1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bình luận về cơ quan tài phán quốc tế và minh họa bằng một sự kiện và phạm vi điều chỉnh của cơ quan tài phán quốc tế

10 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 120 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan tài phán quốc tế có thể hiểu: “là những cơ quan hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự

Trang 1

Bài Tiểu luận nhóm 5

Họ và tên nhóm 5:

1 Nguyễn Thị Thu Trang

2 Trần Khánh Tuyết

3 Phùng Thị Thu Vân

4 Nguyễn Mạnh Thọ

5 Nguyễn Thị Hồng Nhung (CH 14)

6 ………

7 ………

Đề bài: Bình luận về cơ quan tài phán quốc tế và minh họa bằng một sự kiện và

phạm vi điều chỉnh của cơ quan tài phán quốc tế?

Bài làm:

A Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan tài phán quốc tế

1 Hiến chương Liên hợp quốc 1945

2 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển kèm theo Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982

3 Hiến chương ASEAN

4 Nghị định thư Manila 1996

5 Quy chế tòa án công lí quốc tế 1946

6 Các hiệp định Thương mại WTO

B Hệ thống cơ quan tài phán quốc tế

“Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn với nhau, và có những yêu cầu,hay đòi hỏi cụ thể trái ngược nhau Đó là sự không thỏa thuận được với nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến sự mâu thuẫn, đối lập nhau về quan điểm pháp lí hoặc quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau”

Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định rất nhiều biện pháp hòa bình, tạo ra điều kiện cho các chủ thể luật quốc tế lựa chọn trong giải quyết tranh chấp quốc tế xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế: Chủ thể, đối tượng điều chỉnh…

Vì thế mà thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong luật quốc tế cũng có những đặc điểm rất khác biệt so với luật quốc gia Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế là do các chủ thể luật quốc tế quyết định Thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế từ trước tới nay thường vẫn áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản sau:

Trang 2

+ Giải quyết trực tiếp tranh chấp

+ Giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba;

+ Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và các hiệp

định khu vực

+ Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế.

Trong bài bình luận sẽ đi sâu vào bình luận về các cơ quan tài phán quốc tế Như ta đã biết, tài phán quốc tế là những hình thức, cách thức hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp, thủ tục tư pháp, do các quốc gia lựa chọn Vì thế, trong quan hệ quốc tế, thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế của các cơ quan tài phán quốc tế thường phụ thuộc bởi ý chí của các bên tranh chấp trong việc chấp nhận trao cho những thiết chế đó quyền giải quyết vụ việc xảy ra Cơ quan tài phán

quốc tế có thể hiểu: “là những cơ quan hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự

tư pháp các cuộc tranh chấp nảy sinh trong quá trình các chủ thể thực thi, tuân thủ pháp luật”.

Hiện nay, các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng chủ yếu là Tòa án và Trọng tài quốc tế Tính chất của mỗi loại hình tài phán này phụ thuộc vào quy chế, điều lệ và chức năng đặc thù của từng loại

I. Thiết chế của Tòa án quốc tế

1 Toà án Liên hợp quốc:

Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, được thành lập năm 1945 trên cơ sở kế thừa Toà án Thường trực Quốc tế của Hội quốc liên và hoạt động theo quy chế một bộ phận không tách rời của Hiến chương Liên hợp quốc Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đương nhiên được coi là thành viên của quy chế TAQT Các nước không phải là thành viên Liên hợp quốc có thể tham gia quy chế TAQT nếu được Hội đồng Bảo An đề nghị và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận Các nước không tham gia quy chế cũng có thể yêu cầu TAQT xét xử tranh chấp nếu được Hội đồng Bảo

an cho phép

Nhiệm vụ chính của TAQT:

a) Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và giữa các tổ chức quốc tế trên

cơ sở luật pháp quốc tế Các thể nhân và pháp nhân không có quyền đưa các tranh chấp ra giải quyết trước TAQT

b) Làm chức năng tư vấn pháp lí (kết luận pháp lí) cho Hội đồng Bảo an, Hội

đồng Thường trực và cho các tổ chức khác của Liên hợp quốc

2 Tòa án liên minh châu Âu.

Về thành phần, cơ cấu bao gồm 15 Thẩm phán, 8 Công tố viên,được bổ nhiệm theo nhiệm kì 6 năm.Về thẩm quyền Biểu hiện trong chức năng giải thích luật của EU,

