1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình 2000 và việc áp dụng trong thực tiễn xét xử

15 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 101,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, ly hôn là một sự kiện pháp lý đánh dấu sự chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ vợ chồng do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.. Mối quan h

Trang 1

A MỞ BÀI

Gia đình ra đời tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của nam nữ, đồng thời qui định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Đời sống hôn nhân gia đình luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp Hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao Lĩnh vực hôn nhân, gia đình đã được nhà nước ta quan tâm từ rất lâu thể hiện qua các văn bản Luật điều chỉnh lĩnh vực này Vậy Luật Hôn nhân & Gia đình 2000 đã có những qui định như thế nào về căn

cứ ly hôn và việc áp dụng các thực tiễn này trong thực tiễn xét xử ra sao? Bài

nhóm của chúng em với đề tài “Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình

2000 và việc áp dụng trong thực tiễn xét xử” sẽ làm rõ hơn vấn đề này.

Bài làm của chúng em khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, do đó chúng

em luôn mong muốn được lắng nghe những góp ý quý báu từ phía các thày, cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Khái niệm ly hôn

Xét về mặt xã hội: Ly hôn là một giải pháp giải quyết sự khủng hoang trong mối

quan hệ vợ chồng Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac lenin, ly hôn là mặt trái trong quan hệ hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu khi mà quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, mà trong khi đó mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống vợ chồng không còn ý nghĩa Ly hôn nhằm giải phóng cho vợ chồng, các con và các thành viên khác trong gia đình khỏi những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình vì tự do ly hôn không có nghĩa là làm tan rã những mối quan hệ gia đình mà ngược lại nó củng cố mối quan hệ hiện đó trên cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh

Xét về mặt pháp lý: Ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa vụ và

quyền giữa vợ và chồng theo qui định của pháp luật Chỉ có vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn Để ly hôn, vợ, chồng hoặc cả 2 người hoàn toàn tự do trong việc làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn Tòa án chính là cơ quan duy nhất có

Trang 2

thẩm quyền xem xét và giải quyết ly hôn của vợ, chồng Tòa án phải điều tra xác minh tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng; tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ chồng kết hợp với các căn cứ theo qui định của pháp luật để tiến hành giải quyết ly hôn

Như vậy, ly hôn là một sự kiện pháp lý đánh dấu sự chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ vợ chồng do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc

cả hai vợ chồng

II Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Pháp luật nhiều nước qui định giải quyết ly hôn là dựa vào yếu tố lỗi của mỗi vợ chồng Nhà nước tư sản coi hôn nhân như hợp đồng nền việc chấm dứt ly hôn cũng giống như chấm dứt hợp đồng và và dựa vào lỗi của các bên; Việc xử của Tòa án dựa vào hình thức của quan hệ hôn nhân Điều này dẫn đến sự thụ động trong xét

xử (do hoàn toàn dựa vào ý chí của đương sự)

Với nhà nước xã hội chủ nghĩa, căn cứ ly hôn mang tính khoa học, phản ánh thực chất mối quan hệ đã bị tan vỡ và giải quyết của Tòa án cho họ được ly hôn là một thực tế khách quan Mối quan hệ vợ chồng hiện đang tồn tại không thể cải thiện được, việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng là giải phóng cho cả hai

vợ chồng và từ đó xã hội không có những tế bào không khỏe mạnh bởi mỗi gia đình hạnh phúc là một tế bào tốt cho xã hội

Trong pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ ly hôn phải hội tụ

đủ các yếu tố phản ánh thực tế hôn nhân không thể tồn tại được nữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-LêNin và được quy định dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Đó là: tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được thì Tòa án sẽ cho ly hôn

Trang 3

2. Phân tích căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Có thể hiểu căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được qui định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết đó thì Tòa án mới xử cho ly hôn

Quy định tại Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về căn cứ ly hôn như sau:

“1 Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”

Việc ly hôn được quyết định theo đơn yêu cầu của vợ và chồng hoặc riêng của một trong hai người Pháp luật quy định căn cứ ly hôn dựa trên tình trạng thực tế của cuộc hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được

Trước tiên, cần phải hiểu thế nào là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài”.

