1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những quy định pháp luật hiện hành về việc mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và mua lại vốn, chuyển nhượng vốn góp trong cô

15 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 101 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy mà pháp luật đưa ra những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho các thành viên, cổ đông của công ty khi họ thấy quyền, lợi ích của mình trong công ty không còn được đảm bảo nữa t

Trang 1

I) ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi nghiên cứu về các loại hình công ty trong module 1 môn luật thương mại, ta thấy quy chế vốn là một vấn đề nổi trội Vậy để hiểu rõ hơn vấn đề này em đã trọn đề tài “Những quy định pháp luật hiện hành về việc mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và mua lại vốn, chuyển nhượng vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên”

II) GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Cơ sở lý luận.

Trước khi đi tìm hiểu các quy định pháp luật, chúng ta cần hiểu cổ phần

là gì; vốn, vốn góp là gì và tại sao pháp luật lại đưa ra những quy định này?

Căn cứ vào điều 77 khoản 1 điểm a quy định“vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần’, như vậy có nghĩa là khi các thành

viên góp vốn vào công ty thì số vốn này sẽ được chia ra nhiều phần nhỏ bằng nhau và các thành viên góp bao nhiêu vốn sẽ tương ứng với việc sở hữu bấy nhiêu cổ phần trong công ty

‘Vốn góp là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty’ (khoản 4 điều 4 luật doanh nghiệp) ví

dụ như A đưa một khối tài sản của mình trị giá 2 tỷ góp vào công ty lúc này A sẽ trở thành chủ sở hữu của công ty cùng với các chủ sở hữu khác,

và 2 tỷ này của A chính là vốn góp của A vào công ty

Vậy tại sao pháp luật lại quy định về việc mua lại, chuyển nhượng cổ phần và mua lại chuyển nhượng vốn góp

Như chúng ta đã biết khi một cá nhân hay tổ chức họ góp vốn vào công

ty cổ phần cũng như công ty TNHH là nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận, thành viên nào chiếm số vốn góp, hoặc là cổ phần nhiều hơn đương

Trang 2

nhiên họ sẽ có quyền lợi nhiều hơn trong việc hưởng lợi nhuận cũng như tham gia quản lý công ty Chính vì vậy mà không phải thành viên nào cũng có số vốn góp hay tỷ lệ cổ phần trong công ty như nhau và từ đó dẫn đến quyền lợi cũng như sự ảnh hưởng hay nói cách khác là trọng lượng tiếng nói của họ ở trong công ty cũng như nhau Vì vậy mà pháp luật đưa

ra những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho các thành viên, cổ đông của công ty khi họ thấy quyền, lợi ích của mình trong công ty không còn được đảm bảo nữa thì họ có thể chuyển nhượng số cổ phần, vốn góp đó cho người khác và đương nhiên là cũng có quyền mua lại để đảm bảo cho việc kinh doanh của công ty không bị gián đoạn và quyền lợi của các cổ đông, thành viên khác không bị ảnh hưởng

Vì vậy mà pháp luật đã đưa ra hàng loạt những quy định về vấn đề này

2 Những quy định pháp luật hiện hành về việc mua lại, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và mua lại vốn chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên.

Để tiện cho việc nghiên cứu chúng ta hãy theo dõi quy định của pháp luật hiện hành về hai loại hình công ty trên theo bảng sau.

Tiêu

chí

Mua lại, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

Mua lại, chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH

Chuyển nhượng Căn

cứ

phát

sinh

Việc mua lại

cổ phần trong công

ty được phát sinh theo hai trường hợp quy định tại

Tại khoản 5 Điều 87 Luật doanh nghiệp quy định các

cổ đông coa quyền tự do chuyển nhượng trừ trường hợp

Có ba trường hợp phát sinh yêu cầu mua lại vón góp trong công ty tại điều 43 Luật doanh nghiệp

Thành viên công

ty TNHH hai thành viên trở lên trừ trường hợp tại

Trang 3

khoản 1 điều

90 luật

doanh

nghiệp năm

2005 “Cổ

đông biểu

quyết phản

đối quyết

định về việc

tổ chức lại

công ty hoặc

thay đổ

quyền, nghĩa

vụ của cổ

đông quy

định tại

Điều Lệ

công ty có

quyền yêu

cầu công ty

mua lại cổ

phần của

mình” Và

tại điều 91

“Công ty có

quyền mua

lại không

quá 30% cổ

phần phổ

tài khoản 3 điều 81 “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuển nhượng

cổ phần đó cho người khác” và khoản 5 điều

84 “Trong thời

3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng có quyền

tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho

cổ đông sáng lập khác, nhung chỉ được chuyển nhượng

cổ phần phổ thông của mình cho người

“a Sửa đổi,

bổ sung các nội dung trong điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, hội đồng thành viên

b.Tổ chức lại công ty

c Các trường hợp khác quy định tại điều

lệ công ty”