Trang 3

đảm bảo cho pháp luật của Liên minh được các thiết chế EU, các quốc gia thành viên, công dân của nước thành viên tuân thủ Tòa án liên minh châu Âu còn có chức năng giải thích luật của cộng đồng theo yêu cầu của Tòa án các nước thành viên Bên cạnh

cơ quan tài phán này còn có Tòa án sơ thẩm cộng đồng Châu ÂU.Về thủ tục tố tụng cũng tương tự như Tòa án công lí quốc tế, bao gồm tridnh tự các bên đề trình yêu cầu lên Tòa án và trình tự xét xử về mặt nội dung vụ việc, với thủ tục viết và nói

3 Tòa án Luật biển.

Về thành phần và cơ cấu Với thành phần gồm 21 thẩm phán Là cơ quan xét xử được thành lập theo công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 TAQTVLB là

bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống các biện pháp giải quyết các tranh chấp về Luật biển liên quan đến việc giải thích hay thực hiện Công ước năm 1982 Ngoài ra, toà án còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về Luật biển phát sinh từ các điều ước quốc

tế khác, nếu trong các điều ước này có quy định như vậy

II. Thiết chế trọng tài quốc tế

1 Tòa trọng tài

Là cơ quan tài phám quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thảo thuận thành lập trên cơ sở các điều ước quốc tế về trọng tài và nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên

a) Căn cứ vào thành phần trọng tài: Tòa trọng tài cá nhân và Tòa trọng tài tập thể b) Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Tòa trọng tài có thẩm quyền

chung; Tòa trọng tài có thẩm quyền chuyên môn

c) Căn cứ vào tính chất hoạt động: Tòa trọng tài thường trực và Tòa trọng tài vụ

việc

2 Giá trị pháp lí của phán quyết trọng tài.

Về nguyên tắc, phán quyết của Tòa trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp Các bên có nghĩa vụ thi hành và không có quyền khiếu nại Phán quyết của tòa trọng tài được xem xét lại trong trường hợp có những điều kiện mới ảnh hưởng đến nội dung phán quyết mà trước đó tòa trọng tài chưa được biết đến Trong một số trường hợp nhất định trên thực tiễn thì phán quyết của Tòa trọng tài cũng có thể bị coi là vô hiệu, và các bên không có nghĩa vụ phải thi hành phán quyết đó

a) Tòa trọng tài thường trực Lahaye (PCA): là Tòa có thẩm quyền giải quyết tất cả

các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên, trừ khi các quốc gia thỏa thuận lựa chọn một phương hướng giải quyết khác

b) Tòa trọng tài quốc tế về Luật Biển: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên

quan đến việc giải thích hay áp dụng công ước về thi hành các quyền chủ quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển; các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các các quy định của công ước về nghiên cứu khoa học

Trang 4

biển; các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng các quy định của công ước về đánh bắt hải sản Các chủ thể có quyền đưa vụ tranh chấp ra tòa trọng tài quốc tế về luật biển bao gồm các quốc gia thành viên công ước , các thực thể không phải là thành viên công ước trong các trường hợp liên quan đến việ quản lí khai thác vùng - di sản chung của loài người và các tổ chức quốc tế chính phủ, là thành viên của công ước Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế về Luật biển được thông qua theo nguyên tắc đa số…

c) Ngoài các cơ quan tài phán cơ bản trên, thì hiện nay trên thế giới còn tồn tại

những cơ quan tài phán quốc tế khác như Tổ chức WTO, ASEAN…

C Thực tiễn giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua các cơ quan tài

phán quốc tế hiện nay.

I Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua thiết chế Tòa án quốc tế.

1 Tòa án Công lí quốc tế LHQ.

Theo điều 13 của Hiến chương, một trong những chức năng của Đại hội đồng là

"thúc đẩy việc pháp điển hoá và sự phát triển của luật quốc tế theo hướng tiến bộ".