Có thể thấy, theo quan điểm lập pháp thì việc giải quyết ly hôn phải dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân chứ không dựa vào lỗi của vợ hoặc chồng Xét trên cơ

sở lý luận và thực tế cho thấy, khi tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài là muốn nói đến tình yêu của vợ chồng không còn nữa, nó có thể đã phai nhạt hoặc bị tình yêu mới lấn át, đồng thời vợ chồng có những mâu thuẫn sâu sắc đến mức không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng

bị rạn nứt và tan vỡ mà không thể hàn gắn lại được Nếu vợ chồng tiếp tục chung sống trong hoàn cảnh đó thì không những không đem lại niềm vui, hạnh phúc mà tình trạng đó còn ảnh hưởng đến đời sống của những thành viên trong gia đình, đặc biệt là con cái Tòa án nhân dân tối cao đã có những văn bản hướng dẫn mang tính

Trang 4

cụ thể cho phù hợp với thực trạng quan hệ vợ chồng khi họ có yêu cầu ly hôn Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/NQ-HDTP hướng đẫn áp dụng một số qui định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ vợ chồng được coi là trầm trọng khi:

- Vợ chồng không yêu thương, quí trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng của mình muốn sống sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức nhắc nhở nhiều lần

- Vợ chồng luôn có hành vi ngược đãi hành hạ nhau, thường xuyên đánh đập hoặc

có hành vi xúc phạm đến danh dự nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức nhắc nhở nhiều lần

- Vợ chồng không chung thủy với nhau, như có quan hệ ngoại tình đã được người vợ hoặc chồng hoặc bà con thân thích của họ nhắc nhở khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục

có hành vi ngoại tình (mục 8, điểm a1) Cơ sở đển hận định đời sống chung không thể kéo dài là “căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ, chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại mục 8, điểm a1 và “đã được nhắc nhở hòa giải nhiều lần mà vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau” (Mục 8 điểm 2 NĐ 02/2000/HĐTP)

Khi nói “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” thì phải đặt

thực trạng cuộc sống vợ chồng trong tổng thể các mối quan hệ Nếu chỉ đơn thuần xem xét quan hệ giữa hai cá nhân vợ chồng cũng là chưa đầy đủ C.Mac đã phê phán mạnh mẽ sự tùy tiện của những người chỉ nhìn thấy sự bất hạnh của những cặp vợ chồng phải gắn bó với nhau khi tình yêu giữa họ không còn Ông cho rằng

những người này “chỉ nghĩ đến cá nhân mà quên mất gia đình Họ quên rằng hầu như mọi sự tan vỡ của hôn nhân đều là sự tan vỡ của gia đình và quên rằng ngay

cả khi đứng trên quan điểm thuần túy pháp lý, hoàn cảnh của con cái và tài sản của chúng cũng không bị lệ thuộc vào sự xử lý tùy tiện của bố mẹ, vào việc của bố

mẹ muốn làm sao làm vậy”.

Thứ hai, “mục đích của hôn nhân không đạt được” là gì?

Trang 5

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ dựa trên nguyên

tắc “tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” nhằm chung sống

với nhau suốt đời và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Như vậy, mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững thì khi hôn nhân đã không đạt được mục đích của nó, vợ chồng có thể được ly hôn

Nghị Quyết 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000, tại điểm a3 Mục 8 hướng dẫn

về việc nhận định mục đích hôn nhân không đạt được là “không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển

về mọi mặt” Như vậy, những quan điểm trên đây là cơ sở cho việc xác định mục

đích của hôn nhân không đạt được Nếu vợ chồng chung sống có những biểu hiện

đó thì có nghĩa là họ không thể cùng nhau xây dựng được gia đình bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc và ly hôn tất yếu sẽ xảy ra

Những nội dung trên đây của căn cứ ly hôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Nếu “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” thì sẽ dẫn đến

“mục đích của hôn nhân không đạt được” Điều đó cho thấy quan hệ giữa vợ

chồng là quan hệ riêng tư giữa hai cá nhân nhưng lại tác động trực tiếp tới gia đình Khi giải quyết ly hôn, Tòa án phải điều tra, xem xét kĩ giữa mặt riêng tư và mặt xã hội của quan hệ hôn nhân thì việc giải quyết mới mang lại hiệu quả tích cực, phù hợp với lợi ích của gia đình và xã hội

