Khái niệm quyền nhân thân Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo v
Trang 1A MỞ ĐẦU
“Quyền nhân thân” (Personaltily rights) là thuật ngữ pháp lí để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, có liên quan mật thiết đến danh sự, nhân phẩm, uy tín của người đó Hiện nay, do đời sống kinh tế văn hoá phát triển và nhu cầu thực tiễn của người dân Vì vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành đều có những quy định bảo hộ quyền nhân thân, mở rộng các quyền nhân thân như: quyền xác định lại giới tính; quyền hiến xác, mô, bộ phận cở thể và quyền được nhận mô, bộ phận cơ thể; quyền được hiến mô, bộ phận cơ thể và hiến xác sau khi chết nhằm mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học
Và để có cách nhìn toàn diện hơn về các quy định của pháp luật về quyền
nhân thân nhóm xin được triển khai bài tập nhóm tháng 1 như sau: “Sưu tầm 01 vụ việc liên quan đến quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết Sưu tầm 01 vụ việc liên quan đến quyền xác định lại giới tính của cá nhân Vận dụng các quy định của pháp luật có liên quan để phân tích và đưa ra những bình luận, kiến nghị của nhóm về hai vụ việc đó.”
B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận
1 Khái niệm quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ
Thêm phần hiến pháp nữa cậu ơi Điều 24 Bộ luật Dân sự 2005 quy
định: “quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo đó, chúng ta có thể hiểu nhân thân là
những yếu tố gắn liền với mỗi con người cụ thể, liên quan trực tiếp tới cá nhân như hình dáng, khuôn mặt, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp…
Quyền nhân thân có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể, không thể dịch chuyển cho chủ thể khác Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không
Trang 2bị phụ thuộc, chi phối bởi bất kì yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo… Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân cho mỗi cá nhân mà không thể dịch chuyển cho chủ thể khác, mỗi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân
+ Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn liền với tài sản hay không gắn liền với tài sản mà thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá
+ Hành vi xâm hại quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại Đối với mỗi hành vi được coi là xâm phạm tới quyền nhân thân thì có thể gây ra thiệt hại hoặc không gây ra thiệt hại Trên thực tế, ngay cả trong trường hợp bị xâm phạm quyền nhân thân không những là không gây thiệt hại gì cho người bị xâm hại mà thậm chí là còn có lợi cho họ Nhưng về nguyên tắc, nếu không có sự đồng ý của cá nhân thì đều coi là vi phạm
+ Thiệt hại về quyền nhân nhân không có tiêu chí để định lượng Trong các quyền nhân nhân, quyền nhân nhân thân liênquan tới đời sống tinh thần của cá nhân luôn chiếm một số lượng lớn Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân không được cân, đo, đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể Đặc trưng này không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm hại tới quyền nhân nhân
2 Quyền hiến xác, bô phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết được quy
định tại Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình hoặc hiến xác sau khi chết vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học”.
Mục đích chủ yếu của việc thực hiện quyền này không phải đem lại lợi ích cho chủ thể quyền như đại đa số các quyền nhân thân khác, mà nhằm đem lại lợi ích cho người khác, lợi ích cho toàn xã hội Lợi ích mà chủ thể quyền đạt được chủ yếu là lợi ích tinh thần, là niềm vui khi cứu sống được người khác hoặc khi được cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học
Trang 3Lợi ích vật chất có thể có nhưng không phải là chính yếu Có thể thấy rằng, lợi ích của chủ thể quyền thưc sự rất khiêm tốn so với lợi ích to lớn mà xã hội nhận được từ việc người đó thực hiện quyền của mình Để thực hiện quyền này, cá nhân đều phải thể hiện ý chí tự nguyện hiến tặng khi người đó còn sống và còn minh mẫn, sáng suốt
3 Quyền xác định lại giới tính của cá nhân
Điều 36 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính”.