Chức năng này đã được Đại hội đồng và các cơ quan khác thực hiện thông qua việc soạn thảo, chuẩn bị rất nhiều công ước quốc tế Trong vòng năm thập kỷ qua, Liên hợp quốc đã bảo trợ cho trên 456 thoả thuận đa phương bao gồm mọi lĩnh vực hoạt động giữa các nhà nước và nỗ lực của loài người Liên hợp quốc cũng là người tiên phong quan tâm tới những vấn đề toàn cầu mới hiện nay như: môi trường, khoảng không vũ trụ, lao động di cư, buôn lậu ma tuý và chủ nghĩa khủng bố

Chức năng chính của Toà án quốc tế là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc

tế, vụ kiện do các quốc gia đưa lên phù hợp với luật pháp quốc tế Mục tiêu của toà án

là áp dụng các tập quán quốc tế để thiết lập các quy tắc được các quốc gia liên quan chính thức công nhận; các thông lệ quốc tế được chấp nhận như luật; các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyết của tòa án

Tòa án cũng khuyến nghị Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an về lĩnh vực luật pháp, các vấn đề luật pháp nổi lên trong phạm vi hoạt động của các cơ quan này, khuyến nghị các cơ quan khác của Liên hợp quốc, các cơ quan chuyên môn với sự uỷ quyền của Đại hội đồng

Giải quyết theo luật pháp các tranh chấp: Cơ quan chính của Liên hợp quốc

giải quyết các tranh chấp là Toà án Quốc tế Kể từ khi thành lập năm 1946, đến nay đã

có 72 vụ được các nước đưa ra trước Toà án Quốc tế, 22 trường hợp hỏi ý kiến của các

tổ chức quốc tế Hầu hết các trường hợp được Toà giải quyết, song kể từ năm 1981, đã

có 4 trường hợp được chuyển cho các Uỷ ban đặc biệt giải quyết theo đề nghị của các bên liên quan 11 trường hợp vẫn chưa được giải quyết

Các trường hợp đưa ra giải quyết tại Toà án Quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như: quyền về lãnh thổ (vụ tranh chấp giữa Pháp và Anh năm 1953, giữa Bỉ và Hà Lan năm 1959, giữa Ấn Độ và Bồ Đào Nha năm 1960, giữa Buốckina Phaxô và Mali năm

Trang 5

1986, giữa Libi và Sát năm 1990), liên quan đến luật biển (trường hợp Anbani phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do thuỷ lôi trong vùng lãnh hải của mình gây ra cho tầu của Anh năm 1949, tranh chấp giữa Anh và Na uy về đánh cá), các cuộc tranh chấp liên quan đến nguyên tắc và luật lệ quốc tế trong việc phân định ranh giới thềm lục địa, trên biển và trên bộ (vụ giữa Libi và Manta năm 1985, Canađa và Mỹ năm

1984, Đan mạch và Na uy năm 1993, giữa En Xanvađo và Honđurat năm 1992 ), về bảo vệ ngoại giao, bảo vệ môi trường, thực hiện các nghĩa vụ của lực lượng uỷ thác tại lãnh thổ Tây Nam châu Phi, các vấn đề liên quan đến xung đột khu vực, việc thực hiện các công ước quốc tế của các nước các trường hợp liên quan đến quan hệ giữa Liên hợp quốc và các nước thành viên như việc phái viên của Liên hợp quốc bị sát hại, đóng góp của các nước vào ngân sách hoạt động gìn giữ hoà bình cũng được các bên liên quan đưa ra tại Toà án Quốc tế để nhận được ý kiến tham khảo

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế của Tòa án quốc tế LHQ hiện nay Tòa án quốc tế LHQ chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia , không bao gồm giải quyết tranh chấp giữa các tổ chức quốc tế, giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế, hay giữa cá nhân và quốc gia… và cơ quan tài phán này sẽ không có thẩm quyền đương nhiên giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên mà phải do các bên tranh chấp yêu cầu, dựa vào 1 trong 3 phương thức:

- Chấp nhận thẩm quyền của tòa theo từng vụ việc ( chấp nhận thỏa thuận thỉnh cầu).Khi có tranh chấp xảy ra, các bên cùng ngồi lại cùng viết chung 1 đơn, cùng ký yêu cầu tòa giải quyết, nêu rõ tên của các bên tranh chấp, vấn đề cần giải quyết, mục đích mong muốn yêu cầu đề nghị của các bên, có thể chọn nguồn luật để giải quyết