Khoản 3 “Nếu công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 điều này thì thành viên đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho

khoản 6 điều 45 thì có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn

bộ phần vốn góp của mình theo hai cách sau đây

“Trường hợp thành viên sử dung phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn

Trang 4

thong đã

bán, một

phần hoặc

toàn bộ cổ

phần ưu đãi

cổ tức đã

bán

không phải là

cổ đông sáng lập, nếu được

sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”

thành viên khác hoặc người khác không phải à thành viên”

Ngoài ra còn

có thêm trường hợp tại khoản 3 điều

45 Luật DN “ Phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng tại điều 43 hoặc

44 của khoản này, trong các trường hợp sau:

a Người thừa

kế không muốn trở thành,thành viên

b Người được tặng cho theo quy định tại

góp đó theo một trong hai cách sau đây:

a Trở thành thành viên của công ty nếu được Hội đồng thành viên của công ty chấp thuận;

b Chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định tại điều

44 Luật này” Ngoài ra còn them

Trang 5

khoản 5 Điều này không được hội đồng thành viên chấp thuận làm thành viên

c Thành viên

là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản

trường hợp tại khoản 3 điều 45 Luật DN

Thủ

tục

yêu

cầu

khi

tiến

hành

Được quy định tại khoản 1, khoản 2 điều

90 Luật DN:

“ Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu

rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lựng cổ phần

từng loại, giá dự định bán, lí do yêu cầu công ty mua

Tại khoản 5 Điều 87 Luật

DN quy định việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thong thường hoặc trao tay cổ phiếu Giấy tờ chuyển phải được bên chuyển nhượng

và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện của họ ký Bên

Khoản 1 Điều

43 luật DN hướng dẫn như sau

“Yêu cầu phải mua lại phần voonsa góp phải bằng văn bản và được gửi đến công

ty trong thời hạn 15 ngày,

kể tư ngày thông qua quyết định vấn đề quy định tại các khản a, b, và c

Có hai phương

án để tiến hành Khoản 1

“phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại teo tỷ

lệ tương ứng với phần vốn góp của

họ trong

Trang 6

lại Yêu cầu

phải được

gửi đến công

ty trong thời

hạn 10 ngày

làm việc, kể

từ ngày đại

hội cổ đông

thong qua

quyết định

về các vấn

đề quy định

tại khoản

này

Khoản 2

“Công ty

phải mua lại

cổ phần theo

yêu cầu của

cổ đông quy

định tại

khoản 1 điều

này với giá

thị trường

hoặc giá

đượct tính

theo nguyên

tắc quy định

tại Điều lệ

chuyên nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần có lien quan cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào sổ đăng ký

cổ đông

Trường hợp chỉ chuyển nhượng một số cổ phần trong cổ phiếu

có ghi tên thì

cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và công

ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ đã chuyển nhượng

và số cổ phần còn lại

khoản này.”

Và khoản 2 “ khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không có thỏa thuận về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên

đó theo gí thị trường hoặc giá được định theo quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể

từ ngày nhận được yêu cầu

Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được

công ty với cùng điều kiện” Khoản 2

“ chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lai của công ty không mua hết tron thời hạn 30 ngày, kể

từ ngày chào bán.” (Điều 44 luật DN)

Trang 7

công ty

trong thời

hạn 90 ngày

kể từ ngày

nhận được

yêu cầu

Trường hợp

không thỏa

thuận được

về giá thì cổ

đông có thể

bán phần

cho người

khác hoặc

các bên có

thể yêu cầu

một tổ chức

chuyên

nghiệp định

giá Công ty

giói thiệ ít

nhất 3 tổ

chức đinh

giá chuyên

nghiệp để cổ

đông lựa

chọn và lựa

chọn đó là

quyết định

mua lại, công

ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ khác.”

Trang 8

cuối cùng”.

