Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy đị
Trang 1
Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế thị trường, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), dân chủ hóa xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều văn bản bản khiếm khuyết ở những mức độ khác nhau như: ban hành không đúng thẩm quyền, nội dung trái pháp luật… đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, xác định và xử lý những tồn tại trong việc xây dựng
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Với mong muốn hiểu rõ hơn về vấn đề này
em chọn đề tài “Nhận xét sự thay đổi về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 so với luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2002” Để thực hiện bài tập lớn học kỳ
Giải quyết vấn đề
I.Lý luận chung
1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 hoặc trong Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội
2.Khái niệm về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Theo Từ điển luật học thì “Thẩm quyền” được định nghĩa là Quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ
Trang 2
những chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ
Từ đó ta có thể hiểu: Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là các quy định quyền hạn của các cơ quan, các cá nhân nắm giữ chức vụ lãnh đạo trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Thẩm quyền ban hành văn bản của các cơ quan, các cá nhân đó phụ thuộc vào các lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính của chính các tổ chức, cá nhân đó
3 Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ sung năm 2002) và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
3.1 Thẩm quyền ban hành VBQPPL của Luật ban hành VBQPPL 1996.(sửa đổi bổ
sung năm 2002) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Nghị quyết, nghị định của Chính phủ;
- Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội;
-Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
- Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân
3.2 Thẩm quyền ban hành VBQPPL tại Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008,
hệ thống VBQPPL của cơ quan nhà nước gồm có:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
- Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Trang 3
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
- Nghị định của Chính phủ
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh
án Toà án nhân dân tối cao
- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước
- Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với
cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
- VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
II Phân tích điểm mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008
so với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi năm 2002) Thứ nhất, So với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi bổ sung năm 2002) thì thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã giảm bớt hình thức văn bản QPPL cho một số chủ thể
có thẩm quyền ban hành VBQPPL:
Theo quy định của Luật BHVBQPPL năm 1996, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta bao gồm hơn hai mươi loại văn bản, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành; mỗi cơ quan ban hành từ hai đến ba loại văn bản Để khắc phục tình trạng hệ thống văn bản QPPL phức tạp, quá nhiều loại văn bản, gây khó khăn khi theo dõi, xác định thứ bậc hiệu lực của các loại văn bản , hệ thống văn bản QPPL được quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008 được rút gọn, Cụ thể:
Trang 4
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định Chính phủ có quyền ban hành văn bản QPPL dưới hình thức nghị quyết, nghị định; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có quyền ban hành văn bản QPPL dưới hình thức quyết định, chỉ thị, thông tư Nhưng theo Luật năm 2008, Chính phủ chỉ ban hành văn bản QPPL dưới một hình thức duy nhất là nghị định; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành dưới một hình thức thông tư; Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng ban hành dưới hình thức là thông tư
Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho sự thay đổi về thẩm quyền ban hành Theo pháp luật hiện hành, Chính phủ không ban hành Nghị quyết đồng thời không ban hành Nghị định với tư cách là văn bản áp dụng cho 1 đối tượng mà chỉ ban hành Nghị định với tư cách là VBQPPL (chủ yếu là hướng dẫn Luật, Pháp lệnh) Trước đây, Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; phát triển văn hóa, xã hội…; thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ Thì nay, Nghị định của Chính phủ theo Luật ban hành VBQPPL năm 2008 được ban hành không những bao hàm cả những lĩnh vực mà Nghị quyết của Luật ban hành VBQPPL năm 1996 điều chỉnh, đồng thời còn chứa đựng những nội dung cơ bản của Nghị định Cũng như Quyết định của Thủ tướng chính phủ theo pháp luật hiện hành đã chứa đựng nội dung ban hành của cả Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ theo Luật ban hành VBQPPL năm 1996 Ngoài ra, việc thu gọn hình thức ban hành VBQPPL của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao là hợp lý Vì việc này đã làm giảm bớt tình trạng quyết định, chỉ thị quy định giống như thông tư, thông tư sao chép nội dung của nghị định
Ví dụ như: cùng quy định về việc đào tạo lái xe cơ giới đường bộ mà có rất nhiều quyết định của Bộ giao thông vận tải như: Quyết định số 54/2007/QĐ-BGTVT ngày 07/11/2007 “Ban hành Quy chế quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ”, số 55/2007/QĐ-BGTVT ngày 07/11/2007 “Ban hành Quy chế quản lý
Trang 5