- Chấp nhận trước thẩm quyền của tòa trong các ĐƯQT khi các bên cùng tham gia 1 ĐƯQT mà thẩm quyền tranh chấp của tòa quốc tế đã được nêu ra trong một điều khoản của công ước chỉ cần 1 bên đưa đơn là tòa sẽ có thẩm quyền xét

sử phát sinh nguyên đơn, bị đơn

Ví dụ: Việt Nam - Trung quốc là thành viên của công ước quyền trẻ em, VN có

quyền yêu cầu tòa giải quyết thông qua việc chứng minh thẩm quyền trchấp của tòa QT đã được nêu ra trong 1 điều khoản của công ước Tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa, quốc gia A có thể gửi đến tòa tuyên bố đơn phương nêu rõ quốc gia chấp nhận thẩm quyền xét xử cảu tòa trong những vấn đề cụ thể, khi có tranh chấp với các quốc gia cũng có tuyên bố đơn phương trong những vấn đề tương tự phát sinh nguyên đơn, bị đơn Ở đây, Tòa án không quy định hình thức cụ thể của tuyên bố Chỉ cần thể hiện rõ quan điểm về việc tòa quốc tế có thẩm quyền xét xử các tranh chấp trong những lĩnh vực cụ thể quốc gia Quốc gia cũng có thể rút lại tuyên bố đơn phương và cũng có thể tuyên bố bảo lưu hạn chế bớt những thẩm quyền xét xử của tòa án Ví dụ: đầu tiên, mỹ tuyên bố đơn phương cho tòa quốc tế có thẩm quyền xét xử tranh chấp trong mọi lĩnh vực Nhưng sau đó rút lại tuyên bố này và chỉ bảo lưu cho việc

Trang 6

áp dụng trong lĩnh vực thương mại, hàng hải’’Quốc gia có thể rút lại, thậm chí hủy tuyên bố bảo lưu

Ví dụ: Đầu tiên, Pháp tuyên bố đơn phương cho tòa QT có thẩm quyền xét xử

tranh chấp mọi lĩnh vực Nhưng sau đó đã rút lại tuyên bố này và chỉ bảo lưu cho việc áp dụng trong lĩnh vực thương mại, hàng hải Cuối cùng Pháp đã rút lại tòan bộ tuyên bố

- Chỉ giải quyết các tranh chấp pháp lý (không chính trị ), nếu vừa là pháp lý vừa

là chính trị thì tòa sẽ tự quyết định có xét xử hay không dựa trên cơ sở phán quyết của tòa về tính chất của tranh chấp đó

2 Tòa án Liên minh châu Âu.

Hiện nay, do nhu cầu hội nhập, đặc biệt là theo mô hình liên kết đặc biệt của Liên minh châu âu (EU), vì thế mà Tòa án liên minh châu âu không chỉ dừng lại ở thẩm quyền của một thiết chế quốc tế đơn thuần mà mà ở một số lĩnh vực nhất định, theo sự thỏa thuận của các nước thành viên thì thẩm quyền giải quyết của Tòa này cũng giống như Tòa án quốc gia Tranh chấp quốc tế phát sinh chủ yếu thuộc về thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên minh châu Âu là những tranh chấp của các thành viên của tổ chức này

3 Tòa án Luật biển.

Công Ước quốc tế về luật biển quy định, theo điều 286, bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công Ước, theo yêu cầu của một bên tranh chấp, sẽ được đưa ra trước tòa án có thẩm quyền, trừ trường hợp có thể giải quyết bằng các biện pháp khác Đây là cách tiếp cận vô cùng tiến bộ, buộc các Quốc gia thành viên của Công Ước phải chấp nhận giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán độc lập

Theo điều 287 của Công Ước, Quốc gia thành viên có thể đệ trình vụ tranh chấp lên Tòa Án Quốc tế, Toà án Quốc tế về Luật Biển hay tòa trọng tài

Trên nguyên tắc, Công Ước kỳ vọng các Quốc gia sẽ thực hiện quyền tự do lựa chọn phương thức xét xử bằng một tuyên bố văn bản Tuy nhiên, chỉ có 40 trong tổng

số 160 Quốc gia thành viên của Công Ước đã đưa ra tuyên bố như vậy, và không quốc gia nào ở khu vực Biển Đông nằm trong số 40 quốc gia này Điều đáng lưu ý là các Quốc gia không thể lảng tránh các thủ tục tố tụng pháp lý bằng cách không đưa ra lựa chọn nào Trong những trường hợp như vậy, Công Ước sẽ đơn giản áp đặt một cơ chế mặc định Nếu các Quốc gia không lựa chọn, tranh chấp của họ sẽ tự động được giải quyết thông qua tòa trọng tài

