Tại Hội nghị pháp điển hóa Luật biển La Haye năm 1930 những vấn đề pháp lý quan trọng của Luật biển được đề cập như Nguyên tắc tự do hàng hải; các vấn đề về đường cơ sở; về quyền đi qua
Trang 1A MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3.200 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Để hình thành nên cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển như hiện nay Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau để có thể dần dần hoàn thiện và sử dụng triệt để những lợi thế mà thiên
nhiên mang lại cho mình Vì vậy, em xin trình bày: “Phân tích, đánh giá quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam”.
B NỘI DUNG
I Việt Nam trước khi các nước phương Tây tới (trước năm 1874)
Từ xa xưa cho đến giữa thế kỷ XX, các quốc gia ven biển chỉ có vùng biển hẹp (lãnh hải) quy định chiều rộng lãnh hải tùy thuộc vào tuyên bố pháp lý của các quốc gia, nhưng thời điểm lúc bấy giờ đại đa số các quốc gia ven biển, các cường quốc về hàng hải đều quy định chiều rộng của lãnh hải là 3 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.852m) Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển quốc tế, ở đó mọi cá nhân, tổ chức, tàu thuyền của các quốc gia dù có biển hay không có biển đều được hưởng quyền tự do biển cả Hầu như không một quốc gia nào chia biển với bất kỳ một quốc gia nào, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa các nước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán quốc tế
và thông lệ quốc tế
Trong khoảng thời gian này Việt Nam cũng chỉ có những truyền thuyết, sử sách ghi lại liên quan tới biển Việt Nam thời kỳ này mở cửa thông thương với các nước phương Tây, Nhật Bản và các nước khác ở vùng Đông Nam Á Các cửa biển được mở ra
ở nhiều nơi, người Việt đã đi tới cả các đảo xa bờ như Trường Sa, Hoàng Sa
Tuy nhiên, cũng chưa có một văn bản pháp lý cụ thể nào nói rõ về cách xác định, chiều rộng và quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và cũng chưa có sự định nghĩa về các vấn đề các vùng biển này.
II Việt Nam dưới thời thực dân (1874 – 1954)
Trong khoản thời gian này trên thế giới bắt đầu xuất hiện cách hiểu về các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia Tại Hội nghị pháp điển hóa Luật biển La Haye năm 1930 những vấn đề pháp lý quan trọng của Luật biển được đề cập như Nguyên tắc tự do hàng hải; các vấn đề về đường cơ sở; về quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài
và chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải Tuy nhiên, những kết quả nhất định chỉ là:
công nhận lãnh hải của các quốc gia rộng ít nhất là 3 hải lý và là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hình thành quy định về vùng tiếp giáp lãnh hải.
Việt Nam trước thời kỳ này thì đã có một số văn bản quy định về cách xác định
cũng như quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.Về nội thủy vẫn
Trang 2chưa được đề cập tới mà chỉ có cách xác định của lãnh hải và quy chế pháp lý của lãnh
hải
- Nghị định ngày 9 tháng 12 năm 1926 quy định mở rộng việc áp dụng ngày 1 tháng 3 năm 1888 cho các thuộc địa Luật này nghiêm cấm không cho người nước ngoài được vào đánh cá trong các vùng nước lãnh hải của Pháp và Algerie, giới hạn bởi đường ranh giới 3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất
Vậy, cách xác định lãnh hải là 3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất
- Nghị định ngày 22 tháng 9 năm 1936 của Bộ trưởng thuộc địa: “Về phương diện đánh cá, lãnh hải Đông Dương có chiều rộng là 20ki-lô-mét tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất”
Khác với Nghị định ngày 9 tháng 12 năm 1926, sau 10 năm, chính quyền thực dân
đã thay đổi cách xác định lãnh hải của Đông Dương có chiều rộng là 20kilomet tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất.