Điểm mới của căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 là quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” Đây là sự khác biệt và cụ thể hơn so với Luật

HN&GĐ năm 1959 và năm 1986, quy định này được dựa trên thực tế cuộc sống và phù hợp với quan hệ đời sống vợ chồng Theo qui định tại Điều 78 BLDS năm

2005 thì cơ sở để tòa án tuyên bố một người bị xác định là mất tích khi không có tin tức gì của người đó trong hai năm liên tục trở lên Khi người vợ hoặc người

Trang 6

chồng xin ly hôn với người mất tích, Tòa án sẽ xem xét các yếu tố: Nếu trong hai năm liền trở lên không có tin tức gì về người mất tích, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo trên các phương tiện thông tin truyền thông, niêm yết nơi

cư trú theo qui định của BLDS, nhưng vẫn không có tin tức gì về người đó, thì theo yêu cầu của người có quyền lợi lien quan, tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích

Như vậy khi tuyên bố của tòa án về việc một bên vợ hoặc chồng mất tích có hiệu lực pháp luật, mà bên kia có yêu cầu ly hôn thì tòa án sẽ áp dụng theo qui định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết

Trong trường hợp giải quyết ly hôn với một bên vợ hoặc chồng bị xác định là mất tích, có thể phân biệt như sau:

- Người vợ hoặc người chồng yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng hoặc vợ mất tích và

ly hôn, nếu có đủ điều kiện thì Tòa án tuyên bố người đó mất tích (theo quy định của BLDS) và giải quyết cho họ được ly hôn Nếu chưa đủ điều kiện tuyên bố mất tích thì bác yêu cầu tuyên bố mất tích và cũng bác yêu cầu ly hôn của người kia

- Việc tuyên bố vợ hoặc chồng mất tích đã xảy ra trước đó, sau khi có bản án của Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng mất tích có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc vợ của người đó mới có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Như vậy, khi quyết định tuyên bố của Tòa án về việc một bên vợ hoặc chồng mất tích có hiệu lực pháp luật mà bên kia có yêu cầu giải quyết ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn , pháp luật về hôn nhân và gia đình quyết định đây là căn cứ

ly hôn hoàn toàn phù hợp với mục đích của hôn nhân Khi một trong hai vợ chồng

bị Tòa án tuyên bố mất tích có nghĩa là một bên vợ hoặc chồng đã không có mặt ở nhà cùng gánh vác xây dựng, chăm lo đời sống chung của gia đình hai năm liên tục trở lên Chính sự vắng mặt đó của một trong hai vợ chồng làm cho hôn nhân của

họ chỉ là mặt hình thức Giải quyết ly hôn trong trường hợp này nhằm bảo vệ quyền cho người vợ hoặc chồng ở nhà về các lợi ích nhân thân và lợi ích tài sản đồng thời cũng nhằm cũng cố mối quan hệ gia đình nói chung

Trang 7

Từ những phân tích trên, căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 thể hiện tính khoa học và phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng Khi giải quyết ly hôn không chỉ dựa trên cơ sở của tình yêu vợ chồng không còn mà phải dựa trên một thức tế quan hệ đó tự nó tan vỡ, sự tồn tại của hôn nhân chỉ là hình thức, ly hôn là một giải pháp hữu hiệu nhằm giải phòng cho vợ chồng khỏi cuộc sống chung đồng thời cũng giải quyết cho các thành viên viên khác trong gia đình thoát khỏi cuộc sống căng thẳng, nặng nề

III Việc áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 trong thực tiễn xét xử.

1 Một số vướng mắc trong quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn.

a Vướng mắc trong việc đánh giá thế nào là “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”

Trong các vụ án ly hôn hiện nay, Toà án thường vận dụng khoản 1 Điều 89 Luật HNGĐ 2000 để đưa ra phán quyết Theo đó, nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng và mục đích hôn nhân khoong đạt được thì cho ly hôn, còn không có đủ điều kiện thì yêu cầu ly hôn sẽ không được chấp nhận Căn cứ ly hôn này có tính khái quát cao, phản ánh được bản chất của quan hệ Hôn nhân gia đình Song quan hệ vợ chồng là quan hệ tình cảm nên rất khó định lượng Vì vậy, rất khó để xem xét đánh giá trong thực tế Do đó việc phán xét tuỳ thuộc rất nhiều vào năng lực kinh nghiệm của Thẩm phán xét xử