Có rất nhiều tranh luận xung quanh các điểm lợi và bất lợi của tòa trọng tài Tuy nhiên, ta có thể nhận thấy rằng, các Quốc gia sẽ tự hạn chế quyền tự do lựa chọn của mình nếu họ không sử dụng nó Bản thân đây đã là một lý do thích đáng để các Quốc gia nghiên cứu cẩn thận xem họ nên chọn thủ tục tố tụng nào – thủ tục nào đảm

Trang 7

bảo được quyền lợi của họ, hơn là phó thác quyết định đó cho các điều khoản mặc định của Công Ước

Ví dụ từ một vụ việc trong án lệ của Toà án Quốc tế về Luật Biển Trong vụ

Cải tạo Đất (Land Reclamation Case), Malaysia và Singapore bất đồng về tác động

của các hoạt động cải tạo đất của Singapore đối với môi trường biển Malaysia đã yêu cầu Tòa đưa ra các biện pháp tạm thời để bảo vệ môi trường Tòa yêu cầu hai bên thành lập một nhóm các chuyên gia độc lập nhằm nghiên cứu tác động của các hoạt động cải tạo đất Hai bên đã tuân theo và nhờ đó đã đạt được một kết quả đáng ngạc nhiên: chưa đến hai năm sau yêu cầu của Tòa và dựa trên báo cáo của các chuyên gia, Malaysia và Singapore đã có thể giải quyết bất đồng của họ một cách hòa bình thông qua việc ký kết hiệp định

Các biện pháp tạm thời của Tòa rõ ràng đã đưa các bên lại với nhau và giúp họ tìm ra một biện pháp ngoại giao thành công Các thủ tục tố tụng pháp lý rõ ràng có thể đóng góp cho việc tạo dựng nên một môi trường hòa giải giữa các bên và thúc đẩy việc tìm kiếm một giải pháp hợp lý và hòa bình cho các tranh chấp

II Giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua thiết chế Trọng tài quốc tế.

1 Đối với tòa trọng tài thường trực Lahaye (PCA):

Từ khi thành lập, tòa PCA đã giải quyết khá nhiều tranh chấp quốc tế, trong đó phải kể đến một số tranh chấp đã được Tòa giải quyết tương đối thành công Chẳng hạn: Vụ chủ quyền trên đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan Nhưng trên thực tế hiện nay, hoạt động của Tòa trọng tài thường trực Lahaye đang có xu hướng giảm sút, nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng đó là do Tòa không phải là cơ quan tài phán có thẩm quyền bắt buộc và cũng không phải là cơ quan tài phán duy nhất mà các bên tranh chấp phải lựa chọn Thực tế đã cho ta thấy: Các quốc gia, nếu muốn sử dụng biện pháp mạnh để giải quyết tranh chấp thì họ lựa chọn Tòa án quốc tế, còn nếu xử dụng muốn

sử dụng biện pháp mềm dẻo và linh hoạt hơn thì thường họ sẽ lựa chọn các trọng tài khác ngoài trọng tài thường trực Lahaye, như các trọng tài vụ việc Để khắc phục thực trạng bất cập trên thì từ năm 1992, Tòa trọng tài thường trực Lahaye đã ban hành hàng loạt quy định nhằm mở rộng thẩm quyền cũng như hoàn thiện thủ tục tố tụng của Tòa Đồng thời, Tòa cũng thành lập một số ủy ban giúp việc để chuẩn bị cho việc sửa đổi

bổ sung công ước Lahaye 1899 và 1907

2 Tòa trọng tài Quốc tế về Luật Biển.

Tòa trọng tài quốc tế về luật biển là cơ quan tài phán quốc tế, thành lập và hoạt động trên cơ sở của Công ước Luật biển năm 1982 (Phụ lục VII của Công ước).và có thẩm quyền giải quyết nhiều tranh chấp quốc tế theo quy định của Luật biển Đồng thời, tòa trọng tài quốc tế về luật biển, ngoài việc cùng các cơ quan tài phán có thẩm quyền chung để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gau, đã tạo được bước phát triển mới của luật quốc tế theo hướng không dừng lại ở các nguyên tắc, quy phạm có tính chung chung mà đã phát triển đến chỗ hình thành nên các nguyên tắc, quy phạm