Trong giai đoạn này đã có sự hình thành cơ bản cách xác định lãnh hải là tính
từ ngấn nước thủy triều thấp nhất
III Việt Nam trong giai đoạn bị phân chia (1954 – 1976)
Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21/7/1954 nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
ở Việt Nam đưa đến hậu quả phân chia nước Việt Nam thành hai miền theo vĩ tuyến 17, liên quan tới vùng lãnh hải, đường phân chia là đường vuông góc với bờ biển Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không được tham gia vào Hội nghị lần thứ nhất năm 1958 về Luật biển này do chính sách thù địch của Mỹ Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là thành viên của hơn 30 tổ chức quốc tế, đã có mặt tại hội nghị Luật biển lần thứ nhất của Liên Hợp quốc tổ chức tại Giơ-ne-vơ năm 1958 đưa ra các đề nghị nhưng không được đồng ý nên Việt Nam đã không ký Công ước Giơ-ne-vơ năm 1958 về Luật biển
Trong thời gian này Việt Nam cũng không hề đưa thêm các xác định hay các quy chế pháp lý thuộc vùng nội thủy mà thông qua Tuyên bố về các biện pháp bảo vệ lãnh hải
về chiều rộng lãnh hải của mình ngày 27/4/1965 Nam Việt Nam chính thức thiết lập
chiều rộng lãnh hải của mình là 3 hải lý, các quy chế pháp lý của lãnh hải không được
nhắc đến
IV Việt Nam từ khi thống nhất đất nước (từ năm 1976 trở đi)
Tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 5 năm 1977 về các vùng biển Việt Nam: nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiểu rộng lãnh hải
Đây là lần đầu tiên Việt Nam có nhắc tới vùng nội thủy cũng như đường cơ sở để
Trang 31 Nội thủy
Tuyên bố của Chính Phủ ngày 12/5/1977 về các vùng biển Việt Nam đã đưa ra được cách xác định và quy chế của vùng nội thủy:
1.1 Cách xác định:
Quy định vùng biển nằm phía bên trong của đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, nội thủy của Việt Nam bao gồm: các vùng nước, cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Vùng biển nằm ở phái trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các đảo và quần đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Các vùng nước lịch sử: Theo tuyên bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm 1982 vùng nước lịch sử của Việt Nam bao gồm phần vịnh thuộc phía Việt Nam ở trong Vịnh Bắc Bộ và theo Hiệp định Vùng nước lịch sử chung Việt Nam – Capuchia ngày 7 tháng 7 năm 1982 là vùng nước thuộc phần của Việt Nam trong vùng nước lịch sử chung của hai nước Việt Nam và Campuchia
Cho tới khi Việt Nam ban hành Luật biển Việt Nam năm 2012 thì cách xác định này vẫn giữ nguyên
1.2 Quy chế pháp lý:
Tuyên bố không nói gì tới quy chế pháp lý của vùng nước nội thủy Nhưng theo luật pháp quốc tế, Việt Nam là quốc gia ven biển, thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối, đầy đủ trên lãnh thổ đất liền
Việt Nam đã ban hành Nghị định số 30 – CP ngày 29 tháng 1 năm 1980 về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nghị định 30 – CP quy định các thủ tục mà tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ khi vào các vùng nội thủy và lãnh hải của Việt Nam.Theo quy định Nghị định 30 – CP:
a) Quyền tài phán khi muốn đi vào nội thủy và các cảng của Việt Nam:
+ Tàu thuyền không quân sự của nước ngoài dùng vào mục đích vận tải và buôn bán muốn vào nôi thủy hoặc các cảng của Việt Nam phải xin phép hính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ít nhất trước bảy ngày
+ Tàu thuyền không quân sự của nước ngoài không dùng vào mục đích vận tải và buôn bán muốn vào nội thủy hoặc các cảng của Việt Nam phải xin phép Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hộ chủ nghĩa Việt Nam qua đường ngoại giao ít nhất trước 15 ngày, và khi được phép vào phải thông báo cho Bộ Giao thông vận tải Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước 48 giờ trước khi bắt đầu đi vào lãnh hải Việt Nam
Trang 4Nghị định 55 – CP ngày 1 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được cụ thể hóa Điều 4 của Nghị định 30 – CP
- Tàu quân sự nước ngoài vào cảng Việt Nam để thực hiện các chuyến đi thăm bao gồm:
1 Thăm chính thức theo lời mời của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai nước do nguyên thủ quốc gia đi bằng àu quân sự vào cảng Việt Nam
