2 Đặc điểm pháp lý - Về tính chất: Xúc tiến thương mại là một loại hoạt động thương mại - Về chủ thể: Do xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bánhàng hóa và cung ứng dị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
BÀI THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI:
CÁC HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI (KHUYẾN MẠI VÀ QUẢNG CÁO) CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT PHỔ BIẾN TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI VÀ QUẢNG CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY- TÌNH HUỐNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Văn Hưng
Trang 2MỤC LỤC
I) KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÚC TIẾN
THƯƠNG MẠI 2
1) Khái niệm thương về xúc tiến mại 2
2) Đặc điểm pháp lý 3
3) Chủ thể hoạt động xúc tiến thương mại 3
4) Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân 4
5) Vai trò của xúc tiến thương mại: 5
II) KHUYẾN MẠI 7
1) Khái niệm khuyến mại 7
2) Đặc điểm của khuyến mại 7
3) Các hình thức khuyến mại 8
4) Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm 14
5) Quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại 18
6) Vấn đề đạo đức trong khuyến mại 19
III) QUẢNG CÁO 23
1) Khái niệm 23
2) Đặc điểm của quảng cáo thương mại 23
3) Hàng hoá, dịch vụ quảng cáo thương mại 25
4) Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại 25
5) Các chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại 27
6) Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại 29
7) Các hoạt động quảng cáo thương mại bị cấm 29
8) Trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo 30
9) Tác động của quảng cáo đối với khách hàng 31
10) So sánh khuyến mại và quảng cáo 33
IV) CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT PHỔ BIẾN TRONG LĨNH VỰC KHUYẾN MẠI VÀ QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 35
1) Các vi phạm pháp luật phổ biến trong lĩnh vực khuyến mại 35
2) Các vi phạm pháp luật phổ biến trong lĩnh vực quảng cáo 38
V) TÌNH HUỐNG 41
TÌNH HUỐNG 1 : SAI PHẠM BẰNG HÌNH THỨC SO SÁNH TRỰC TIẾP 41
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 2 : SAI PHẠM BẰNG HÌNH THỨC ĐƯA THÔNG TIN SAI SỰ THẬT VỀ SẢN PHẨM 44
VI) ĐỀ XUẤT 44
1) Giải pháp chung 44
2) Giải pháp trong lãnh vực khuyến mại và quảng cáo 46
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 4I) KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT
VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI
1) Khái niệm thương về xúc tiến mại
Cạnh tranh là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường trongcuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi giải pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơhội bán hàng và cung ứng dịch vụ như: tuyên truyền giới thiệu, khuyếch trương hànghóa dịch vụ, tổ chức việc bán hàng có giảm giá, phát quà tặng…các hoạt động nàyđược gọi là xúc tiến thương mại và là quá trình tất yếu mà doanh ngiệp phải tiến hành
để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh Quá trình này do thương nhân tự tổ chức thực hiệnhoặc thông qua quan hệ dịch vụ do thương nhân khác cung cấp
Trong tiếng Anh “Xúc tiến” được dịch từ “Promotion” Từ này có nghĩa là sựkhuyến khích, ủng hộ, sự khuyếch trương, thúc đẩy hay sự thăng tiến vì vậy, “Tradepromotion” không chỉ là “Xúc tiến thương mại” mà còn có nghĩa là sự khuyếchtrương thương mại, sự thúc đẩy thương mại trong hoạt động kinh doanh “Xúc tiếnthương mại” (Trade promotion) là hoạt động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội thương mạithông qua việc doanh nghiệp có sử dụng rộng rãi các kỹ thuật thuyết phục khác nhau
để liên hệ với thị trường mục tiêu và công chúng Xúc tiến thương mại có ý nghĩathúc đẩy, hỗ trợ quá trình kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất Tuy vậy, ở Việt Nam hiệnnay còn thiếu cách hiểu thống nhất về “Xúc tiến thương mại” và khái niệm này đượctiếp nhận ở nhiều góc độ khác nhau
Ở góc độ ngôn ngữ, xúc tiến thương mại là hoạt động xúc tiến việc mua bánhàng hóa và cung ứng dịch vụ Trong bối cảnh hội nhập, quan hệ thương mại hìnhthành không chỉ trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn bao gồmquan hệ đầu tư, quan hệ thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Do đó, cũng có ýkiến cho rằng, xúc tiến thương mại bao gồm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, xúc tiếncung ứng dịch vụ, xúc tiến đầu tư…
Ở góc độ kinh tế, “Xúc tiến thương mại” là “tất cả các biện pháp có tác độngkhuyến khích phát triển thương mại” Xúc tiến thương mại không chỉ là hoạt độngnhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển thương mại của thương nhân mà còn bao gồm hoạtđộng thúc đẩy phát triển thương mại của chính phủ và các tổ chức thúc tiến thươngmại
Ở góc độ pháp lý, hoạt động xúc tiến thương mại được quy định cụ thể trong luậtthương mại Khoản 10 điểu 3 luật thương mại 2005 quy định: “Xúc tiến thương mại làhoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm
Trang 5hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
và hội chợ, triển lãm thương mại” Xúc tiến thương mại theo quy định trên đây mangbản chất là hoạt động xúc tiến bán hàng và cung ứng dịch vụ do thương nhân tiếnhành Đây cũng là định nghĩa duy nhất về xúc tiến thương mại trong pháp luật ViệtNam hiện nay
2) Đặc điểm pháp lý
- Về tính chất: Xúc tiến thương mại là một loại hoạt động thương mại
- Về chủ thể: Do xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bánhàng hóa và cung ứng dịch vụ nên chủ thể thực hiện nó chủ yếu là thương nhân(người bán hàng, người cung ứng dịch vụ hoặc là người kinh doanh dịch vụ xúc tiếnthương mại) cho dù luật thương mại quy định đối tượng áp dụng của luật là thươngnhân và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thương mại
- Về mục đích: Xúc tiến thương mại nhằm mục đích trực tiếp là tìm kiếm, thúcđẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua đó mục đích lợi nhuậncủa thương nhân đạt được
- Về cách thức xúc tiến thương mại: Do có đối tượng áp dụng chủ yếu là thươngnhân nên luật thương mại chỉ quy định các cách thức xúc tiến thương mại do thươngnhân tiến hành, bao gồm việc thương nhân tự mình xúc tiến thương mại hoặc thuêthương nhân khác thực hiện dịch vụ xúc tiến thương mại cho mình, với các hoạt động
cụ thể: Khuyến mại, quảng cáo, hội chợ triển lãm thương mại, trưng bày giới thiệuhàng hóa, dịch vụ