Trang 8

chuyên biệt Điều này một mặt đã nâng cao vai trò điều chỉnh các nguyên tắc, quy phạm quốc tế đối với các quan hệ quốc tế khác Mặt khác, đã góp phần tăng cường, củng cố và duy trì sự hợp tác giữa các quốc gia cũng như giữa các chủ thể khác của luật quốc tế

Ngoài Tòa trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo phụ lục VII của Công ước Luật Biển 1982, các quốc gia thành viên còn có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tào trọng tài đặc biệt Tào trọng tài đặc biệt có sự đóng góp đáng kể của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền chuyên môn trong từng lĩnh vực: IMO (Tổ chức hàng hỉa quốc tế), FAO ( Tổ chức lương thực và nông nghiệp của LHQ) các tổ chức này có trách nhiệm lập một danh sách các chuyên viên, dựa trên sự đề cử của các quốc gia thành viên Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định hai chuyên viên trong mỗi lĩnh vực Khi tranh chấp phát sinh, dựa trên danh sách các chuyên viên đã được lập thì một hội đồng trọng tài đặc biệt sẽ thành lập đển giải quyết vấn đề tranh chấp này

3 Các cơ quan tài phán quốc tế khác

a) Tổ chức thương mại quốc tế WTO

Nhìn nhận tổng thể ta thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hệ thống giải quyết tranh chấp chung, được áp dụng với các tranh chấp phát sinh trong tất

cả các lĩnh vực thương mại hàng hoám thương mại dịch vụ Tranh chấp thuộc đối tượng có thể viện dẫn đến cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là tranh chấp phát sinh giữa các thành viên của tổ chức này, và việ giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các thành viên của WTO được giải quyết trên cơ sở công bằng,nhanh chóng, hiệu quả

và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp Căn cứ trên sự thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (DUS) mà các thành viên của tổ chức có thể lựa chọn cho mình các biện pháp giải quyết tranh chấp khác nhau trường hợp nếu sau khi đã tiến hành các biện pháp nêu trên mà tranh chấp vẫn chưa được giải quyết thì các bên có thể khiếu nại ra trước cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của tổ chức

Trong toàn bộ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thì trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các thành viên tại cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO thể hiện rõ tính chất của loại hình tài phán quốc tế

b) Tài phán ASEAN

Từ khi nghị định thư Manila ra đời năm 1996 cùng với cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thì ASEAN mới có 1 cơ chế hoàn chỉnh để giải quyết tranh chấp Trước

đó, hiệp định Bali 1976 hay hiệp định khung 1992 về tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực chỉ bao gồm 1 số cơ chế giải quyết tranh chấp Trong bối cảnh việc hợp tác quốc tế phát triển nhanh chóng đã làm phát sinh một nhu cầu phải có một cơ chế giải quyết cụ thể và dứt điểm các tranh chấp quốc tế Năm 1996, hội nghi cấp cao các nước ASEAN đã thống nhất ký hiệp định thư Manila 1996 và cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ASEAN sẽ được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế về kinh tế trong khu vực

Trang 9

Từ khi thành lập đến nay, ASEAN không hề có cơ quan chuyên trách giải quyết các tranh chấp quốc tế SEOM là cơ quan chính của ASEAN, là cơ quan không thường trực, có nhiệm vụ tìm hiểu cặn kẽ hoạt động kinh tế, đưa ra các chính sách kinh

tế cho ASEAN, trợ giúp cho AEM, điều hành các kì họp cho AEM

D MỘT VÍ DỤ MINH HỌA CỤ THỂ

Tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc trong sự kiện Bãi Cỏ Rong?