Trường hợp mua theo quyết định của công ty thì tuân thủ quy dịnh tại điều 91 Luật doanh nghiệp

Giá cổ

phần,

vốn

góp

Thỏa thuận

hoặc thuê tổ

chức định giá

Do bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng thỏa thuận

Thỏa thuận trong công ty hoặcgiá thị trường hoặc theo quy định tại Điều lệ

Hoặc giá thảo luận với người bán và người mua phần vốn góp

Chưa được pháp luật quy định

rõ rang

Các

loại

thủ tục

khác

Ngoài việc tiến hành những thủ tục trên thì nững người có liên quan

sẽ phải tiếp tục thực hiện tiến hành đăng ký lại theo quy định tại chương V ; Hồ sơ trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng

ký doanh nghiệp,(Nghị định 43/2010/NĐ – CP ban hành ngày

15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp

Ngoài ra tại Điều 13 nghị định 102/2010/NĐ – CP ban hành và hưỡng dẫn luật doanh nghiệp cũng quy định về “quyền góp vốn, mua lại cổ phần”, và tại Điều 14 “Cấm các cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng

Trang 9

vũ trang nhân dân sử dụng vốn, tài sản của nhà nước để góp vốn và thành lập doanh nghiệp để thu lợi riêng”

3 ; Nhận xét và bình luận.

i.Mua lại, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.

Xuất phát từ ưu điểm về khả năng huy động vốn, vì vậy mà lọai hình công ty cổ phần đang rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đồng thời cũng được pháp luật quan tâm và quy định khá kỹ lưỡng

Công ty cổ phần là một loại hình khá phức tạp khi được đem ra nghiên cứu vì nó tồn tại dưới rất nhiều dạng khác nhau đồng thời cũng được hưởng những quy chế pháp luật khác nhau Ta thấy nếu trên thực tế khi thành viên yêu cầu mua lại hoặc là tiến hành chuyển nhượng cổ phần mà

có chứa cả cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi và khi quyết định của thành viên đó liên quan đến tỉ lệ cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập

và cổ phần ưu đãi, thì vấn đề này còn nhiều khó khăn như

 Thứ nhất nếu số cổ phần được yêu cầu mua lại có chứa cổ phần phổ thông mà các thành viên sáng lập khác không mua lại thì sẽ không đủ điều kiện đăng ký kinh doanh (tình trạng cổ phần phổ thông được chào bán không quá 20% số cổ phần phổ thông chào bán theo quy định tại khoản 1 Điều 84 Luật DN)

Ở đây chúng ta có thể thấy rằng việc vấn đề đặt ra rằng các cổ đông khác

sẽ phải mua lại số cổ phần được chào bán, nếu không họ sẽ khó mà đăng

ký kinh doanh được như vậy việc mua lại dường như mang tính bắt buộc (trù trừ trường hợp xin giảm vốn điều lệ)

Vậy chẳng hạn như họ chỉ cần mua đủ mức tối thiểu là 20% số cổ phần phổ thông được chào bán, nếu còn thì phát hành và chào bán ra bên ngoài

Ví dụ như; Hùng, Thanh, Hà và Cường thành lập công ty cổ phần với dự định là

Hùng 10% cổ phần phổ thông chào bán

Trang 10

Thanh 12% cổ phần phổ thông chào bán

Hà 2% cổ phần phổ thông chào bán

Cường là 2% cổ phần phổ thông chào bán

Đến hạn phải hoàn thành vốn góp nhưng Hùng không góp được đủ 10% Và pháp luật quy định các thành viên còn lại phải làm sao để góp đủ vốn tương ứng với 10% cổ phần phổ thông chào bán của Hùng, quy định này có thể nói là không hợp lý Vậy nếu như Thanh, Hà Cường cùng nhau hoặc thỏa thuận một trong ba người mua thêm 4% cổ phần phổ thông chào bán của Hùng số còn lại bán ra bên ngòai, như vậy sẽ chỉ cần mua đủ để đáp ứng đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp.Mặc dù việc pháp luật quy định các cổ đông sáng lập khác phải mua lại như vậy là nhằm ngăn chặn tình trạng tự do chuyển đổi sang loại cổ phần khác để chào bán nhưng em thấy không nhất thiết phải quy định mua lại hết như vậy vì không phải lúc nào các thành viên khác cũng có đủ khả năng và nhu cầu để mua lại hết

 Thứ hai quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật DN cũng tạo nhiều khó

khăn cho việc áp dụng “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác”.