đào tạo lái xe cơ giới đường bộ”, số 56/2007/QĐ-BGTVT ngày 07/11/2007 “Ban hành Chương trình đào tạo lái xe cơ giới đường bộ”, số 05/2008/QĐ-BGTVT ngày 20/3/2008 “Bổ sung một số nội dung trong đào tạo, sát hạch và cấp giấy phép lái xe cho người tàn tật” của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Thiết nghĩ, việc rút gọn những văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ làm đơn giản hóa công tác thực thi pháp luật cũng như tạo sự thuận lợi cho người dân chấp hành pháp luật
Thứ hai, luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng bổ sung
một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL như Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước Trước đó, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
1996 không quy định cho Tổng Kiểm toán quyền này mà thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của Tổng Kiểm toán được quy định tại khoản 6 Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước Sở dĩ có sự đổi mới như vậy là những lí do sau:
Thứ nhất: Theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước là
cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập, độc lập trong địa vị pháp
lí nên đòi hỏi Kiểm toán Nhà nước phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm cho lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước được thực hiện một cách hiệu quả
Thứ hai, Kiểm toán Nhà nước tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng: Tổng
Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, chịu trách nhiệm về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước trước pháp luật, Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nên hoàn toàn có khả năng để ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Thứ ba, Hoạt động kiểm toán Nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động của các
cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy Nhà nước; đồng thời giữa Kiểm toán Nhà nước
và các cơ quan, tổ chức khác phải có sự liên hệ, phối hợp nhất định Như vậy, việc phối hợp hoạt động và ban hành văn bản dưới thể thức văn bản quy phạm pháp luật với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước phục vụ các nhiệm vụ chính trị được giao là một tất yếu khách quan đòi hỏi Kiểm toán Nhà nước phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
Trang 6
Với những lý do trên, việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
là hết sức quan trọng
Luật ban hành VBQPPL năm 2008 quy định thêm một loại VBQPPL nữa là Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Điểm mới thứ ba đó là sự thay đổi về loại văn bản: với Luật ban hành VBQPPL
năm 1996 quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức chính trị - xã hội phối hợp ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch” thì Luật ban hành VBQPPL năm
2008 quy định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội hay Chính phủ phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị-xã hội ban hành nghị quyết liên tịch chứ không có thông tư liên tịch nữa
III Đánh giá thẩm quyền được quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL 2008
1.Ưu điểm:
Thẩm quyền được quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL 2008 là tương đối
rõ ràng và đầy đủ, có thêm thẩm quyển ban hành của Tổng kiểm toán nhà nước
mà trước đây chưa quy định
Hầu như các cơ quan, cá nhân chỉ được ban hành 1 loại văn bản quy phạm pháp luật Điều này giúp ta tránh nhầm lẫn giữa những văn bản do các cơ quan khác nhau ban hành So với luật ban hành văn bản trước kia thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khác nhau ban hành loại văn bản có tên gọi giống nhau Ví dụ: Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính Phủ; Quyết định của chủ tịch nước, quyết định của Thủ tướng Chính phủ…
Trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 thì có nhiều điểm mới, hoàn thiện hơn so với luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước đây Điều này góp phần đánh giá đúng thẩm quyển của các cơ quan nhà nước cũng như các cá nhân
Trang 7
Thẩm quyền của Tổng kiếm toán là một nội dung mới, góp phần vào các vấn đề quản
lí chi tiêu ngân sách
2 Nhược điểm:
Trên thực tế các quy định này, hiện nay nhiều nơi khi tiến hành áp dụng Luật ban hành VBQPPL năm 2008 và Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 đều vướng mắc vì nguyên nhân chủ yếu là “không xác định rõ thẩm quyền” Tại nhiều nơi, một số văn bản do địa phương ban hành với tính chất quy định chi tiết nhưng khi soạn thảo không thể hiện nội dung cần quy định chi tiết mà cắt xén và chép lại không đầy đủ các quy định của trung ương Việc làm này không đúng về thẩm quyền ban hành về mặt nội dung, làm cho hệ thống VBQPPL chồng chéo, trùng lặp Đối với UBND thì văn bản chủ yếu là Chỉ thị nhưng cũng khó xác định đâu là VBQPPL, đâu là chỉ thị cá biệt Trong khi đó, theo Luật ban hành VBQPPL năm
2008, không có hình thức VBQPPL là Chỉ thị cá biệt nhiều cán bộ làm công tác soạn thảo văn bản chưa phân biệt được hình thức văn bản nên có những văn bản thực chất
là văn bản cá biệt nhưng lại soạn thảo theo hình thức VBQPPL Trình tự thông qua VBQPPL đôi khi chưa được thực hiện đúng quy định Vì vậy, cần nhanh chóng hợp nhất hai luật hơn
Kết thúc vấn đề.
Việc xây dựng, ban hành Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 là một sự đổi mới căn bản về quan điểm, kỹ thuật lập pháp Đây là một văn bản luật quan trọng đã phần nào giải quyết những vướng mắc, hạn chế trong việc xác định thẩm quyền ban hành VBQPPL nói riêng, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL nói chung, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị và các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO
Trang 8
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, nxb
Công an nhân dân, Hà Nội năm 2008
2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 ( sửa đổi, bổ sung
năm 2002)
3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008