Hậu quả pháp lý của việc xác định lại giới tính sẽ là: khi xác định lại giới tính và đã được công nhận giới tính mới, người đó sẽ trở thành hoặc không còn là đối tượng áp dụng, bảo vệ của một số quy định pháp luật đặc thù (về giới tính) hoặc trở thành thành viên của các tổ chức xã hội đặc thù Tuy nhiên, nhìn góc độ pháp lý, có thể thấy đây là một quyền nhân thân có điều kiện Thể hiện ở chỗ, một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác Khi và chỉ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện trên thì họ mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác
Có thể thấy, “chuyển đổi giới tính” và “xác định lại giới tính” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Bản thân cụm từ “xác định lại giới tính” nhằm trả lại giới tính thực cho người bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác đã nói lên rất rõ ràng và là yếu tố để phân biệt với khái niệm “chuyển đổi giới tính” được thực hiện theo ý thích của con người, trái với quy luật của tạo hoá
II Những vụ việc thực tế và quan điểm của nhóm
1 Vụ việc liên quan đến quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của cá nhân sau khi chết
a) Tóm tắt vụ việc
Trang 4Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1942, quê quán tại Hà Nam có viết thư đề nghị được hiến xác cho Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian bà nằm điều trị bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai vào tháng 12/2013 Sau khi nhận được đơn của bà, bệnh viện Bạch Mai cho rằng mình có đủ điều kiện cơ sở vật chất nên không hề thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về cơ thể người về trường hợp của bà H Hơn nữa do bà H nằm điều trị tại bệnh viện, trong thời gian đó lại không thấy người thân đến chăm sóc nên bệnh viện Bạch Mai cũng không viết thư phúc đáp như thông lệ ( Thư phúc đáp có nội dung cảm ơn, hướng dẫn các thủ tục cần thiết để thực hiện ý nguyện và đặc biệt là nhằm tới nhân thân của họ biết)
Tháng 1/2014, bà H mất Sau khi bà H mất Bệnh viện Bạch Mai đã làm thủ tục chuyển xác bà vào kho hiến xác theo di nguyện của bà Lúc này, con trai của bà
H là anh Trần Văn T, hiện đang sinh sống tại Hà Nội có khiếu nại với Bệnh viện Bạch Mai rằng anh không hề biết việc bà H muốn hiến xác cho bệnh viện, và anh không đồng ý với việc này; yêu cầu bệnh viện Bạch Mai trả lại thi thể mẹ anh để anh đưa bà về quê an táng
Bình luận về hành vi của bệnh viện Bạch Mai và anh T trên cơ sở quy định của pháp luật trong tình huống trên
b) Phân tích vụ việc
- Về tính hợp pháp của việc hiến xác sau khi chết của bà Nguyễn Thị H:
Điều 34 BLDS năm 2005 quy định về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết: “Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc hiến và sử dụng xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện theo quy định của pháp luật.”
Có thể nói việc hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết là quyền của mỗi cá nhân và trình tự thủ tục hiến xác, bộ phận cơ thể do pháp luật quy định Hiến xác là một vấn đề dường như còn xa lạ không chỉ với người Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia khác Có nhiều trường hợp hiến xác thì những người thân của họ lại không chấp nhận hoặc việc đăng ký hiến xác của một cá nhân mà người thân của họ không biết đến khi người thân của họ chết họ mới biết và quá
Trang 5bất ngờ và thường không chấp nhận việc đó và trường hợp của bà H cũng tương tự như vậy
Bà H thể hiện rõ bằng ý nguyện hiến xác bằng văn bản, các điều kiện về độ
tuổi là đủ 18 tuổi trở lên, đủ năng lực hành vi dân sự … (Quy định tại Điều 5 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006) như vậy bà H