3) Chủ thể hoạt động xúc tiến thương mại
Dưới góc độ kinh tế có rất nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động xúc tiến thươngmại Có thể chia các chủ thể này thành ba nhóm: Chính phủ, các tổ chức hỗ trợthương mại và các doanh nghiệp
- Chính phủ: Tham gia vào hoạt động xúc tiến thương mại thông qua các hoạtđộng quản lý nhà nước và trực tiếp thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại nhưxây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý điểu chỉnh hoạt động xúc tiến thương mại,thành lập các cơ quan thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại như: cục xúc tiếnthương mại, các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài, các trung tâm,phòng xúc tiến thương mại ở các địa phương, xây dựng và tổ chức các mạng lướithông tin quốc gia đáp ứng yêu cầu thông tin thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệptham gia hội trợ triển lãm thương mại ở nước ngoài…
- Các tổ chức xúc tiến thương mại: (TPOs – Trade Promotion Organizations)tham gia vào việc xúc tiến thương mại bao gồm: các tổ chức chính phủ, các hiệp hội
Trang 6chính phủ và các doanh nghiệp trong mạng lưới xúc tiến thương mại, cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực cho các hoạt động xúc tiến thươngmại
Chính phủ và các tổ chức xúc tiến thương mại thực hiện các giải pháp hỗ trợdoanh nghiệp nói chung nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa cácdoanh nghiệp Trong quan hệ thương mại quốc tế, các biện pháp xúc tiến thương mại
do nhà nước, các tổ chức phi chính phủ tiến hành có ý nghĩa hỗ trợ các doanh nghiệpthâm nhập vào thị trường hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của nước ngoài, tăng cườngthương mại xuất khẩu quốc gia
- Thương nhân: Là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mạinhằm tìm kiếm thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cơ hội cung ứng dịch vụ chomình Pháp luật ghi nhận quyền tự do hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhânViệt Nam, thương nhân nước ngoài (thông qua chi nhánh của họ mở tại Việt Nam).Trong khuôn khổ của pháp luật thương mại, thương nhân là chủ thể chủ yếu tiến hànhcác hoạt động xúc tiến thương mại, bao gồm hai loại:
+ Thương nhân kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực khác nhau tự hoạt độngxúc tiến thương mại cho mình Trường hợp này, thương nhân thực hiện xúc tiếnthương mại trong khuôn khổ quyền tự do kinh doanh, tự do hoạt động xúc tiến thươngmại mà không cần phải đăng ký kinh doanh để có quyền thực hiện các hoạt động đó + Thương nhân kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại Trong trường hợp này,dịch vụ xúc tiến thương mại trở thành dịch vụ thương mại được thương nhân lựa chọn
để kinh doanh Do vậy, điều kiện để thương nhân hoạt động xúc tiến thương mại mộtcách hợp pháp là phải đăng ký kinh doanh
4) Các hình thức xúc tiến thương mại của thương nhân
Trên thế giới, thương nhân có thể sử dụng nhiều hình thức xúc tiến thương mạikhác nhau, phổ biến là các hình thức sau đây:
Khuyến mại là hành vi xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua việcdành cho khác hàng những lợi ích nhất định Khuyến mại có ý nghĩa giới thiệu mộtsản phẩm mới hoặc đã được cải tiến, khuyến khích tiêu dùng, “lôi kéo” khách hàng vềphía mình và tăng thị phần của doanh nghiệp trên thương trường
Quảng cáo thương mại là hoạt động giới thiệu hàng hóa và dịch vụ thương mạicủa thương nhân thông qua các phương tiện quảng cáo như phương tiện thông tin đạichúng, các ấn phẩm, bảng, biển, băng, ba-nô, áp phích, tổ chức phòng trưng bày, biển
đề tên cơ sở kinh doanh, bao bì hàng hóa, quảng cáo thông qua người bán hàng…Quảng cáo có ý nghĩa thông tin đến khách hàng về chủng loại, tính năng, tác dụng,
Trang 7giá cả…của hàng hóa dịch vụ để từ đó kích thích nhu cầu mua sắm và sử dụng dịch
vụ của khách hàng
Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động dùng hàng hóa, tài liều vềhàng hóa dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ củamình nhằm xúc tiến thương mại Với ý nghĩa giới thiệu những thông tin về hàng hóađến khách hàng để xúc tiến thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa mang bản chấtcủa hoạt động quảng cáo, song pháp luật Việt Nam lại quy định đây là hình thức xúctiến thương mại độc lập
Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được tiến hành tại mộtthời gian và địa điểm nhất định trong đó nhà kinh doanh được trưng bày hàng hóa củamình nhằm mục đích tiếp thị, bán hàng và thiết lập giao dịch
Triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện thôngqua việc trưng bày hàng hóa, tài liệu về hàng hóa (theo chủ đề, thời gian, địa điểm,quy mô nhất định) để giới thiệu, quảng cáo về hàng hóa với khách hàng
Ngoài ra, thương nhân còn áp dụng rất nhiều hình thức xúc tiến thương mại khácnhư bán hàng cá nhân, quản trị mối quan hệ khách hàng, nghiên cứu thị trường,quan hệ công cộng…Nhưng các hình thức này chưa được quy định trong pháp luậtViệt Nam
5) Vai trò của xúc tiến thương mại:
Xúc tiến thương mại là một nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinhdoanh của công ty là một bộ phận không thể thiếu được trong quản lý do đó nó có một
số vai trò cơ bản sau:
- Xúc tiến thương mại đóng vai trò trung gian giữa các công ty qua việc sử dụngmột loạt các công cụ của mình
- Xúc tiến thương mại thúc đẩy tạo điều kiện cho các công ty trong quá trìnhtham gia tồn tại và phát triển trên thị trường một cách có hiệu quả nhất, hay nói mộtcách khác xúc tiến thương mại có vai trò hỗ trợ cho các công ty hoạt động một cáchbình đẳng và lành mạnh trong nền kinh tế
- Xúc tiến thương mại là một công cụ quan trọng trong Marketing chính nhờ việcgiao tiếp có hiệu quả giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các công ty với kháchhàng mà sự vận động của nhu cầu và hàng hoá xích lại gần nhau hơn mặc dù nhu cầucủa khách hàng làm phong phú và biến đổi không ngừng
Trang 8- Xúc tiến thương mại tác động và làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng Với bất kỳkhách hàng nào cũng thường có nhiều nhu cầu cùng một lúc các nhà thực hàngMarketing của công ty có thể thực hiện các biện pháp xúc tiến để gợi mở nhu cầu,kích thích người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu cho nhu cầu này hay là nhu cầu khác.