2 Thăm xã giao nhằm mục đích tăng cường quan hệ hữu nghị giwua nhân dân và lực lượng quân dội hai quốc gia
3 Thăm thông thường nhằm phối hợp huấn luyện, điều tập, cung cấp vật liệu kỹ thuật, tiếp nhiên liệu, lương thực thực phẩm hoặc cho thủy thủ nghỉ ngơi
Nghị định quy định việc xin phép vào thăm của tàu quân sự (trừ tàu thăm chính thức) thực hiện qua đường ngoài giao chậm nhất là 30 ngày trước ngày dự kiện đi vào cảng Sau khi được vào thăm, 48 giờ trước khi đi vào lãnh hải Việt Nam, thuyền trưởng tàu quân sự phải thông báo cho Bộ quốc phòng (cục Đối ngoại) để tổ chức đón tiếp
2 Lãnh hải
2.1 Cách xác định
Điều 1 của Tuyên bố cũng đã ấn định lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở trở ra
Tuyên bố này đã thực hiện bước mở rộng các vùng biển đầu tiên của Việt Nam thống nhất Nó chấm dứt tình trạng không rõ ràng của lãnh hải Việt Nam, di sản từ thời thực dân và chế độ Nam Việt Nam (vùng lãnh hải rộng ba hải lý và vùng lãnh hải về phương diện đánh cá rộng 20 ki – lô – mét)
Lãnh hải ven bờ lục địa được tính từ hệ thống đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa đã được công bố trong Tuyên bố chính chính phủ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1982
Lãnh hải của các đảo và quần đảo của hai huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Kháng Hòa sẽ được tính theo hệ thống tọa độ các điểm chuẩn của các đường cơ sở của các đường cơ sở của các đảo và quần đảo sẽ được quy định trong một văn bản khác
2.2 Quy chế pháp lý vùng lãnh hải
Trong vùng lãnh hải quốc gia ven biển có chủ quyền toàn vẹn và đầy đủ Quốc gia ven biển có quyền thực thi mọi biện pháp để bảo vệ chủ quyền trên vùng lãnh hải Tuy nhiên, trên vùng lãnh hải của một quốc gia, tàu thuyền dân sự được hưởng quyền “đi qua
Trang 5không gây hại” Như vậy, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với vùng lãnh hải là chủ quyền toàn vẹn đầy đủ nhưng không tuyệt đối.
Quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam:
Nghị định 30-CP của Chính phủ Việt Nam đã tiếp nối tư tưởng đề ra trong tư tưởng đề ra trong Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/9/1977: Việt Nam tôn trọng quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải của mình Đây là lần đầu tiên luật pháp Việt Nam khẳng định vấn đề này một cách rõ ràng, thành văn so với các văn kiện pháp quy cũ của chính quyền thực dân và chính quyền Việt Nam
- Theo Điều 2 và Điều 9 của Nghị định 30 – CP thì đi qua là: “Mọi tàu thuyển nước ngoài họa động trên các vùng biển Việt Nam (bao gồm việc ra, vào, qua lại, trú đậu
và làm các công việc khác) đều phải tôn trọng chủ quyền của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với từng vùng biển, phải chấp hành đầy đủ những quy định của Nghị định này và những luật lệ, chế độ khác có liên quan của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ban hành);
Như vậy, các hoạt động chủ yếu trong lãnh hải và nội thủy, gián tiếp công nhân quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền trong lãnh hải phải đi nhanh chóng, liên tục; đi theo quyến đường và hành lang quy định
Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định được hành lang hàng hải, do vậy việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài được thực hiện theo các tuyến đường hàng hải truyền thống, nếu không có quy định khác
- Trong Điều 6 Nghị định 30 – CP nêu rõ: Cho phép tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam khả năng dược dừng trú trong các trường hợp bất khả kháng hay các sự cố hàng hải ảnh hưởng tới sự an toàn hàng hải và tính mạng của hành khách nhưng phải thông báo với các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam để kiểm tra, kiểm soát nhằm xác minh nguyên nhân của tai nạn hay lý do thực tế và tuân thủ theo chỉ dẫn của các nhà chức trách Việt Nam
Điều này đã được cụ thể hóa trong Khoản 2 Điều 23 Luật biển Việt Nam về
đi qua không gây hại trong lãnh hải
- Điều 10 Nghị định 30 – CP Tàu ngầm thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam phải đi ở trạng thái nổi và phải treo cờ
Điều này đã được cụ thể hóa và đầy đủ hơn trong Điều 29 Luật biển Việt Nam năm
2012: “Trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo cờ quốc tịch, trừ trường hợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ.”
