Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo qui định của pháp luật là thời điểm bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán.. Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo qui định của
Trang 1TM2.T1 - 2 Nêu nhận xét về các khẳng định sau:
1 Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo qui định của pháp luật là thời điểm bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán
2 Bên đại diện trong quan hệ Đại diện cho thương nhân có thể làm đại diện cho nhiều thương nhân khác
Trang 2BÀI LÀM
1 Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa theo qui định của pháp luật là thời điểm bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán.
Khằng định này là sai.
Giải thích: Điều 62 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao” Khoản 2 Điều 439 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định: “Đối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó” Như vậy, trong trường hợp pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu thì quyền sở hữu đối với hàng hóa sẽ được chuyển giao tại thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, không phụ thuộc vào việc hàng hóa đã được chuyển giao trên thực tế hay chưa Trên thực tế tùy thuộc vào tính chất của việc chuyển giao hàng hóa và phương thức mua bán, quyền sở hữu hàng hóa có thể được chuyển giao tại các thời điểm khác nhau
Theo tính chất của việc chuyển giao hàng hóa:
Thông thường, đối với hàng hóa khi giao nhận được dịch chuyển về mặt cơ học thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
Đối với những hàng hóa khi giao nhận không được dịch chuyển về mặt cơ học (hàng hóa là tài sản gắn liền với đất đai), việc giao nhận hàng hóa được thực hiện thông qua việc giao nhận chứng từ liên quan đến hàng hóa thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi hoàn tất việc chuyển giao các chứng từ liên quan đến hàng hóa
Đối với hàng hóa mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với hàng hóa đó
Trang 3Trong trường hợp hàng hóa không dịch chuyển về mặt cơ học khi giao dịch và cũng không có chứng từ về hàng hóa, quyền sở hữu hàng hóa được coi là đã chuyển giao cho bên mua tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực
Theo phương thức mua bán:
Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức mua sau khi sử dụng thử thì trong thời gian dùng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên bán Tuy nhiên, trong thời gian này, quyền sở hữu của bên bán bị hạn chế (không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố hàng hóa) khi bên mua chưa trả lời
Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức trả chậm, trả dần thì bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa đã giao cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ khi có thỏa thuận khác
Từ sự phân tích trên ta có thể khẳng định: Khẳng định trên là sai
2 Bên đại diện trong quan hệ Đại diện cho thương nhân có thể làm đại diện cho nhiều thương nhân khác.
Khẳng định trên là Đúng
Giải thích:
Thứ nhất ta phải hiểu khái niệm đại diện thương nhân là gì, do đó theo khoản 1
điều 141 LTM 2005 có quy định về đại diện cho thương nhân như sau: “Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thu lao về đại diện.” Ngoài ra, “các bên có thể thỏa thuận về việc đại diện được thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện” (điều 142 LTM 2005) Như vậy có thể thấy phạm vi đại diện hoàn
toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của mỗi bên mà bên đại diện sẽ được phép thực hiện một phần hay là toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện Trong thời hạn đại diện, mọi hợp đồng do bên đại diện ký kết trong phạm vi đại diện với khách hàng đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp
lý ràng buộc bên giao đại diện
Trang 4Hơn nữa, khoản 4 điều 145 LTM có quy định về nghĩa vụ của bên đại diện là
“không được thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của mình hoặc của người thứ ba trong phạm vi đại diện” Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy nếu
không có thỏa thuận khác, thì bên đại diện được làm đại diện cho nhiều thương nhân khác nhau nếu phạm vi đại diện không mâu thuẫn nhau Bên đại diện không được làm đại diện cho hai hay nhiều thương nhân trong cùng một phạm vi đại diện
Ví dụ : Anh N làm đại diện cho công ty M, theo đó anh N thay mặt công ty M thực hiện việc mua hàng hóa là vật liệu xây dựng cho công ty với những tiêu chuẩn đã được công ty M định sẵn Tuy nhiên anh N vẫn có thể làm đại diện cho công ty L trong việc thay mặt công ty L thực hiện việc nhập các loại quần áo cho công ty theo các tiêu chí đã được công ty L định sẵn vì phạm vi đại diện của anh N cho công ty M và công ty L không mâu thuẫn nhau
Như vậy khẳng định trên là đúng, đại diện trong quan hệ đại diện cho thương nhân
có thể làm đại diện cho nhiều thương nhân khác nếu phạm vi đại diện không mâu thuẫn nhau và các bên không có sự thỏa thuận khác