hoàn toàn có quyền hiến xác theo quy định của pháp luật Pháp luật quy định như vậy là vì quyết định hiến xác sau khi chết là một quyết định quan trọng có ảnh hưởng lớn tới bản thân người hiến cũng như đối với xã hội, nên pháp luật đòi hỏi người hiến phải là cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự, nhằm đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của việc hiến xác Quyền hiến xác thuộc vào nhóm quyền nhân thân nên phải do cá nhân tự mình tham gia xác lập và thực hiện Quyền này không thể thông qua người đại diện cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự vì những người này chưa nhận thức được rõ và sự nhạy cảm của vấn đề này Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự chỉ được thay mặt thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản còn các quan hệ nhân thân vẫn phải do chủ thể đó tự quyết định thực hiện
- Về hành vi của bệnh viện Bạch Mai:
Theo quy định tại Điều 12 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 thì sau khi bà H có yêu cầu đề nghị hiến xác thì cơ quan y
tế tiếp nhận sẽ có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người Khi nhận được thông báo về trường hợp hiến mô, bộ phận
cơ thể người, Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế quy định tại Điều 16 của Luật này để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến theo quy định tại khoản 4 điều này Pháp luật quy định như vậy là nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của người hiến xác, thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện đúng ý nguyện của họ
Nhưng trong trường hợp này, bệnh viện Bạch Mai lại không tiến hành bất cứ một thủ tục pháp lý nào thậm chí không viết thư phúc đáp cho người hiến như thông lệ mà sau khi bà H chết lại tiến hành chuyển xác bà vào kho hiến xác Có
Trang 6thể thấy hành vi của bệnh viện Bạch Mai như vậy là trái với quy định của pháp luật
- Về hành vi của anh Trần Văn T:
Anh T là con trai ruột của bà H Sau khi biết sự việc, anh T đòi bệnh viện Bạch Mai trả xác thì bệnh viện sẽ tiến hành trả xác cho anh T Tuy nhiên, quyền nhân thân là quyền mang tính tuyệt đối của cá nhân, nhưng quyền hiến xác sau khi chết lại là một quyền khó thực hiện nhất vì nó là một vấn đề nhạy cảm, mang nhiều yếu tố tâm linh, nhất là với một đất nước như Việt Nam ta
Hơn nữa hiện nay chưa có một quy định cụ thể nào nói rằng phải có sự đồng
ý của nhân thân người hiến thì cơ quan mới có quyền nhận xác, nhưng vì đây là
một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng nặng của phong tục tập quán “chết phải toàn thây” nên chỉ cần một người trong nhà không đồng ý là cơ quan không thể tiến
hành nhận xác được, dù cho đã rõ ý nguyện của người đã khuất Nguyên nhân là vì họ không thể vào tranh xác với người nhà người hiến được
Chính vì vậy khi có yêu cầu của anh T, bệnh viện Bạch Mai sẽ tiến hành các thủ thục để anh nhận lại xác của mẹ mình
c) Ki ến nghị của nhóm
Quyền hiến xác của cá nhân sau khi chết là một quyền nhân thân cơ bản của con người, nhưng việc thực hiện quyền này ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế do nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế, xã hội, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo,phong tục tập quán Đặc biệt pháp luật còn quy định chưa cụ thể, có chỗ vẫn rườm rà; điều này gây khó khăn cho việc thực hiện quyền hiến xác sau khi chết của công dân Trên thực tế, việc một cá nhân tự nguyện hiến xác sau khi chết xảy ra không nhiều tại Việt Nam Phần lớn là vì gánh nặng tâm lý tín ngưỡng phong tục đã ăn sâu vào suy nghĩ của người Việt
Thứ nhất, cần phải xem xét lại quy định trong BLDS khi ghi nhận quy định về quyền được hiến xác, theo đó thì: “Cá nhân có quyền hiến bộ phận cơ thể của mình hoặc hiến xác sau khi chết…”điều này rất dễ gây cho người ta hiểu nhầm khi
trong quy định không chỉ rõ các yếu tố của người hiến xác, hiến bộ phận như độ tuổi, khả năng nhận thức…như vậy cá nhân muốn hiến xác ở đây phải là người có
Trang 7độ tuổi bao nhiêu, khả năng nhận thức như thế nào….điều này chưa được quy định cụ thể Và phải cho tới khi luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể và hiến lấy xác
2006 ra đời mới giải thích rõ điều kiện hiến xác, bộ phận cơ thể tại điều 5 luật này Nhưng nếu như vậy ta đã loại bỏ đi khả năng hiến xác của những người dưới 18 tuổi, bởi cũng có những bệnh nhân dưới 18tuổi cũng cần có nội tạng tương thích để cấy ghép; nên trong trường hợp này ta cần quy định thêm nếu người đó chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì có thể được hiến xác nếu có sự chấp thuận của người giám hộ hoặc người đại diện Như vậy, nếu nói về quyền nhân thân quy định về hiến xác ghi nhận trong Bộ luật dân sự vẫn còn tương đối sơ sài và cần có các quy định chi tiết hơn hoặc các văn bản hướng dẫn