- Xúc tiến thương mại làm cho việc bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưahàng vào kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý Qua việc xúctiến thương mại các nhà kinh doanh có thể tạo ra được những lợi thế về giá bán
Do vậy xúc tiến thương mại không phải chỉ là những chính sách biện pháp hỗ trợcho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường kết quả thựchiện các chính sách đó, điều đó có nghĩa là xúc tiến thương mại còn tạo ra tính ưu thếtrong cạnh tranh
Trang 9II) KHUYẾN MẠI
1) Khái niệm khuyến mại
Luật Thương mại 2005 quy định khái niệm khuyến mại ở Khoản 1 Điều 88:
“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việcmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi íchnhất định.” Như vậy, khuyến mại có thể được biểu hiện là “cách thức, biện pháp thuhút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chấtnhư tiền, hàng hóa hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch vụ miễn phí)” nhằmxúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
Dấu hiệu dành cho khách hàng những lợi ích nhất định là dấu hiệu đặc trưng củahoạt động khuyến mại để phân biệt hoạt động khuyến mại với các hình thức xúc tiếnthương mại với các hình thức xúc tiến thương mại khác
2) Đặc điểm của khuyến mại
Theo quy đinh của Luật thương mại, khuyến mại có những đặc điểm cơ bảnsau:
+ Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân Tổ chức cá nhân kinhdoanh có thể tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại hoặc có thể kinh doanh dịch
vụ khuyến mại bằng cách thực hiện việc khuyến mại hàng hóa, dịch vụ của thươngnhân khác thỏa thuận với thương nhân đó Quan hệ này hình thành trên cơ sở hợpđồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại với thương nhânkinh doanh dịch vụ Pháp luật Việt Nam không cho phép các văn phòng đại diện chothương nhân tiến hành khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mạitại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện
+ Cách thực hiện xúc tiến thương mại: Là dành cho khách hàng những lợi íchnhất định Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái canhtranh, phản ứng của đối thủ canh tranh trên thương trường, tùy thuộc điều kiện kinhphí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quàtặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá… hoặc là lợi ích phi vật chất khác.Khác hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối + Mục đích của khuyến mại là việc bán hàng và cung ứng dịch vụ để thực hiệnmục đích này, các đợt khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm,
sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, khích thích trung gian
Trang 10phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng hóa đặtmua… thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịchvụ.
3) Các hình thức khuyến mại
Các hình thức khuyến mại được quy định rất chi tiết trong luật TM năm 2005
và nghị định số 37/2006 NĐ-CP Việc các nhà lập pháp đưa ra các hình thức khuyếnmại đã giúp cho thương nhân có nhiều sự lựa chọn hơn khi thực hiện những hoạt độngkhuyến mại phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình
3.1) Đưa hàng mẫu cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền
Hàng mẫu đưa cho khách hàng , dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thửphải là hàng hóa dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽbán, cung ứng trên thị trường
Thực hiện hoạt động khuyến mại bằng hình thức phát hành mẫu có thể giúpthương nhân thăm dò nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trước khi đưa sản phẩmchính thức ra thị trường Bên cạnh đó hình thức này cũng cũng thể hiện được sự hiểubiết của thương nhân kinh doanh hàng hóa cung ứng dịch vụ về thị trường Đó là, đốitượng khách hàng mà thương nhân nhắm tới khi phát hành hàng mẫu
Phát hành mẫu còn mang ý nghĩa là thương nhân tạo điều kiện cho khách hàng được
sự dụng sản phẩm miễn phí Đây có thể coi là một cách để quảng cáo cho sản phẩmtrước khi đưa ra thị trường Người tiêu dùng có thể nhanh chóng biết đến một sảnphẩm mới qua thời gian dùng thử Thông qua các chiến dịch phát hàng mẫu, thươngnhân có thể kết hợp các hoạt động trưng cầu ý kiến của người tiêu dùng để có được
sự cải tiến về chất lượng sản phẩm trước khi phân phối rộng rãi trên thị trường
3.2) Tặng hàng hóa cho khách hàng cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ
Hình thức tặng hàng hóa cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền cũngthường được sử dụng khi thương nhân thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại Tặngquà được thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua sắm hàng hóa hoặc sử dụngdịch vụ của thương nhân Khi hàng hóa phân phối trên thị trường , để thu hút sự chú ý
Trang 11của khách hàng các thương nhân sẽ đính kèm quà tặng và hàng hóa của họ Hànghóa, dịch vụ dùng là quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ mà thương nhân đang kinhdoanh hoặc của thương nhân khác.
Việc pháp luật cho phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác đểtặng phát cho phép khuyến khích sự xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằmkhai thác lợi ích tối đa Việc tặng quà trong trường hợp này không có ý nghĩa thúc đẩyhành vi mua bán, sử dụng dịch vụ, mà thương nhân còn có cơ hội quảng cáo, giớithiệu về hàng hóa dịch vụ của nhau Theo quy định của pháp luật, tặng quà được thựchiện đối với khách hàng có hành vi mua bán hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ củathương nhân nhưng cũng có thể không gắn liền với hành vi mua bán sử dụng dịch vụ.Hạn mức tối đa về giá trị quà tặng ,giá trị dịch vụ tặng cho khách hàng không bị hạnchế theo đơn giá hàng hóa, dịch vụ tức là có thể mua một tặng một hàng hóa cùng loạihoặc mua hai tặng 1 nhưng tổng giá trị hàng hóa dịch vụ dùng để khuyến mại trongmột chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dịch
vụ được khuyến mại Quy định này có mục đích vừa đảm bảo tính chủ động chothương nhân thực hiện khuyến mại vừa ngăn chặn hành vi bán phá giá để cạnh tranhkhông lành mạnh thông qua việc tặng cho khách hàng
Bên cạnh đó, khi thực hiện hoạt động khuyến mại theo hình thức này các thương nhânphải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa tặng cho khách hàng, dịch vụ không thutiền và phải báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng hóadịch vụ đó
3.3) Bán hàng cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó.
Hình thức khuyến mại này còn hiểu biết đến cái tên giảm giá Giảm giá là hành
vi bán hàng , cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá bán thấp hơn giábán giá cung ứng dịch vụ đó trước thời gian khuyến mại Hình thức khuyến mại nàythường được các thương nhân sử dụng bởi vì nó có hiệu quả cao trong việc tác độngđến tâm lý người tiêu dùng hơn ( thích mua sản phẩm rẻ hơn so với giá đã niêm yếttrước đó)
Tuy nhiên, nếu các thương nhân quá lạm dụng hình thức này sẽ dẫn đến tìnhtrạng cạnh tranh không lành mạnh Các nhà sản xuất sẽ đua nhau giảm giá sản phẩmcủa mình thấp hơn để thu hút sự chú ý của khách hàng Do đó, để ngăn ngừa hành vinày, việc giảm giá phải tuân thủ các quy định về hạn mức tối đa giá trị của hàng hóa.Theo quy định tại điều 6 và Khoản 1 Điều 9 NĐ số 37/ NĐ-CP/2006 thì mức giảm
Trang 12vụ đó trước thời gian khuyến mại Bên cạnh đó tại Khoản 2 Điều 9 của NĐ này phápluật còn quy định nếu hàng hóa , dịch vụ thuộc diện nhà nước quản lý thì việc khuyếnmại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của chính phủ cụ thể như: khôngđược giảm giá đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước quy định giá cụ thể, không đượcgiảm giá xuống thấp hơn mức tối thiểu đối với hàng hóa dịch vụ nhà nước quy địnhkhung giá hoặc giá tối thiểu.
