Là một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn đặc biệt trong các
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong
xã hội Trong cơ cấu dân số, gần 80% phụ nữ Việt Nam sống ở nông thôn Phụ nữ nông thôn là những người phụ nữ sinh sống và làm việc ở nông thôn Họ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Là một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn đặc biệt trong các hoạt động nông lâm ngư nghiệp Để làm rõ vấn đề này, em xin chọn
đề tài số 5: “Quyền của người phụ nữ nông thôn trong các hoạt động nông lâm ngư nghiệp dưới góc độ bình đẳng giới”.
NỘI DUNG
I Khái niệm về Bình đẳng giới:
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện
và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia
đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006).
Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện như: nam và nữ có vị trí, vai trò ngang nhau trong mọi lĩnh vực; cả nam và nữ đều được tạo điều kiện, cơ hội
để phát triển trên cơ sở tính đến những đặc thù khác biệt về giới tính giữa hai giới; bình đẳng trong việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực; bình đẳng trong việc tham gia bàn bạc và ra quyết định; bình đẳng trong thụ hưởng các lợi ích
Từ đây ta thấy, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận
và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Từ đó nam và nữ có thể trải nghiệm những
Trang 2điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội
II Quyền của người phụ nữ nông thôn trong các hoạt động nông lâm
ngư nghiệp dưới góc độ bình đẳng giới
1 Thực trạng về quyền của người phụ nữ nông thôn trong các hoạt động nông lâm ngư nghiệp:
Ở Việt Nam, phụ nữ nông thôn là lực lượng to lớn và quan trọng của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Sống ở vùng nông thôn, với nền kinh tế
tự cung tự cấp, phụ nữ phải làm rất nhiều việc nội trợ, nuôi con, tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, trồng rừng, chăn nuôi trâu, bò, lợn gà, nuôi trồng thủy sản,… chăm lo phát triển kinh tế gia đình trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường Công cuộc đổi mới kinh tế ở nông thôn Việt Nam đã tạo ra mức tăng trưởng rất đáng khích lệ về lĩnh vực sản xuất nông lâm ngư nghiệp Trong sự thay đổi đó, phụ nữ nông thôn đã có những đóng góp hết sức quan trọng bởi vì họ là lực lượng lao động cơ bản trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp Tuy nhiên, vị thế của phụ nữ trong nền kinh tế thị trường, trong các quan hệ xã hội và đời sống gia đình chưa tương xứng với mức độ đóng góp của họ
- Về thu nhập: Nguồn thu nhập chính của phụ nữ nông thôn từ sản xuất nông
lâm ngư nghiệp và bình quân thu nhập là rất thấp Tuy nhiên trong cái nghèo khổ chung, người phụ nữ là người chịu đựng cơ cực nhiều hơn vì bị ràng buộc bởi nhiều hủ tục lạc hậu Ngoài những bữa ăn đạm bạc, đàn ông còn nhiều thú vui khác như uống rượu, hút thuốc hoặc vui thú hát hò nhưng với phụ nữ, ngoài bữa ăn no, họ không được hưởng thú vui nào hơn ngoài việc quanh năm, suốt tháng lo lắng cho gia đình, con cái Thậm chí các chị không
có thời gian và điều kiện để lo cho chính bản thân mình
Trang 3- Về việc làm: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam giới Thời gian
làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thời gian này
họ vẫn lao động bình thường, thậm chí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi
- Về quyền và lợi ích: Mặc dù các hoạt động nông lâm ngư nghiệp thường
mang tính chất nặng nhọc nhưng vì đời sống khó khăn nên phụ nữ nông thôn thường không có thời gian nghỉ ngơi Bên cạnh đó do nạn tảo hôn, nhiều phụ
nữ phải sinh con sớm, sinh nhiều dẫn đến sức khỏe giảm sút Nhiều nơi vẫn còn tồn tại những hủ tục lạc hậu như mẹ phải ăn cơm sau con trai, sinh con phải ở ngoài rừng, con sống hay chết là trách nhiệm của người mẹ… Chị em vẫn thường chấp nhận những hủ tục này như một điều hiển nhiên vì thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu nhận thức về bình đẳng giới Khi được hỏi về quyền nam nữ, 83% trả lời không biết gì còn lại không trả lời
Có thể thấy, phụ nữ đang phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới: thường