Việc pháp luật đưa ra quy định không được chuyển nhượng cho người khác là nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên khác trong công

ty nhưng nó lại làm mất đi tính linh hoạt Trên thực tế nếu đã có yêu cầu mua lại, hoặc chuyển nhượng của một thành viên trong công ty mà có liên quan đến cổ phần ưu đãi biểu quyết thì việc mua lại toàn bộ, hay mong muốn chyển đổi một phần sang cổ phần phổ thông được chào bán thì chưa được quy định một cách rõ ràng

Chẳng hạn như; Trong công ty cổ phần A có vốn điều lệ = 80%(CPPTCB) + 20%(CPƯĐ)

Lúc đầu các cổ đông sáng lập đăng ký mua đúng 20% số CPPTCB(16% vốn điều lệ) và toàn bộ số CPUĐ Đến khi hết hạn vốn góp B là người lúc đầu đăng ký mua 5% số CPPTCB và 5% CPƯĐ nhưng đền lúc này B

Trang 11

không góp đủ số vốn góp nên các thành viên còn lại mua lại Vạy các thành viên còn lại một là thỏa thuận cùng mua lại hoặc một người mua lại hết 5% số CPPTCB và 5% CPƯĐ

Ngoài ra còn có phương án xin giảm vốn điều lệ của công ty khi các thành viên còn lại không mua được nhưng có lẽ đây chỉ là phương án cuối cùng mà các thành viên phải lựa chọn Thực ra quy định này rất tiến bộ vì trong trường hợp bất đắc dĩ các thành viên khác không thể mua đủ số vốn chào bán để tiến hành thủ tục thì có thể xin giảm vốn điều lệ để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình

ii: Mua lại chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên.

Một quy định hợp lý của luật doanh nghiệp năm 2005 và nghị định 139/2007/NĐ- CP ngày 5/9/2007 hưỡng dẫn thi hành chi tiết một số điều của luật DN năm 2005 là Nếu quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hết thì thành viên công

ty có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người không phải

là thành viên của công ty Nhưng quy định tại Điều 44 Luật DN lại chưa khắc phục được những bất cập sau

Thứ nhất Điều 44 quy định loại trừ khoản 6 Điều 45; “trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của luật này …” nhưng đồng thời cũng tại khoản 6 Điều 45 lại dẫn chiếu quy định tại Điều 44 như sau “trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó, chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại Điều 44 của luật này.” Việc quy định như vậy

khiến cho quá trình áp dụng trên thực tế sẽ mắc nhiều lúng túng khó khăn

và gây nhầm lẫn khi người nhận thanh toán muốn chào bán và chuyển nhựơng phần vốn góp theo quy định tại Điều 44 nhưng lại bị chính Điều

44 hạn chế Xét thấy nên điều chỉnh lại Điều 44

Trang 12

Thứ hai việc quy định thành viên công ty muốn chuyển nhượng vốn phải chào bán cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty, nhưng đồng thời quy định này lại tạo ra một kẽ

hở khi không nêu điều kiện và giá thì ở ba khả năng này đều tạo điều kiện cho thành viên có cổ phần chào bán lợi dụng có nghĩa là nếu họ cứ cố tình đẩy giá lên cao để các thành viên khác không mua được để chào bán ra bên ngoài Và việc này hiện nay vấn là hợp pháp, như vậy để có thể hạn chế được sự tham nhập từ bên ngoài và bảo vệ quyền lợi của các thành viên tong công TNHH pháp luật cần có những quy định điều chỉnh cụ thể

và rõ ràng hơn

Thứ ba, luật chưa điều chỉnh được việc thành viên công ty muốn bán phần vốn của mình tại công ty nhưng vì những lý do mà những thành viên còn lại họ không muốn mua hết mà chỉ muốn mua một phần vốn được chào bán Như vậy ở đây khoản 2 Điều 44 sẽ có những cách hiểu khác nhau, nếu hiểu rằng khi thành viên của công ty mua không hết phần vốn chào bán thì thành viên muốn chuyển nhượng có quyền không bán nữa mà chào bán toàn bộ số cổ phần đó ra bên ngoài hay hiểu rằng chỉ được chào bán ra bên ngoài phần còn lại mà thành viên của công ty không mua

Đây là những vướng mắc mà luật doanh nghiệp không khắc phục được, cho đến khi nghi định 102/2010/NĐ – CP ban hành ngày 1/10/2010 hưỡng dẫn chi tiết một số quy định của luật doanh nghiệp 2005 thay cho nghị định 139 mới khắc phục được tồn tại này

Nghị định khẳng định một thành viên sẽ mất tư cách thành viên và sẽ không có quyền chuyển nhượng phần vốn góp khi quá hạn góp vốn đã cam

kết Điều 18 khoản 4 quy định “ Sau thời hạn cam kết góp lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp vốn đã cam kết góp, thành viên chưa góp vốn vào công ty theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty nữa và không có quyền chuyển nhượng quyền góp vốn đó cho người khác;

Ngày đăng: 25/03/2019, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w