Về thời gian thực hiện chương trình giảm giá được quy định cụ thể tại Khoản 4Điều 9 NĐ số 37/NĐ-CP/2006, theo đó thì: Tổng thời gian thực hiện chương trìnhkhuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa dịch vụ khôngđược vượt quá 90 ngày trong 1 năm và một trương trình khuyến mại không được vượtquá 45 ngày
Có thể thấy việc pháp luật quy định khá chặt chẽ về hình thức này là hợp lý Bởi
lẽ đây là hình thức khuyến mại dễ dàng thực hiện các thương nhân có thể áp dụng nóvới ngay hàng hóa của mình tại các đại lý
Do đó, không thể tránh khỏi việc một số thương nhân lợi dụng giảm giá để bánphá giá hàng hóa , dịch vụ tranh dành thị phần của các thương nhân khác Pháp luậtcàng có những quy định cụ thể về hạn mức tối đa, thời gian của chương trình giảm giáthì càng tránh được nguy cơ của việc cạnh tranh không lành mạnh , gây ảnh hưởngxấu đến việc kinh doanh của thương nhân khác
3.4) Bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hoặc một số lợi ích nhất định.
Theo hình thức khuyến mại này thì khách hàng khi mua hàng hóa , sử dụng dịch
vụ của thương nhân sẽ được phát kèm phiếu mua hàng , phiếu sử dụng dịch vụ vàkhách hàng sẽ được hưởng những lợi ích nhất định từ những phương thức đó Phiếumua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có mệnh giá nhất định để thanh toán chonhững lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân Phiếu sử dụng dịch vụ
có thể cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí , theo điều kiện nhà cung ứng dịch vụ đưa
ra Với hình thức khuyến mại nay các thương nhân có thể dành cho khách hàng củamình những lợi ích nhất định vào lần sau khi họ đến mua hàng
Hình thức khuyến mại này cũng được pháp luật quy định chi tiết về giá trị vậtchất của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ Giá trị tối đa của phiếu muahàng ,phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theo hàng hóa, dịch vụ trong thời gian
Trang 13khuyến mại không được vượt quá 50%giá của hàng hóa dịch vụ được khuyến mại đótrước thời gian khuyến mại Ngoài ra, khi sử dụng hình thức khuyến mại này cácthương nhân còn phải thông báo công khai các thông tin liên quan như: giá trị bằngtiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng tờ phiếu mua hàng, phiếu sử dụngdịch vụ , địa điểm bán hàng ,cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa dịch vụ mà kháchhàng có thể nhận được tờ phiếu mua hàng , phiếu sử dụng dịch vụ đó.
3.5) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố
Những hình thức khuyến mại ở trên có thể mang lại lợi ích vật chất trực tiếp dễdàng nhận thấy trước mắt cho người tiêu dùng như được tặng quà hay được mua vớigiá thấp hơn của sản phẩm trước chương trình khuyến mại Hình thức bán hàng , cungứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng thì không như vậy Thông quaviệc mua hàng hóa sử dụng dịch vụ khách hàng có cơ hội tham gia một cuộc thi dothương nhân tổ chức Khi tham gia vào cuộc thi, khách hàng có cơ hội nhận được giảithưởng Mục đích của thương nhân khi áp dụng hình thức này là thu hút sự hiếu kỳcủa khách hàng đối với sản phẩm của mình từ đó đánh giá mức độ quan tâm của họđối với hàng hóa dịch vụ đó
Khi thực hiện khuyến mại theo hình thức này các thương nhân phải đảm bảo tổchức cuộc thi và mở thưởng công khai có sự chứng kiến của đại diện khách hàng vàphải thông báo cho sở Thương mại nơi tổ chức thi, mở thưởng ; việc giao giải thưởng
đã công bố Luật Thương mại 2005 cũng quy định về nội dung của phiếu dự thi.Theo đó thì phiếu dự thi phải thông báo công khai các thông tin như : tên của hoạtđộng khuyến mại, thời gian khuyến mại, giá bán hàng hóa , giá cung ứng dịch vụkhuyến mại
3.6) Bán hàng cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi
Khi khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ sẽ được tham gia vào một chương trình
do thương nhân tổ chức và việc trúng thưởng được chọn trên sự may mắn của ngườitham dự Hình thức khuyến mại này có thể gặp trong thực tế dưới một số dạng, ví dụnhư : bốc thăm, cào số trúng thưởng, bóc, mở sản phẩm để nhận được giải thưởng.Khuyến mại bằng cách đưa ra các chương trình mang tính may rủi cũng tạo nên sự
Trang 14hấp dẫn đối với khách hàng, do tâm lý muốn thử vận may của đại đa số người tiêudùng.
Đây cũng là hình thức khuyến mại dễ xảy ra tiêu cực nhất trong số cá hình thứckhuyến mại mà pháp luật quy định Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh có thể lạmdụng hình thức này để lừa dối khách hàng Do đó, việc pháp luật đưa ra các quy địnhchặt chẽ đối với hình thức bán hàng cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự cácchương trình mang tính may rủi cũng nhằm mục đích bảo vệ tối đa lợi ích người tiêudùng Chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được tổ chức công khai, theothể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách hàng Nếu trong trường hợp giá trị giảithưởng từ 100triệu đồng trở lên , thương nhân phải thông báo cho cơ quan quản lýnhà nước về thương mại có thẩm quyền Đó là sở thương mại nơi tổ chức khuyếnmại
Đối với chương trình khuyến mại mang tính may rủi có phát hành vé số dựthưởng phải tuân theo các quy định của pháp luật
Pháp luật cũng quy định tổng thời gian thực hiện khuyến mại đối với một loạinhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 180 ngày trong 1 năm , mộtchương trình khuyến mại không được vượt quá 90 ngày
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn trao thưởng , giải thưởng không
có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải trích nộp50%giá trị đã công bố và ngân sách nhà nước
3.7) Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc giá trị hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa,dịch vụ hoặc các hình thức khác.
Thương nhân thực hiện khuyến mại theo hình thức này phải tuân thủ quy định vềthông báo các thông tin liên quan tại Điều 97 luật thương mại có trách nhiệm xácnhận kịp thời chính xác sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàngthường xuyên
Thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, dịch vụ phải có đầy đủ cánội dung chủ yếu sau:
- Tên của thẻ hoặc phiếu
Trang 15- Điều kiện và cách thức ghi nhận sự tham gia của khách hàng vào chương trìnhkhách hàng thường xuyên, việc mua bán hàng hóa, dịch vụ của khách hàng Trongtrường hợp không thể ghi đầy đủ các nội dung nêu tại điểm này thì phải cung cấp đầy
đủ, kịp thời các nội dung đó cho khách hàng bắt đầu tham gia chương trình Ngoài ra,thương nhân phải thông báo công khai thông tin về các chi phí khác mà khách hàngphải tự chịu khi tham gia vào các chương trình khách hàng thường xuyên được tổchức
3.8) Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
Trong bối cảnh các mối quan hệ maketting trên thị trường ngày càng phức tạp,việc thường xuyên tổ chức các chương trình khuyến khích dành cho khách hàng làmột công cụ quảng bá khá hiệu quả Thương nhân cần thể hiện sự quan tâm đặc biệtđối với những khách hàng thường xuyên tới mua hàng Bởi vì, đây là lượng kháchhàng thực sự tiềm năng và có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận cho hoạt động kinhdoanh Các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí là cách mà thương nhân dành sự
ưu đãi cho những khách hàng này Mục tiêu chính của hình thức này là mang chươngtrình văn hóa nghệ thuật đến cho khách hàng từ đó thu hút được sự chú ý của họ tớihàng hóa , dịch vụ thương nhân cung ứng
3.9) Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp thuận.