Trang 6- Điều 3.c Nghị định 30 – CP không công nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền quân sự nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam: Tàu thuyền quân sự nước ngoài, khi muốn vào vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam phải xin phép Chính phủ Việt Nam (qua đường ngoại giao ít nhất trước 30 ngày và sau khi được phép vào, phải thông báo cho nhà đương cục Việt Nam (qua đường Giao thông Vận tải nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) 48 giờ trước khi đi vào trong vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam
Tuy nhiên, điều này được quy định khi nước ta bị cô lập Nghị định 55 – CP ngày 1 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài vào thăm Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chấp nhận quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền quân sự
Hiện nay, Khoản 2 và 3 Luật biển Việt Nam năm 2012 đã quy định mở rộng hơn
là tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 23 Luật biển Việt Nam năm 2012 quy định: “Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển…”
Thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển:
Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với tàu thuyền nước ngoài thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật trong lãnh hải của quốc gia đó
Đối với tàu thương mại nước ngoài thực hiện quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải, quốc gia ven biển không được bắt tàu đó dừng lại hay đổi hướng để thực hiện quyền tài phán về dân sự cũng như hình sự đối với những sự việc xảy ra trên con tàu trừ một số trường hợp cụ thể
Hiện nay, Luật biển năm 2012 cũng đã đưa vào Điều 30 và Điều 31 Luật biển Việt Nam năm 2012 về quyền tài phán hình sự và dân sự
- Quyền tài phán hình sự:
+ Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành các biện pháp để bắt người, điều tra đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài sau khi rời khỏi nội thủy và đang đi trong lãnh hải Việt Nam
+ Đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không phải ngay sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành bắt người, điều tra trong các trường hợp: Hậu quả của
Trang 7Việt Nam hay trật tự trong lãnh hải Việt Nam; Thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu thuyền mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam; Để ngăn chặn hành vi mua bán người, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy
+ Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành bất kỳ biện pháp nào trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam để bắt giữ người hay điều tra việc phạm tội đã xảy ra trước khi tàu thuyền đó đi vào lãnh hải Việt Nam nếu như tàu thuyền đó xuất phát từ một cảng nước ngoài và chỉ đi trong lãnh hải mà không đi vào nội thủy Việt Nam, trừ trường hợp cần ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường biển hoặc để thực hiện quyền tài phán quốc gia
+ Việc thực hiện biện pháp tố tụng hình sự phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
- Quyền tài phán dân sự:
+ Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được buộc tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình chỉ vì mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự đối với cá nhân đang ở trên tàu thuyền đó
+ Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành các biện pháp bắt giữ hay xử lý về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam, trừ nội thủy, trừ trường hợp việc thi hành các biện pháp này liên quan đến nghĩa vụ
đã cam kết hay trách nhiệm dân sự mà tàu thuyền phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển Việt Nam
+ Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể áp dụng các biện pháp bắt giữ hay
xử lý tàu thuyền nước ngoài nhằm mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàu thuyền đó đang đậu trong lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam
Như vậy, luật biển Việt Nam đã chi tiết và cụ thể hóa các tuyên bố, khái quát
về cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về biển
C KẾT LUẬN
Như vậy, Việt Nam đã trải qua một thời gian dài phát triển và hình thành từ khi chỉ biết mình có biển cho đến khi biết vận dụng, xác định và đặt ra quy chế pháp lý cho các vùng biển thuộc chủ quyền của mình Việc xây dựng và hoàn thiện cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển Việt Nam tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc áp dụng cũng như bảo về quyền lợi của mình trong các quan hệ với quốc tế
Trang 8DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Luật Quốc tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội 2012
2 Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Giao dục Việt Nam.
3 Công ước Luật biển năm 1982;
4 Luật biển Việt Nam năm 2012;
5 Luật biển và những điều cần biết, Nguyễn Hồng Thao;
6 Luật biển quốc tế hiện đại Lê Thị Mai Anh chủ biên, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội 2005 ;
7. Luật pháp về biển và vùng biển, CSDL Trung tâm Thông tin – Thư viện vụ NCKH, Văn phòng Quốc Hội