Tuyên bố liên quan đến việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật Biển của Ngoại trưởng Phi-líp-pin dường như hướng đến những căng thẳng gần đây giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc xuất phát từ tranh chấp ở quần đảo Trường Sa (mà Phi-líp-pin còn gọi là Kalayaan hay KIG) bắt đầu bằng sự kiện Bãi Cỏ Rong Đây

là vụ việc vào đầu tháng ba khi hai tàu tuần tra của Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Anh do Phi-líp-pin thuê để khảo sát khu vực Bãi Cỏ Phi-líp-pin ngay lập tức có phản ứng mạnh mẽ trên thực địa bằng cách phái hai máy bay ra nơi xảy ra sự việc đồng thời cử hai tàu hải quân hộ tống tàu khảo sát trong suốt thời gian còn lại của chuyến khảo sát Trên phương diện ngoại giao, Phi-líp-pin cũng gửi công hàm phản đối và cử đại diện sang Bắc Kinh để “bàn về vấn đề”

Cũng được coi là hệ quả của sự kiện Bãi Cỏ Rong, Phi-líp-pin tiếp tục phản đối Trung Quốc tại Liên hợp quốc liên quan đến bản đồ vẽ đường chín đoạn của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho rằng thể hiện các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của quần đảo Trường Sa Trong gửi công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, Phi-líp-pin khẳng định rằng đường chín đoạn do Trung Quốc vẽ không

có bất kỳ cơ sở nào theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển Đáp lại, Phái đoàn Trung Quốc cũng gửi Công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa và đặc biệt nhấn mạnh

‘quần đảo Trường Sa hoàn toàn có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa’ theo quy định của Công ước Luật biển cũng như các văn bản pháp luật trong nước của Trung Quốc

Tiếp đó, tại Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước Luật biển lần thứ 21 diễn ra tại New York, Tổng thư ký Ủy ban các Vấn đề Biển và Đại đương của Phi-lí-pin nêu rõ những sự kiện gần đây ở Bãi Cỏ Rong dường như đã mở rộng khái niệm khu vực tranh chấp ở Biển Đông để gộp cả “những vùng biển và thềm lục địa rõ ràng chỉ thuộc chủ quyền và/hay quyền tài phán của Phi-líp-pin” Đối chiếu phát biểu này với tuyên bố của Ngoại trưởng Phi-líp-pin về việc sử dụng Tòa trọng tài để làm rõ giữa khu vực tranh chấp và khu vực không tranh chấp thì dường Phi-líp-pin có ý định để sử dụng Tòa trọng tài để khẳng định Bãi Cỏ Rong là nằm trên thềm lục địa của Phi-líp-pin, tách biệt với vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa đang tranh chấp Điều này là cần thiết khi Bãi Cỏ Rong giờ đã trở thành một vấn đề đặc biệt quan tâm của pin do dự đoán khu vực này có tiềm năng lớn về dầu khí Tổng thống Phi-líp-pin gần đây tuyên bố sẽ làm mọi cách để bảo vệ khu vực này và Phi-líp-Phi-líp-pin thực sự đang nỗ lực mua sắm trang thiết bị để tăng cường tiềm lực quân sự của mình Tuy

Trang 10

nhiên, thực tế là năng lực quân sự của Phi-líp-pin vẫn được coi là thuộc loại yếu kém nhất trong khu vực và không thể so sánh với Trung Quốc – quốc gia có tiềm lực quốc phòng vượt trội trong khu vực Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng đến vũ lực chỉ là phương tiện cuối cùng và các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp luôn là ưu tiên hàng đầu Chính vì thế, việc sử dụng Tòa trọng tài quy định trong Công ước Luật biển của Phi-líp-pin để giải quyết bất đồng với Trung Quốc là một cách làm khôn ngoan Vấn đề đặt ra đó là thực sự Phi-líp-pin có khả năng làm điều này hay không và để trả lời câu hỏi này, cần hiểu qua cơ chế và thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, đặc biệt là về Tòa trọng tài

Tóm lại, Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, tạo điều kiện để các quốc gia hợp tác cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng tiềm ẩn sâu trong các mối quan hệ quốc tế ấy lại là những nguy cơ làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng trên tất cả các lĩnh vực trong quá trình chủ thể luật quốc tế đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác quốc tế Vì thế, yêu cầu tất yếu đặt ra cho quá trình hợp tác này là phải có các chính sách và các cơ quan tài phán quốc tế chuyên môn để nhanh chóng giải quyết các tranh chấp quốc tế trên mà vẫn đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp nói riêng, đồng thời không làm phương hại đến hòa bình và an ninh quốc tế

Ngày đăng: 25/03/2019, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w