Với sự phát triển của máy tính và mạng internet như hiện nay thương nhân có thểkinh doanh hàng hóa dịch vụ của mình thông qua các website hoặc các hệ thống bánhàng điện tử mà không cần thiết phải trưng bày hàng hóa tại cửa hàng
Pháp luật về khuyến mại đã kịp thời bổ sung những quy định phù hợp để điềuchỉnh các hình thức kinh doanh mới mẻ này Đối với chương trình khuyến mại hànghóa, dịch vụ được khuyến mại, được mua bán hoặc cung ứng qua internet và qua cácphương tiện điện tử khác , thương nhân thực hiện khuyến mại phải tuân thủ các quyđịnh về khuyến mại các hình thức khuyến mại được quy định trong luật Thương mạinăm 2005 và nghị định 37/NĐ-CP/2006 Bên cạnh đó thương nhân có thể đưa ranhững hình thức khuyến mại khác phù hợp với mục đích kinh doanh của mình nhưngphải được sự đồng ý và cho phép của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại
Trang 164) Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thểluôn tồn tại độc lập nhưng cũng nằm trong một chỉnh thể thống nhất Trong đó, mỗihoạt động của chủ thể này đều có thể gây ảnh hưởng đến các chủ thể khác có thể theomặt tích cực hoặc tiêu cực Hoạt động khuyến mại của thương nhân cũng là một ví dụđiển hình Cơ hội khuyến mại mà thương nhân có được có thể gây khó khăn cho cácthương nhân khác ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh Không nhữngthế, nó có thể làm người tiêu dùng phân vân trong việc lựa chọn hàng hóa dịch vụ.Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đó Luật TM 2005 đã quy định chi tiết
về những hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại tại điều 100, theo đó thì nhữnghoạt động khuyến mãi bị nhà nước cấm thực hiện bao gồm :
- Khuyến mại cho hàng hóa dịch vụ bị cấm kinh doanh, hàng háo dịch vụ hạnchế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cungứng;
- Sử dụng hàng hóa dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinhdoanh, hàng hóa dịch vụ bị hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông ,dịch vụ chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng
- Khuyến mại hoặc sử dụng rượu bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi;
- Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có từ 30 độ trở lên để khuyến mạidưới mọi hình thức;
-Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
Người tiêu dùng phàn nàn việc cung cấp thông tin về việc khuyến mại của các doanh nghiệp hiện nay khá mập mờ, có khi như đánh lừa khách hàng
Việc thông tin chương trình khuyến mại phải công khai và rõ ràng Điều 97 Luậtthương mại năm 2005 quy định thương nhân khi thực hiện các hình thức khuyến mạiphải công khai các thông tin như tên của hoạt động khuyến mại; Giá bán hàng hóa,giá cung ứng dịch vụ khuyến mại và các chi phí có liên quan để giao hàng hóa, dịch
vụ được khuyến mại cho khách hàng; Tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thựchiện khuyến mại; Thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạtđộng khuyến mại; Trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với các điềukiện cụ thể thì trong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèm theo điềukiện và nội dung cụ thể của các điều kiện
Trang 17Về nguyên tắc, chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trungthực, công khai, minh bạch và không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của ngườitiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác Thương nhân thực hiệnchương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàngtrúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng cáckhiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại (nếu có).
Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của kháchhàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thươngnhân, tổ chức hoặc cá nhân nào (Điều 4, Nghị định 37/2006/NĐ-CP)
Pháp luật cấm hành vi khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hànghoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng (Điều 100 Luật thương mại 2005)
Câu chuyện khuyến mại thực chất nhiều trường hợp người tiêu dùng bị lạm dụnglòng tin bởi vẫn thiếu những cơ chế pháp lý điều chỉnh các hành vi gian dối trongkhuyến mại từ phía các thương nhân Hiện nay, thông qua các chương trình khuyếnmại và sự “kêu trời” của người tiêu dùng có thể nhận thấy trong hoạt động khuyếnmại không ít doanh nghiệp đang có các biểu hiện như:
Thứ nhất là hiện tượng “nói một đường làm một nẻo”, chúng ta vẫn hay thấy cácthông báo khuyến mại như “tặng 100% giá trị thẻ nạp điện thoại”, “mua một tặngmột” nhưng khi tham gia chương trình lại bị các doanh nghiệp ràng vào những điềukiện vô cùng thiệt thòi mới được hưởng cái mà doanh nghiệp cho là giá trị khuyếnmại
Trên thực tế không ít trường hợp thương nhân đã dùng những hàng hóa hết hạn,gần hết hạn sử dụng để tặng cho người tiêu dùng Nhiều trường hợp vi phạm giới hạngiá trị khuyến mại được phép theo quy định tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, khôngthực hiện đúng cam kết tặng thưởng cho khách hàng
Thứ hai, có dấu hiệu lừa dối khách hàng Có doanh nghiệp treo biển giảm giá30%, 50% tại cửa hàng của mình cả năm trời, trong khi tổng thời gian thực hiệngiảm giá cả năm theo quy định là 90 ngày thì thực chất là thương nhân đánh lừa vàothị hiếu người tiêu dùng
Họ tự nâng giá lên, rồi tự hạ giá xuống để cho rằng đó là khuyến mại cho kháchhàng Rồi với hình thức khuyến mại mang tính may rủi thì ai kiểm tra, giám sát việc
có hay không các doanh nghiệp phát hành những cái thẻ, phiếu trúng thưởng có giá trịcao theo thông báo khuyến mại vào trong các mặt hàng xuất ra thị trường v.v Thếnên mới có chuyện nhà nhà đua nhau khuyến mại với giải đặc biệt trị giá trên trờinhưng rất hiếm khi có ai đó trúng giải!