Thứ hai, trong việc ảnh hưởng tiêu cực của phong tục tập quán tới việc hiến
xác, ta nên thống nhất quy định người hiến xác phải có được sự nhất trí đối với người sẽ chịu trách nhiệm đưa xác mình đi hiến; nếu đó là gia đình người hiến, thì cần có một biên bản ghi lại sự xác nhận của các thành viên trong gia đình, nếu như gia đình người đó phản đối thì người hiến có thể viện tới một người làm chứng Về cách xây dựng chi tiết quy định này, ta có thể tạm liên tưởng việc để lại xác và nội tạng như việc để lại di chúc thừa kế tài sản và cần phải có những người chứng kiến việc lập di chúc nữa Vậy có hay không việc nên cho hiến xác là một trong các điều nếu có thì phải được quy định trong di chúc Như vậy, thì dù người kia có chết mà gia đình vẫn cố ngăn cản thì vẫn sẽ có người đi báo với các cơ quan chức năng để đưa xác kịp thời đi hiến vì thông thường một xác người chỉ có tác dụng để hiến sau 10-12 tiếng sau khi chết
Thứ ba, cần thiết phải có một thiết chế liên kết giữa người hiến xác và cơ sở
nhận hiến xác, bởi không chỉ đảm bảo được việc sau khi chết, cơ sở hiến xác có thể tới kịp thời để đảm bảo có thể sử dụng được xác kịp thời Hơn thế nữa trong thời
kỳ người hiến xác vẫn còn sống, có thể tư vấn những thông tin quan trọng nhằm đảm bảo sức khỏe cho người đó nói chung và đảm bảo cho chất lượng xác sau khi hiến nói riêng
Cuối cùng, nên có những quy trình nhất định trong việc hiến xác, nhằm tận
dụng phần tài sản quý báu mà người hiến xác đã để lại cho khoa học Theo đó, xác
Trang 8được bảo quản tốt thì trong 10-12 giờ vẫn có thể dùng để hiến cho việc cứu chữa trong y học, nhưng nếu điều này không thể thực hiện được do chậm trễ; chúng ta nên xây dựng thêm quy định tiếp theo là những xác không thể dùng trong cứu chữa
y học có thể sử dụng tiếp vào việc nghiên cứu khoa học, phục vụ giảng dạy
2 Vụ việc liên quan đến quyền xác định lại giới tính của cá nhân
a) Tóm tắt vụ việc
Phần này t thấy hoi giống văn nói nên t sua chút Ngày 3/2/2010, bé M được sinh ra tại Bệnh viện Hùng Vương TP Hồ Chí Minh trong điều kiện sức khỏe bình thường, bé sinh ra có bộ phận sinh dục của bé trai, gồm dương vật to và hai bìu Khi bé M được hơn 3 tuổi, người nhà mới nhận thấy vị trí lỗ tiểu của bé bất thường Tháng 5-2013, gia đình đưa bé M đến Bệnh viện Nhi Đồng 2 khám Để xác định giới tính cho bé, bác sĩ cho bé làm xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính và kết quả giới tính của bé M là nữ
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, phó phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Nhi Đồng
2, cho biết bé M có bộ phận sinh dục bên trong là nữ như có tử cung, buồng trứng,
âm đạo, có âm vật nhưng phì đại giống dương vật, tưởng là hai bìu nhưng lại là hai
âm môi lớn của bé Sở dĩ bé M có những biểu hiện như trên là do bé có bệnh lý tăng sinh tuyến thượng thận bẩm sinh Khi mắc bệnh này, trẻ sẽ bị ảnh hưởng từ trong bào thai nên khi sinh ra âm vật đã to như dương vật Các bác sĩ đã phẫu thuật tạo hình bộ phận sinh dục cho bé trở về hình dáng bên ngoài là một bé gái Đồng thời được sự cho phép của Bộ Y tế, Sở Y tế TP.HCM, Bệnh viện Nhi Đồng 2 sẽ cấp giấy chứng nhận xác định lại giới tính cho bé M.1
Đây là trường hợp mơ hồ giới tính đầu tiên ở các tỉnh phía Nam được cấp giấy chứng nhận này
b) Phân tích vụ vi ệc
Bảo vệ quyền nhân thân là một trong những nguyên tắc được ghi nhận trong BLDS Các quyền nhân thân của cá nhân được Nhà nước bảo hộ ngày càng mở
1 http://tuoitre.vn/Pages/Printview.aspx?ArticleID=561290
Trang 9rộng do sự phát triển của xã hội Và một trong số những quyền đó là “Quyền xác định lại giới tính” được quy định tại Điều 36 BLDS năm 2005
“Cá nhân có quyền được xác định lại giới tính Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.”