Nhiều thẩm phán cho biết khái niệm “tình trạng trầm trọng” trong hôn nhân rất trừu tượng Theo họ, hướng dẫn của TANDTC chỉ mang tính giải thích chung chung khó có thể vận dụng để giải quyết thấu đáo loại án này Đa phần Thẩm phán chỉ dựa vào trực quan kinh nghiệm là chủ yếu Còn một số ý kiến khác cho rằng nếu bác đơn ly hôn thì cứ dựa vào hướng dẫn của nghị quyết mà lập luận, còn cho

ly hôn thì cứ nói đơn giản rằng mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng Bởi lẽ, thực

tế muốn chứng minh vợ chồng “không thương yêu, không quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau…” là rất phức tạp khó khăn, trong khi những người muốn ly hôn vẫn hay đưa ra lý do “không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống”.

Trang 8

Bên cạnh đó Nghị quyết 02/2000/NQ - HĐTP có một số cụm từ chưa rõ nghĩa,

chẳng hạn như: “không thương yêu, quý trọng, chăm sóc” Định lượng như thế nào

là đủ để kết luận rằng vợ chồng không thương yêu, quý trọng chăm sóc nhau? Với tâm tính che giấu thầm kín của người Việt Nam, sự biểu lộ yêu – ghét, trọng –

khinh không đẽ gì nhận thấy và đo lường sâu cạn được Tương tự “ngược đãi, hành hạ hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau” cũng mơ hồ không kém Dùng hành động tác động vào thân thể của người

phối ngẫu thì coi là hành hạ, đánh đập nhưng nếu không hành động hay chỉ tác động bằng ngôn ngữ nói, viết thì đến mức nào được xem là ngược đãi, hành hạ? Từ

đó dẫn đến thực tế là việc đánh giá như thế nào là tình trạng trầm trọng của hôn nhân để đưa ra phán quyết tuỳ thuộc vào cảm nhận của Thẩm phán thụ lý xét xử

Vấn đề bạo lực gia đình (hành hạ về thể xác) cũng có sự phân hoá giữa thành thị

và nông thôn Và trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, việc quy

định “hành hạ” như Nghị quyết 02/2000/HĐTP trở nên thiểu cơ sở và căn cứ để

giải quyết yêu cầu ly hôn Do trình độ văn hoá và nhận thức khác nhau nên hành vi

gọi là “hành hạ” cũng khác nhau Luật chỉ quy định “hành hạ nghĩa là đánh đập

về thể xác và xúc phạm về danh dự, nhân phẩm”, nhưng trong đời sống hiện nay

sự hành hạ về tinh thần còn nặng nề hơn rất nhiều Tuy nhiên, pháp luật cũng chưa

có quy định điều chỉnh Vì thế, sự cảm tính của Thẩm phán sẽ mang tính chất chủ quan, nhiều khi đó sẽ là hạn chế và dẫn tói những phán quyết oan sai

Nghị quyết 02/2000/HĐTP hướng dẫn có tính cụ thể về những hành vi biểu hiện, phản ánh một phần nào đó quan hệ vợ chồng nhưng chưa phản ánh được thực chất quan hệ vợ chồng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi thực thi Luật HNGĐ đã hơn 10 năm với những thay đổi nhiều về tư tưởng, quan điểm…

b Về vấn đề Ly thân của pháp luật HNGĐ hiện hành.

Luật HNGĐ hoàn toàn không có chế định về ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân Trong quy định về căn cứ cho ly hôn cũng không có quy định là

vợ chồng phải sống ly thân một thời gian rồi mới được ly hôn Nhưng trong Nghị

Trang 9

quyết 02/2000/HĐTP ly thân được coi là một biểu hiện của hành vi không quan tâm, không chăm sóc đến cuộc sống của nhau ( tức là bỏ mặc đối phương)