Trang 18khach-hang&catid=10%3Ahot-ng-ca-fdvn&Itemid=10&lang=vi)
option=com_content&view=article&id=1067%3Akhuyn-mi-sa-abbott-qmoc-tuiq Khuyến mại để tiờu thụ hàng húa kộm chất lượng, làm hại đến mụi trường, sứckhỏe con người và lợi ớch cụng cộng khỏc;
- Khuyến mại tại trường học bệnh viện, trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chinhtrị, tổ chức chớnh trị- xó hội, đơn vị vũ trang nhõn dõn;
- Hứa tặng, thưởng nhưng khụng thực hiện hoặc thực hiện khụng đỳng;
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh khụng lành mạnh;
Tại điều 46 Luật Cạnh tranh 2004 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt
động khuyến mại sau đây: Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thởng; Khuyếnmại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng;Phân biệt đối xử đối với các khách hàng nh nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mạikhác nhau trong cùng một chơng trình khuyến mại; Tặng hàng hoỏ cho khỏch hàngdựng thử nhưng lại yờu cầu khỏch hàng đổi hàng hoỏ cựng loại do doanh nghiệp khỏcsản xuất mà khỏch hàng đú đang sử dụng để dựng hàng hoỏ của mỡnh; Các hoạt độngkhuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm
+ Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thởng, hành vi này xảy ra khi doanh
nghiệp thực hiện khuyến mại bằng hỡnh thức tổ chức giải thưởng nhưng đó khụngthực hiện hoặc thực hiện khụng đỳng giải thưởng đó cụng bố trước đú
+ Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng Trong trường hợp này, hoạt động khuyến mại được doanh nghiệp sử
dụng làm cụng cụ để làm cho khỏch hàng bị nhầm lẫn về hàng húa, dịch vụ Vớ dụ,doanh nghiệp tặng hàng mẫu cho khỏch hàng dựng thử với chất lượng cao hơn so vớihàng húa đang được bỏn trờn thị trường
Hai hành vi này được thực hiện với thủ đoạn đưa những thụng tin gian dối vềgiải thưởng, khụng trung thực về hàng hoỏ, dịch vụ hoặc gõy nhầm lẫn để lừa dốingười tiờu dựng Bản chất lừa dối của hành vi khuyến mại khỏc với sự lừa dối trongquảng cỏo ở chỗ, quảng cỏo lừa dối là việc doanh nghiệp khụng trung thực khi đưa racỏc thụng tin trực tiếp về giỏ, số lượng, chất lượng… của hàng hoỏ, dịch vụ đượcquảng cỏo, trong khi đú, lừa dối trong khuyến mại là việc cỏc doanh nghiệp đó khụngtrung thực về cỏc lợi ớch mà khỏch hàng sẽ được hưởng hoặc dựng cỏc lợi ớch đú đểtạo ra sự nhận thức sai lệch về hàng hoỏ, dịch vụ của khỏch hàng Những hành vi như
tổ chức và cụng bố cụng khai về giải thưởng song khụng cú giải thưởng hoặc giảithưởng khụng đỳng với những gỡ đó cụng bố; hành vi tổ chức khuyến mại bằng cỏchđưa hàng mẫu cho khỏch hàng dựng thử với chất lượng cao cấp hơn nhiều so với hàng
Trang 19húa được dựng để mua bỏn hũng làm cho khỏch hàng bị nhầm lẫn về chất lượng hànghúa đều bị coi là cạnh tranh khụng lành mạnh
+ Phân biệt đối xử đối với các khách hàng nh nhau tại các địa bàn tổ chức khuyếnmại khác nhau trong cùng một chơng trình khuyến mại; Căn cứ vào quy định này, cúnhững yếu tố sau đõy cấu thành nờn hành vi vi phạm:
Doanh nghiệp tổ chức khuyến mại trong một khu vực bao gồm nhiều địa bànkhỏc nhau (doanh nghiệp cú thể chia khu vực khuyến mại thành cỏc địa bàn theo khuvực địa lý, theo tiờu chuẩn thành thị, nụng thụn hoặc theo nhúm khỏch hàng…;
Khỏch hàng ở cỏc địa bàn trờn phải đỏp ứng cỏc điều kiện như nhau để đượctham gia vào chương trỡnh khuyến mai (vớ dụ khỏch hàng cần cú số lượng hàng húatiờu thụ giống nhau…);
Doanh nghiệp đó ỏp dụng cơ cấu lợi ớch khỏc nhau theo địa bàn Do đú, dự đỏpứng cỏc điều kiện như nhau nhưng cỏc khỏch hàng ở cỏc địa bàn khỏc nhau đượchưởng lợi ớch khuyến mại khụng giống nhau Vớ dụ cựng điều kiện là cú đủ 3 nắp chaibia, cỏc khỏch hàng ở nụng thụn và ở thành thị sẽ cú cơ hội trỳng những giải thưởngvới giỏ trị khỏc nhau Hành vi này bị coi là cạnh tranh khụng lành mạnh bởi đó phõnbiệt đối xử với khỏch hàng Về nguyờn tắc, khi khỏch hàng đỏp ứng đủ những điềukiện mà doanh nghiệp đặt ra và cỏc điều kiện là như nhau thỡ họ cú vị trớ như nhautrước doanh nghiệp Một khi điều kiện giống nhau nhưng lợi ớch được thụ hưởng khỏcnhau thỡ doanh nghiệp thực hiện việc khuyến mại đó cú thỏi độ đối xử khụng cụngbằng đối với khỏch hàng Việc quy định hành vi phõn biệt đối xử với khỏch hàng làcạnh tranh khụng lành mạnh cho thấy phỏp luật cạnh tranh khụng chỉ bảo vệ tổ chức,
cỏ nhõn kinh doanh mà cũn cú vai trũ quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi củangười tiờu dựng Tuy nhiờn, trong quy định về hành vi này, phỏp luật chưa làm rừ yếu
tố như nhau của khỏch hàng khi tham gia khuyến mại
+ Tặng hàng hoỏ cho khỏch hàng dựng thử nhưng lại yờu cầu khỏch hàng đổihàng hoỏ cựng loại do doanh nghiệp khỏc sản xuất mà khỏch hàng đú đang sử dụng đểdựng hàng hoỏ của mỡnh Để cấu thành hành vi vi phạm, cần xỏc định cỏc yếu tố sauđõy:
Hỡnh thức khuyến mại là tặng hàng húa cho khỏch hàng dựng thử;
Để được tặng hàng húa, khỏch hàng phải chấp nhận đổi hàng húa cựng loại dodoanh nghiệp khỏc sản xuất mà họ đang sử dụng
Với điều kiện này, đối tượng được tham gia khuyến mại chỉ là cỏc khỏch hàngđang giao dịch, đang sử dụng hàng húa của đối thủ cạnh tranh Núi cỏch khỏc, doanhnghiệp đó trực diện lụi kộo khỏch hàng đang tiờu thụ sản phẩm cựng loại của doanh
