao nhiêu) và đặc tính ngữ nghĩa củatham tố (các kiểu vai nghĩa).

Trong các ngôn ngữ có sự phân biệt rõ ràng giữa động từ và TT(chẳng hạn tiếng Anh), các tham tố liên quan chủ yếu với các động từnhưng chúng cũng có thể liên quan tới TT và một số danh từ Nói cáchkhác, TT, danh từ cũng có CTTT Trong những ngôn ngữ có sự khu biệt

rõ ràng giữa ĐT và TT (chẳng hạn tiếng Anh), tham tố liên quan chủ yếuvới các ĐT nhưng chúng cũng có thể liên quan tới hạt nhân là các từ loạikhác Việc phân loại tham tố có thể thực hiện dựa những tiêu chí khácnhau Nhìn chung, trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, tham tốthường được phân loại như sau:

(i) Tham tố bắt buộc và tham tố tùy ý (obligatory argument andoptional argument); (ii) Tham tố ngoại tại và tham tố nội tại (externalargument and internal argument); (iii) Tham tố trực tiếp và tham tố giántiếp (direct argument and indirect argument); (iv) Tham tố ngầm ẩn(suppressed/ implicit argument); (v) Tham tố bị lược bỏ (deletedargument); (vi) Tham tố sự kiện (event argument)

CTTT của TT là một dạng CTTT trong đó hạt nhân là một TT, cáctham tố là những ngữ đoạn bổ sung về phương diện nghĩa cho TT đó.Các ngữ đoạn này thường là ngữ danh từ, ngữ giới từ hoặc một cấu trúccú pháp phức hợp (một cú, hoặc một ĐT nguyên mẫu, v.v.)

1.3 Tiểu kết

Trang 11

TT tiếng Việt cũng chia sẻ hầu hết đặc tính của TT trong các ngônngữ khác TT trong tiếng Việt – một ngôn ngữ không biến hình, khôngđược nhận diện về hình thức – là nhóm từ gây nhiều tranh luận Đặcđiểm có khả năng độc lập làm vị ngữ như một vị từ nội động khẳng định

tư cách là một tiểu loại của vị từ (giống như ĐT) của nó

Ngoài ba tiêu chí – ý nghĩa, chức năng cú pháp, khả năng kết hợpthường được nêu ra, luận án này bổ sung thêm một tiêu chí – tiêu chíCTTT Trong CTTT, khả năng kết hợp của vị từ trung tâm với các thamtố trên cả bình diện cú pháp, ngữ nghĩa được làm rõ CTTT cũng đượcbàn đến ở các khía cạnh: vai trò của vị từ hạt nhân, phân loại các tham tốvà khả năng kết hợp với tham tố CTTT của TT cũng được trực tiếp hoặcgián tiếp đề cập đến, đặc biệt là vai trò trung tâm của TT trong CTTT Về phân chia từ loại TT, luận án chia TT thành ba loại (TT nộiđộng, TT ngoại động, TT có hai cách dùng) Việc phân chia TT đượcdựa trên cơ sở của phạm trù nội động / ngoại động và chú trọng đếntiêu chí cú pháp [+/- Bổ ngữ trực tiếp]

Chương 2 CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

2.1 Vấn đề hạt nhân cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt

Chúng tôi quan niệm: những đơn vị song tiết có hạt nhân là TTđơn tiết và yếu tố sau có tư các bổ ngữ là những ngữ đoạn chức năng mà

Trang 12

hạt nhân của nó là TTĐT Để làm rõ được vấn đề này, chúng tôi dànhmột dung lượng khá dài để lần lượt lý giải: về ngữ TT; vai trò của tiêuchí TD/RB trong việc xác định cương vị từ tiếng Việt; tiếng có quan hệthế nào với tư cách của từ; quan hệ cú pháp có quan hệ thế nào với tưcách của ngữ và tư cách của từ

2.2 Tham tố của tính từ tiếng Việt

Luận án ập trung làm rõ các tham tố gồm diễn tố và chu tố Diễntố sẽ nằm trong một kết cấu vị ngữ hạt nhân còn chu tố nằm trong kếtcấu vị ngữ mở rộng Trong quan hệ với vị từ, diễn tố thường giữ vị trínòng cốt trong câu, có nghĩa nó bắt buộc phải có mặt để làm nên sự tình.Chu tố là thành tố không có chức năng xác định các sự tình theo đúngnghĩa, nhưng nó cung cấp nhiều thông tin gắn với sự tình theo một tổngthể bằng cách chỉ định thời gian hoặc vị trí của các sự tình, đưa ra lí dohoặc nguyên nhân của các sự tình, và cung cấp những thông tin bổ sungkhác Ở một phương diện khác, có thể chia tham tố thành tham tố ngoạitại và tham tố nội tại Tham tố ngoại tại thường đóng vai trò chủ ngữ,nằm ngoài cấu trúc của vị từ làm vị ngữ Tham tố nội tại thường đượcxem như các bổ ngữ (trực tiếp, gián tiếp) có quan hệ nội tại với vị từ(nằm trong cấu trúc vị từ)

2.3 Cấu trúc đơn trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Hạt nhân là tính từ tiếng Việt được xác định trong cấu trúc đơn trị

TT nhóm nội động có thể một mình làm vị ngữ, có quan hệ chặt với chủ

Trang 13

ngữ cả về cú pháp và ngữ nghĩa Các TT nhóm nội động này khi tự mìnhlàm thành phần Thuyết có thể kết hợp với phần Đề để tạo thành câu đơnhai thành phần tối giản mà không cần đến những thành phần khác Vềmặt cấu tạo, TT nhóm nội động này có thể là một từ đơn hoặc từ phức.Sự kết hợp trực tiếp giữa Đề với TT kiểu này cho ta một câu trọn nghĩa– có thể hiểu được mà không cần phải đặt trong ngữ cảnh (context).Phần lớn TT này tương đương với những vị từ trạng thái Những TT cóbản chất là ngoại động nhưng cũng được dùng như nội động Đó lànhững TT ở nhóm ngoại động thỏa mãn về tiêu chí hình thức cú pháp(một bổ ngữ trực tiếp) nhưng không thỏa mãn về phương diện ngữnghĩa TT loại này có thể rút gọn số lượng diễn tố ở cấu trúc nghĩa banđầu để trở thành một TT mới có số lượng diễn tố ít hơn, có thể có sựchuyển đổi tư cách cú pháp

2.4 Cấu trúc song trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Đây là những TT đòi hỏi phải có 2 tham tố tham gia vào sự tình.Một diễn tố xuất hiện trên bề mặt cú pháp là chủ ngữ, diễn tố kia là bổngữ Dựa vào cấu trúc ngữ pháp, bổ ngữ có những hình thức là (ngữ)danh từ, ngữ giới từ, kết cấu chủ - vị, một vị từ hoặc ngữ vị từ Trong đó

bổ ngữ có hình thức (ngữ) danh từ, ngữ giới từ là phổ biến

Nội dung phần này cũng so sánh hoạt động của đơn vị song tiết

có một trung tâm và một yếu tố sau có tư cách bổ ngữ với đơn vị songtiết có một trung tâm và một yếu tố láy, ĐVST có một trung tâm và mộtyếu tố sắc thái hóa, và đơn vị song tiết còn chưa xác định Chúng tôi xác

Ngày đăng: 25/03/2019, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w