phải làm việc nhiều hơn, không có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội và học tập chuyên môn nghiệp vụ Hậu quả là khả năng tìm kiếm việc làm của họ trở nên khó khăn hơn, nguy cơ nghèo khổ vì thiếu việc làm tăng, thu nhập thấp Sự phụ thuộc của họ vào gia đình và xã hội vì vậy cũng tăng lên
2 Nguyên nhân của thực trạng trên:
2.1 Quan niệm và cách ứng xử của xã hội
Nếp gia trưởng vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong các quan hệ gia đình, đặc biệt là ở nông thôn Nói chung đa số phụ nữ giữ một vai trò thứ yếu so với nam giới trong gia đình suốt cuộc đời của họ Thái độ của xã hội muốn phụ nữ đóng một vai trò “thích đáng” trong gia đình gây rất nhiều khó khăn cho việc giải quyết những vấn đề phức tạp như bạo lực đối với phụ nữ, li hôn và nhu cầu của những
Trang 4người mẹ đơn thân Do chưa có những nghiên cứu sâu về các biến động của hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là các hộ gia đình thuộc các dân tộc thiểu số nên những cố gắng nhằm tăng cường bình đẳng giới trong quá trình ra quyết định và củng cố vị thế của phụ nữ còn bị hạn chế
2.2 Về trình độ chuyên môn kĩ thuật:
Nguyên nhân căn bản của việc năng suất lao động trong nông, lâm, thủy sản ở nước ta còn rất thấp là vì phần lớn lao động trông nông lâm nghiệp và thủy sản là các lao động phổ thông, giản đơn, lao động làm việc theo kinh nghiệm
Điểm đáng chú ý là, mặc dù phụ nữ đảm nhận đa phần các công việc liên quan đến sản xuất nông lâm ngư nghiệp nhưng họ lại ít có cơ hội tham gia các lớp tập huấn chuyển giao kiến thức khoa học kĩ thuật Theo khảo sát, chỉ có 10% phụ nữ là các thành viên tham gia các kháo học trồng trọt và 25% trong các khóa học về chăn nuôi Hiện tượng “nam làm, nữ học” này khá phổ biến ở các vùng nông thôn Việt Nam Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế của phụ nữ nông thôn thường được thực hiện theo tập quán và kinh nghiệm truyền thống, chưa được đào tạo ngay cả kĩ năng nghề nông, về lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Vì vậy, mặc dù công sức cảu chị em bỏ ra rất lớn nhưng sản lượng cậy trồng, vật nuôi thu được rất thấp và
dễ gặp rủi ro Trong khi đó, hiệu quả sản xuất nông lâm ngư nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với thu nhập, việc làm và đời sống của phụ nữ cũng như đối với cả gia đình họ
2.3 Về sức khỏe của lao động nữ trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn:
Kết quả một cuộc khảo sát gần đây của Cục an toàn lao động (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) cho thấy các bệnh nghề nghiệp, mãn tính do làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm của người lao động nông nghiệp ngày một tăng Có 30,3% nông dân mắc các bệnh nghề nghiệp về da, gần 30% bị viêm
Trang 5nhiễm đường hô hấp, 10% bị đau đầu Theo số liệu thống kê, cứ 100 nghìn lao động thì có 1.710 người bị ảnh hưởng sắc khỏe do tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật… Môi trường sản xuất ô nhiễm không chỉ do sử dụng nhiều hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật mà còn tăng thêm bởi ô nhiễm do các khu chế xuất, khu công nghiệp, sân gôn,… đang đua nhau mọc lên ở các vùng nông thôn
Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2007 có gần
4 triệu tấn phân bón các loại bị sử dụng lãng phí do cây trồng không hấp thụ được (chiếm 55% - 60%), cộng với việc lạm dụng sử dụng tới 75.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật mà không tuân thủ các quy trình kĩ thuật đã gây mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm nghiêm trọng đất, nguồn nước tại nhiều vùng nông thôn Cùng với trồng trọt, hàng năm, ngành chăn nuôi cũng “đóng góp” khoảng 73 triệu tấn chất thải, trong đó chỉ 30% - 60% chất thải được xử lí, còn lại xả thẳng ra môi trường Ngay
cả mô hình chăn nuôi trang trại cũng cũng chỉ có 10% trong tổng số 16.700 trang trại có hệ thống xử lí chất thải Ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và nông thôn tác động xấu đến sức khỏe của phụ nữ nhiều hơn nam giới, bởi phụ nữ là người đảm nhận chính các hoạt động sản xuất, trồng trọt và chăn nuôi