Trang 20nghiệp khỏc bằng cỏch tặng hàng húa cho họ dựng thử với mong muốn khỏch hàngthay đổi thúi quen tiờu dựng Hành vi này bị coi là một dạng khụng lành mạnh bởi núđược thực hiện nhằm xoỏ bỏ một cỏch khụng chớnh đỏng thúi quen tiờu dựng củakhỏch hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp khỏc Khi tham gia thị trường cỏcdoanh nghiệp được quyền tỏc động đến nhu cầu của khỏch hàng bằng cỏch dành lợiớch vật chất, cung cấp cỏc thụng tin về sản phẩm của mỡnh để khỏch hàng cú thể lựachọn chỳng trong vụ số cỏc sản phẩm cựng loại khỏc Trước rất nhiều sản phẩm cựngloại cú khả năng đỏp ứng cho cựng một nhu cầu, doanh nghiệp chỉ cú thể làm nổi bậtsản phẩm của mỡnh trước khỏch hàng để cạnh tranh
+ Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhng lại yêu cầu khách hàng đổi hànghoá cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùnghàng hóa của mình Trong khuyến mại khụng lành mạnh việc tặng hàng hoỏ chokhỏch hàng dựng thử nhưng lại yờu cầu khỏch hàng đổi hàng hoỏ cựng loại do doanhnghiệp khỏc sản xuất mà khỏch hàng đú đang sử dụng để dựng hàng hoỏ của mỡnh làtoan tớnh nhằm xoỏ bỏ hỡnh ảnh của doanh nghiệp khỏc trong thúi quen tiờu dựng đó
cú của khỏch hàng để tạo thúi quen tiờu dựng mới đối với sản phẩm của mỡnh Trongthực tiễn, đó cú những doanh nghiệp tổ chức chương trỡnh khuyến mại tặng những gúisản phẩm bột nờm với khối lượng 250g cho khỏch hàng với điều kiện khỏch hàng phảicung cấp cho doanh nghiệp ớt nhất là hai vỏ bao bột nờm do doanh nghiệp khỏc sảnxuất Cú thể núi, đõy là vụ việc điển hỡnh cho chiến lược xúa bỏ sản phẩm của doanhnghiệp khỏc trong nhu cầu tiờu dựng của khỏch hàng
- Thực hiện khuyến mại mà giỏ trị hàng húa, dịch vụ dựng để khuyến mại vượtquỏ hạn mức tối đa hoặc giảm giỏ hàng húa, dịch vụ khuyến mại vượt quỏ mức tối đatheo quy định của phỏp luật;
Như vậy , với cỏc quy định nờu trờn nhà nước mong muốn cỏc doanh nghiệpthực hiện đỳng và đầy đủ để đảm bảo một mụi trường kinh doanh lành mạnh, đảmbảo quyền lợi cho người tiờu dựng
5) Quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại
Quản lớ nhà nước với cỏc quy định mang tớnh thủ tục hành chớnh được xem làcỏch thức để nhà nước tỏc động vào tự do thương mại, là yếu tố tạo ra hành lang phỏp
lớ của quyền tự do doanh nghiệp
Bộ thương mại ( Bộ cụng thương ) là cơ quan được chớnh phủ giao nhiệm vụthực hiện quản lớ Nhà nước cỏc hoạt động xỳc tiến thương mại trong đú cú khuyếnmại Cơ quan trực thuộc của nú là cục thương mại giỳp Bộ quản lớ Nhà nước tronghoạt động xỳc tiến thương mại Là cơ quan giỳp việc cho Bộ nờn Cục xỳc tiến thương
Trang 21mại có nhiệm vụ xây dựng và trình Bộ trưởng phê duyệt chiến lược, chính sách và cácchương trình khác
Bên cạnh đó còn có các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ trongphạm vi quyền hạn và nghĩa vụ của mình có tránh nhiệm phối hợp với Bộ côngthương thực hiện quản lí Nhà nước về hoạt động khuyến mại
Ngoài các cơ quan trên thì UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ươngcũng thực hiện quản lí Nhà nước các hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại tạiđịa phương theo phân cấp của Chính phủ, với đầu mối thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
là các cơ quan chuyên môn như Sở Công Thương, Sở Văn hóa – Thông tin
Ngoài các quy định trên thì pháp luật cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ củathương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại Những quy định này đảm bảo choquyền tự do kinh doanh của thương nhân trong khuôn khổ pháp luật
6) Vấn đề đạo đức trong khuyến mại
Khuyến mại - phương thuốc bổ cho DN
"Nếu bạn mua một hộp sữa từ 25/10 đến 25/12 bạn có cơ hội trúng 1 trong 3chiếc xe hơi hiệu Mazda, hoặc Honda @, hoặc máy vi tính " Khi nghe mẫu quảngcáo với chương trình khuyến mại hấp dẫn của sữa Anfapro này, bất kỳ người tiêudùng nào cũng không khỏi ham muốn sở hữu một trong những quà tặng nói trên khichỉ bỏ ra vài chục ngàn đồng
Những chương trình khuyến mại với giá trị tặng thưởng cao như thế giờ đâykhông còn hiếm ở Việt Nam, thậm chí rất phổ biến trên các phương tiện quảng cáođại chúng Với "chiêu" xe hơi, đã từng có chương trình khuyến mại uống bia trúngthưởng của bia Tiger với số giải thưởng lên đến 6 chiếc xe hơi hiệu BMW, hoặc muavải trúng thưởng của Công ty Dệt may Thái Tuấn Xe hơi, biểu trưng của sự sangtrọng, được các DN sử dụng nhiều hơn trong các chương trình khuyến mại để lôi kéongười tiêu dùng
Khuyến mại thực sự là công cụ kinh doanh của DN và bất kỳ DN nào cũng xem
đó như là biện pháp thúc đẩy doanh số bán hàng Hầu như DN nào cũng ít nhất cómột lần tổ chức chương trình khuyến mại với những hình thức khác nhau Đối với DNnày, chương trình khuyến mại là mua 2 tặng 1, hay mua sản phẩm này tặng thêm sảnphẩm khác Đối với DN khác là cơ hội bốc thăm trúng thưởng 1 ngôi nhà, 1 chuyến
du lịch nước ngoài, tivi, tủ lạnh Khuyến mại được DN sử dụng nhiều nhất là khitung ra sản phẩm mới, trong mùa thấp điểm, hoặc muốn đạt mục tiêu doanh thu khisắp hết năm tài chính và thậm chí đó còn để "giải quyết" hàng tồn kho
Trang 22Khuyến mại được xem là biện pháp tích cực và hiệu quả của DN trong nhiềutrường hợp,
Hay liều thuốc "mê dân"?