Có thể nói, quyền xác định lại giới tính được quy định trong Bộ luật Dân sự
đã có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó thể hiện sự điều chỉnh kịp thời của cơ quan lập pháp đối với những quan hệ pháp luật mới phát sinh trong đời sống xã hội Qua đó giúp cho những người chưa định hình được giới tính một cách chính xác có được sự bảo vệ của pháp luật và trường hợp của bé M là một minh chứng rõ ràng
Theo quy định của pháp luật thì có thể thấy bé M là một trong các đối tượng cần xác định lại giới tính Khoản 1 và 2 điều 2 NĐ 88/2008 NĐ-CP về xác định lại
giới tính có quy định: “1 Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật.
2 Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét cả về bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính”
Đây là một quyền nhân thân có điều kiện rõ ràng, một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác Khi và chỉ khi đáp ứng được một trong hai điều kiện trên họ mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác Đối với trường hợp của em M trên thì khi sinh ra âm vật phì đại giống dương vật nên gia đinh và mọi người đều cho rằng em là con trai Do chỉ nhìn về bộ phận sinh dục của bé M nên giới tính chưa được định hình một cách chính xác Cho đến khi 3 tuổi người nhà mới nhận thấy vị trí lỗ tiểu của bé bất thường cho đi khám mới phát hiện hai bìu của bé không có tinh hoàn mà có bộ phận sinh dục bên trong
Trang 10là nữ như có tử cung, buồng trứng, âm đạo và kết quảxét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính là nữ Việc xác định lại giới tính của bé M không thuộc các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 4 Nghị định 88/NĐ- CP vì bé M thuộc trường hợp có khuyết tật về giới tính Vậy nên việc xác định lại giới tính cho M là một vấn đề hết sức cần thiết để sau này lớn lên có thể hòa nhập với xã hội, không tự ti, và để không ảnh hưởng đến các chức năng của bộ phận sinh dục đã thay đổi vì nó cần thời gian để phục hồi
Theo quy định của Nghị định, việc thực hiện quyền này “phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan và trung thực” Có nghĩa không bất kỳ một
cá nhân, tổ chức nào có quyền bắt buộc người có khuyết tật về giới tính phải xác định lại giới tính bằng các can thiệp y tế, nếu không phải do tự thân người đó quyết định Tuy nhiên đối với trường hợp bé M lúc này mới chỉ 3 tuổi, với một độ tuổi
nhỏ như vậy, một vấn đề đặt ra ở đây, là liệu “nguyên tắc tự nguyện” có được đảm
bảo? Nhằm hoá giải vướng mắc này thì theo Điều 7 Khoản 1 Mục a Hồ sơ, thủ tục về y tế đề nghị xác định lại giới tính- NĐ 88/2008/NĐ-CP đã đề cao vai trò của cha mẹ hoặc người giám hộ thông qua việc quy định chính những người này phải có đơn đề nghị (đối với trường hợp người cần xác định lại giới tính nhỏ hơn 6 tuổi)
Như vậy, bác sĩ chỉ tiến hành tư vấn cho gia đình về những trường hợp mơ hồ giới tính và chỉ ra hướng giải quyết cụ thể, còn sau đó gia đình bệnh nhi đồng ý hợp tác với bệnh viện để tiến hành điều trị cho bé Có thể thấy đó chính là sự tự nguyên của gia đình bé M Pháp luật quy định trách nhiệm của cha mẹ như vậy sẽ giúp cho bé M nhanh chóng có thể xác định chính xác giới tính thật của mình, góp phần hình thành nên những thói quen vốn có của giới tính thật, tránh tình trạng lâu dài để khi trẻ lớn mà mới xác định vấn đề giới tính sẽ khiến con người khó thích nghi với giới tính thật của mình sau một thời gian dài đã sống với giới tính trước kia Và tất nhiên trong trường hợp này cha mẹ và người giám hộ của bé M cũng sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính của con