Tác động của công việc sản xuất nông nghiệp vất vả, trong môi trường ô nhiễm còn cộng thêm với vai trò làm vợ, làm mẹ Việc thực hiện chức năng sinh sản của phụ nữ cũng là một gánh nặng khi mà nam giới còn ít tham gia và chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ trong kế hoạch hóa gia đình khiến cho tỉ lệ nạo, hút thai là 1/1 ca đẻ sống Đó chưa kể, phụ nữ chưa có quyền sinh sản khi mà họ bị sức ép của chồng và gia đình chồng đẻ con trai Tất cả những điều này là những yếu tố tác động xấu đến sức khỏe, thể chất, tinh thần và tâm lí của phụ nữ nông thôn Trong khi thực hiện “thiên chức”, phụ nữ nông thôn không được hưởng các chế độ thai sản như các phụ nữ thuộc lĩnh vực làm công ăn lương khác, họ cũng không được hưởng các tiêu chuẩn về bảo hiểm xã hội, y tế trong thời gian mang thai, sinh nở
Trang 62.4 Các dịch vục công thiếu tính nhạy cảm giới và chưa đến được với cả
nam giới và phụ nữ một cách bình đẳng:
Mục tiêu của nông nghiệp là tăng hiệu quả sản xuất và giá trị sản lượng, thông qua việc cải tiến công nghệ các đầu vào cho nông nghiệp bao gồm giống, phân bón, thức ăn và quản lý dịch hại tổng hợp; sản xuất, bảo quản sau thu hoạch, chế biến và tiếp thị; đầu tư vào các hệ thống thủy lợi; đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp bao gồm cả cây công nghiệp; đáp ứng các thị trường xuất khẩu và tạo việc làm mới Nhìn chung, cơ hội tiếp cận của phụ nữ đối với các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm và các đầu vào của sản xuất và kinh doanh ít hơn nam giới Do vậy, phụ nữ đang bị mất đi tiềm năng để tiếp cận với các công nghệ tiên tiến và để đóng góp vào các mục tiêu phát triển ở khu vực nông thôn, công nghệ sản xuất quy mô vừa và nhỏ thường có xu hướng chú trọng vào nam giới với tư cách là chủ hộ gia đình và chưa đáp ứng đúng nhu cầu người sử dụng
III Giải pháp đảm bảo quyền của người phụ nữ nông thôn trong các
hoạt động nông lâm ngư nghiệp dưới góc độ bình đẳng giới
- Một là, ưu tiên đào tạo nghề và việc làm cho phụ nữ
Quá trình biến động đất đai trong nông nghiệp không chỉ khiến chi nhiều nông dân, nhất là phụ nữ thất nghiệp mà nó còn tác động đến thị trường lao động với những mức độ khác nhau Với mô hình phân công lao động theo giới hiện nay cộng thêm nam giới di cư đến các vùng đô thị, khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm, phụ nữ nông thôn đảm nhận “đa vai trò” nên có những bất lợi hơn so với nam giới trong việc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp Cơ sở để thấy rằng phụ nữ nông thôn cần được quan tâm đào tạo nghề hơn nam giới, ít nhất là ở mấy lí do: a) phụ nữ nông thôn là “nhân vật chính” vì họ đảm nhận hầu hết các công việc trồng trọt, chăn nuôi; b) ở các vùng quê nam giới đi làm ăn xa, nếu có ở lại quê thì họ cũng dễ tìm kiếm việc làm và ít gặp rủi ro hơn so với phụ nữ; c) phụ nữ không chỉ
Trang 7gắn với ruộng đồng mà còn gắn với làng xóm vì xu hướng “nữ hóa nông thôn” đang diễn ra; d) phụ nữ thường gặp trở ngại nhiều hơn nam giới trong cơ hội tiếp cận giáo dục đào tạo do vẫn còn quan niệm thiên vị giới ở mức độ khác nhau Trong một phân tích về thay đổi nghề nghiệp trong các khu vực nông thôn cho thấy nam giới thay đổi nghề nghiệp nhiều gấp hơn hai lần phụ nữ (31.6% và 13.2%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, xác suất đổi nghề của lao động nam lớn hơn lao động
nữ, nếu một phụ nữ có xác suất đổi nghề là 22% thì một lao động nam tương đương có xác suất đổi nghề là 52% Điều này càng cho thấy sự cần thiết ưu tiên đào tạo nghề, chuyển giao kĩ thuật liên quan đến sản xuất nông lâm ngư nghiệp cho phụ nữ, vì nam giới có tính linh hoạt hơn phụ nữ trong quá trình nắm bắt các cơ hội mới khi chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm
Trong lĩnh vực thủy sản đây là một trong kinh tế tạo công ăn việc làm cho phụ