Một ví dụ cụ thể về khuyến mại - bốc thăm trúng thưởng cách đây mấy năm củahãng kem Wall's đã tác động rất lớn đến con trẻ "Khi chương trình khuyến mại này rađời, trẻ con suốt ngày đòi cha mẹ mua kem Chúng không chịu ăn cơm, ngoại trừkem Có trẻ yêu cầu cha mẹ, thậm chí hàng xóm "ăn giúp", với mong muốn thu đượcmột lượng cây kem để tham gia bốc thăm trúng thưởng" Những hoạt động khuyếnmại như thế này chỉ gây xáo trộn xã hội, không bảo vệ người tiêu dùng và đẩy xã hộivào những vấn đề không lành mạnh
Hoạt động khuyến mại đã phát huy được tác dụng của nó đối với DN, nhưng qualăng kính của các nhà nghiên cứu thì nó đang làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Vân Nam nói rằng, khuyến mại là hình thức "mị dân" khilàm vỏ bọc cho chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ bên trong "Khuyến mại chỉ làhình thức dẫn dụ người tiêu dùng không thông qua lợi ích thực, mà lợi dụng điểm yếucủa họ chính là lòng tham để chào bán hàng cho người tiêu dùng Đây là việc làm phiđạo đức trong kinh doanh", ông Nam phát biểu Ông giải thích, với hoạt động khuyếnmại, DN nghĩ rằng có thể "chinh phục" được khách hàng bằng các giải thưởng màquên đi chất lượng của sản phẩm Khi chuyện này trở nên phổ biến và lâu dài, sảnphẩm sẽ không còn giá trị đúng với giá trị của nó Nói cách khác, người tiêu dùng sẽ
có nguy cơ sử dụng sản phẩm hay dịch vụ kém chất lượng, dẫn đến bị thua thiệt Thứhai, theo Tiến sĩ Nam, khuyến mại sẽ đưa nền kinh tế vào chỗ tụt hậu vì DN khôngchú ý đến chuyện đầu tư cho sản xuất thay vào đó họ chú ý nhiều đến khuyến mại,hoạt động mà bị cấm ở một số quốc gia "Nguồn vốn phân bổ của DN dành cho hoạtđộng khuyến mại sẽ nhiều hơn thay vì tập trung cho sản xuất và hoạt động đầu tưnâng cao chất lượng không được DN chú ý đúng mức Và khi tất cả các DN đều xemchuyện này quan trọng hơn đầu tư nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ thì nềnkinh tế quốc dân sẽ bị ảnh hưởng đáng kể", ông Nam nhận định
Không lạm dụng thì không thể cấm
Ông Trần Anh Sơn, Phó Cục trưởng Cục Cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại, nóirằng khuyến mại không thể thiếu đối với hoạt động kinh doanh của DN, cũng như làcông cụ của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là công cụ kích cầu thị trường "Khi nềnkinh tế ảm đạm, cầu sụt giảm, nhưng nếu có hoạt động khuyến mại của DN sẽ kíchthích được tiêu dùng và như thế sẽ kích thích nền kinh tế", ông nhận định
Theo ông Sơn, Luật Cạnh tranh vừa qua đã được Quốc hội thông qua, trong đó
Trang 23bị cấm khi DN lợi dụng việc này để phá giá "Ví dụ, một DN nào đó lợi dụng tiềm lựccủa mình để tổ chức khuyến mại kéo dài suốt trong một năm thì có thể nói đó là hoạtđộng phá giá, là không lành mạnh, cần phải bị cấm"
Khi được hỏi, liệu khuyến mại có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế về lâu dài haykhông, nếu DN chỉ chú ý đến khuyến mại mà không đầu tư nhiều cho chất lượng, ôngSơn cho rằng người tiêu dùng không đến mức không nhận ra mình đang sử dụng sảnphẩm hay dịch vụ có chất lượng hay không "Khi người tiêu dùng hiểu được DNkhông "chơi đẹp", cho dù khuyến mại có hấp thế nào họ cũng không lựa chọn sảnphẩm hay dịch vụ của DN Và khi đó, DN phải nghĩ đến chuyện nâng cao chất lượngsản phẩm", ông kết luận
Trong khi một số người phản đối hoạt động khuyến mại thì một số cho rằng nó
có lợi cho DN, người tiêu dùng và cả tổ chức trung gian Đại diện của một DN ởTP.HCM, nói rằng tiền tập trung nhiều vào hoạt động khuyến mại và quảng cáo thay
vì cho sản xuất, nhưng nó được phân bổ vào xã hội, cho các cơ quan truyền thông đạichúng Đương nhiên, cái gì quá thì cũng đều không tốt, kể cả quá lạm dụng phươngthuốc khuyến mại
(http://proscovn.com/vn/Scripts/blogview.asp?idproduct=921)
Hình ảnh một cậu bé bị ung thư, gia đình nghèo khó không thể cứu chữa trongmột đoạn clip quảng cáo của một thương hiệu mì gói đang phát sóng trên nhiều kênhtruyền hình, đã gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận Nhiều người xúc động với hoàncảnh của em bé trong quảng cáo đã chuyển sang nổi giận khi biết được đây là hìnhảnh minh họa cho một chiến dịch bán hàng của công ty sản xuất mì gói
Núp bóng từ thiện?
Trên mỗi panô quảng cáo mì Gấu Đỏ - gắn kết yêu thương của Công ty cổ phầnthực phẩm Á Châu (Asia Food), hình ảnh cậu bé bị ung thư máu, truyền nước biển vớimột lý lịch rõ ràng: Tuấn, 4 tuổi, bị ung thư máu Cả video clip quảng cáo như mộtcâu chuyện thật khiến người xem phải thắt lòng, kèm theo lời kêu gọi: “Thêm một gói
mì, thêm một sự hi vọng ” Thế nhưng, nhiều bạn đọc cho biết đã gọi điện chođường dây nóng 043 747 0037 muốn giúp đỡ cậu bé, thì bất ngờ được giải thích đóchỉ là một hình ảnh được phía công ty dựng lên để kêu gọi lòng từ tâm của mọingười
Vậy nội dung quảng cáo này là từ thiện hay nhằm mục đích kinh doanh, quảng
bá sản phẩm? Có những ý kiến cho rằng quảng cáo như vậy là nhân văn, khơi gợilòng yêu thương của con người, nhưng cũng có ý kiến cho rằng lòng từ tâm kia chỉ làcái vỏ bọc hào nhoáng của mục đích kinh doanh, như phản hồi của bạn đọc Wiki:
Trang 24“Nhà sản xuất Gấu Đỏ đã rất thông minh (?) khi vừa mang danh làm từ thiện vừa đem
về lãi khủng”
Luật chưa quy định
Thực tế quảng cáo đi kèm với các hoạt động từ thiện không chỉ có Gấu Đỏ đếnnay mới sử dụng, rất nhiều nhãn hàng đã dùng hình thức này để lôi kéo sự tham giacủa xã hội như mua tã giấy để trẻ em châu Phi có thêm nhiều mũi tiêm chủng trongchương trình của Unicef, hay một số hãng sữa với chương trình hỗ trợ trẻ em đếntrường Tuy nhiên trường hợp của mì Gấu Đỏ lại nhận được nhiều ý kiến trái chiều
vì mẩu quảng cáo gắn với một trường hợp cụ thể và điều này làm không ít người xemkhó chấp nhận được
Bà Lữ Lâm Uyên - giảng viên Luật cạnh tranh, khoa luật Trường ĐH Kinh tếTP.HCM - cho biết khá sốc khi xem clip quảng cáo này Theo bà Uyên, đến nay Luậtcạnh tranh vẫn chưa có những quy định cụ thể về các mẫu quảng cáo lợi dụng lòngtrắc ẩn, lòng tham hay niềm tin của người tiêu dùng Việc bảo vệ quyền tự do quyếtđịnh tiêu dùng trước những hành vi cạnh tranh giành lợi thế trong kinh doanh phổbiến của doanh nghiệp hiện nay như kêu gọi lòng từ tâm, khuyến mãi với giá trị rấtlớn chưa được Luật cạnh tranh nước ta điều chỉnh triệt để
Còn một chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo cho rằng việc sử dụng các hìnhảnh thương tâm, gây xúc cảm mạnh trong các chiến dịch quảng cáo là rất bình thường
ở các nước trên thế giới Hình ảnh bệnh nhi ung thư cũng có thể khiến người xem xót
xa, đáng thương và gợi lên cho họ những cảm xúc chia sẻ Nếu hiểu theo hướng tíchcực, đừng đánh giá doanh nghiệp lợi dụng hình ảnh bệnh nhi hay lòng trắc ẩn củangười tiêu dùng để kinh doanh thì đây là chiến dịch thành công
(http://tuoitre.vn/kinh-te/492541/gau-do-khong-du-chuc-nang-keu-goi-dong-gop.html)