nữ, đặc biệt là những lĩnh vực chế biến thủy sản Các dự án của nhà nước cần nhằm mục đích tạo càng nhiều việc làm cho phụ nữ, đồng thời cải thiện điều kiện làm việc cho chị em Cùng với đó, các hoạt động, chính sách cũng cần phải có sự lưu tâm đến các vấn đề giới và tạo cơ hội để chị em phụ nữ tăng thêm thu nhập Mục tiêu của các chính sách trong Bộ luật lao động cần phải mang lại lợi ích cho người lao động, đặc biệt là phụ nữ nghèo và tạo việc làm nhiều hơn, dù là chính thức hay không chính thức, cho những lao động nữ thiếu kĩ năng Trong tập huấn, cần chú ý đến những khác biệt giữa nam và nữ trong tiếp cận các dịch vụ khuyến nông và chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Có chính sách ưu tiên chuyển giao khoa học – kĩ thuật và đào tạo nghề cho phụ nữ nhất là phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ trong các hộ gia đình có ruộng đất thu hồi Chú ý đến những phẩm chất của phụ nữ thích hợp với các ngành nghề truyền thống… Trong đào tạo nghề, chuyên môn kĩ thuật cho phụ nữ nên tính đến đặc điểm phong tục tập quán, dân tộc và mức độ phát triển kinh tế - xã hội của
Trang 8từng vùng, miền Chỉ khi chúng ta tính đến những đặc điểm kinhh tế - xã hội như vậy mới có thể xây dựng chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm phù hợp với điều kiện, năng lực và hoàn cảnh của phụ nữ và đào tạo nghề mới có hiệu quả
- Hai là, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực
Không làm chủ được các nguồn lực (đất đai, tài sản, phương tiện sản xuất…) thì phụ nữ sẽ thuộc “nhóm yếu thế”, không thể tự chủ và khó phát huy được sức mạng của vai trò nữ giới Điều này sẽ càng bất lợi nếu như đời sống gia đình của người phụ nữ có vấn đề, gặp chuyện “cơm không lành, canh chẳng ngọt” dẫn đến gia đình tan vỡ
Chính vì lẽ đó, cần thúc đẩy việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003, đứng tên trong giấy tờ sử dụng đất không chỉ cho phép phụ nữ tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn vốn mà còn nâng cao sự an toàn cho chín họ trong trường hợp li hôn hoặc thừa kế Với phụ nữ nông thôn, đất đai là một phương tiện đảm bảo an sinh xã hội đồng thời cũng là phương tiện duy nhất để thoát nghèo Nghiên cứu cho thấy, so với nam giới thì phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng thường ít có cơ hội trong việc tiếp cận vay vốn tín dụng Vì thế, cần tính đến những khác biệt giữa nam và nữ trong tiếp cận và sử dụng vốn vay tín dụng từ ngân hàng và các tố chức tín dụng khác để có chính sách, chế độ riêng đối với nam và nữ nông dân trong triển khai chính sách tín dụng hiện nay
- Ba là, chăm lo sức khỏe và an sinh xã hội cho phụ nữ nông thôn.
Hiện nay, phụ nữ nông thôn vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi trong việc chăm sóc sức khỏe Để có chính sách ưu đãi nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ nông thôn nên tập trung vào:
Trang 9- Sức khỏe sinh sản của phụ nữ: Khi thực hiện chức năng tái sinh sản, người phụ nữ nông thôn hiện nay phải đối diện với những gánh nặng về dân số - kế hoạch hóa gai đình do quan niệm của nam giới “khoán” việc đó cho phụ nữ và nam giới thiếu sự tham gia, chia sẻ trách nhiệm trong vấn đề này Đồng thời quan tâm đến chất lượng dân số hiện nay không thể coi nhẹ những nội dung liên quan đến sức khỏe sinh sản, quyền sinh sản của người phụ nữ nông thôn
- Cải thiện môi trường lao động và sinh hoạt ở nông thôn: Hiện nay, ô nhiễm môi trường sống ở nông thôn và môi trường sản xuất nông nghiệp đã và đang đến mức báo động Cùng với đó, việc phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản có thể tác động tiêu cực đến môi trường nếu các biện pháp phòng ngừa thích hợp không được áp dụng Do vậy, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa cần chú trọng đến việc giữ gìn, bảo vệ môi trường nông lâm ngư nghiệp Có như thế thì phụ nữ nông thôn mới duy trì được các nguồn thu nhập từ các hoạt động nông lâm ngư nghiệp của mình
KẾT LUẬN
Trên đây là một số vấn đề quyền của người phụ nữ nông thôn dưới góc độ bình đẳng giới Qua phân tích thực trạng đồng thời đề ra những giải pháp chúng ta có thể hy vọng rằng quyền của người phụ nữ nông thôn sẽ có nhiều thay đổi theo hướng tích cực và tiến đến bình đẳng thực chất trong xã hội Việt Nam hiện nay Bình đẳng giới là một vấn đề còn khá mới, do đó việc tiếp cận cũng như nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy trong quá trình làm bài chắc chắn sẽ gặp phải những thiếu sót do đó em hi vọng nhận được sự châm chước cũng đóng góp của thầy, cô để bài viết được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 TS Ngô Thị Hường – TS Nguyễn Thị Lan, Bộ môn Luật HN & GĐ, Trường Đh Luật HN, Tập bài giảng luật Bình Đẳng Giới;
2 Luật bình đẳng giới năm 2006, Nxb Tư pháp;