Ly thân là tạm thời chấm dứt một số quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, trong đó có quyền và nghĩa vụ về nhân thân Mục đích của ly thân theo quy định của luật pháp các nước là để giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ chồng hoặc tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra Đồng thời để các bên có thời gian suy ngẫm, nhìn lại cuộc hôn nhân, ăn năn hối cải, khắc phục lỗi lầm, sửa chữa tính tình, tha thứ cho nhau… để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống Ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong thời gian sống ly thân các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với con chung và tài sản Mặt khác, nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng vợ chồng vẫn trầm trọng, vợ chồng vẫn không cảm thông, hoà hợp cho nhau, không khắc phục lỗi lầm, không dung hoà… thì khi ấy các bên có thể xin ly hôn

Theo TS Nguyễn Minh Hoà (Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh) thống kê thì 60% các vụ ly hôn thuộc về các gia đình trẻ, tuổi chỉ từ 18 đến 30, trong đó 70% ly hôn khi vừa mới kết hôn Hầu hết vợ chồng khi quyết định ly hôn thường không chuẩn bị kỹ về tâm lý cho bản thân mình và cho con cái nên đã xảy ra trường hợp đáng tiếc Cứ 5 người ly hôn thì có tới 4 người cảm thấy cuộc chia tay của mình là vội vàng, thủ tục ly hôn nhanh, khiến họ không có thời gian để kiểm nghiệm xem quyết định của mình là đúng hay sai Chính vì thế một câu hổi đặt ra ở

đây là có nên đặt vấn đề ly thân ra “ngoài vòng pháp luật”? Pháp luật HNGĐ nước

ta từng tồn tại chế định về ly thân, tuy nhiên ở Luật HNGĐ hiện hành chế định đó

đã bị bãi bỏ, bởi lý do nhằm tránh gây thêm nhiều phức tạp trong mối quan hệ vốn

đã rối ren này Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi Luật HNGĐ có động thái chuẩn bị sửa đổi, bổ sung thì có ý kiến cho rằng nên đưa chế định ly thân vào luật Bên cạnh đó, một số người lại đưa ra quan điểm trái chiều, ly thân là lối sống không lành mạnh, vi phạm nghiêm trọng các đạo đức, truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam

Trang 10

Vì pháp luật không quy định nên hiện nay ly thân là vấn đề riêng và thuộc quyền quyết định của mỗi cặp vợ chồng Tuy nhiên, thực tế đang cho thấy liên quan đến

ly thân lại có rất nhiều bức xức cần được pháp luật điều chỉnh và giải quyết Ví dụ như nhiều cặp vợ chồng lấy việc ly thân như là một “sự ràng buộc không hồi kết” với tư duy “trả thù” hay “không ăn được thì đạp đổ” không cho đối phương đi tìm hạnh phúc mói, hay nhiều người lợi dụng việc ly thân để dễ dàng ly hôn hơn

Xưa nay, nhắc đến chuyện ly thân nhiều người thường ác cảm, nghĩ rằng ly thân thì đương nhiên sẽ ly hôn, nên ít ai nhận ra được mặt tích cực của ly thân Ly thân

là khoảng lặng để cứu vãn cuộc hôn nhân, là cầu nối tình cảm, chứ không phải là bước đệm để ly hôn Sự trải nghiệm nhận thức của bản thân sẽ giúp họ nhận ra giá trị vai trò, trách nhiệm của người bạn đời đối với mình và của mình đối với người bạn đời; đồng thời cũng nhận ra được những hệ luỵ của việc ly hôn để có quyết định đúng đắn Tuy nhiên, ly thân chỉ là giải pháp hữu hiệu với những ai có thiện chí hàn gắn đổ vỡ, vun đắp hạnh phúc gia đình, biết nhìn nhận phần lỗi của mình

và biết tha thứ cho nhau

2 Khó khăn trong việc áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn khi xét xử.

Trên thực tế do mức độ phức tạp của các án kiện ly hôn liên quan đến nhiều vấn

đề mà số lượng các vụ ly hôn qua các năm ngày càng tăng nên không thể tránh khỏi những điểm hạn chế

Toà án có khó khăn trong công tác điều tra, thu thập chứng cớ, tài liệu Theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, nhiệm vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ thuộc về đương sự và Toà án chỉ xác minh điều tra khi cần thiết Song thực tế, khi giải quyết các án cụ thể Toà án phải tự điều tra, thu thập các tài liệu, chứng cớ để xây dựng hồ sơ vụ án Bởi điều quan trọng trong việc giải quyết các trường hợp ly hôn là việc xác định các căn cứ ly hôn, để từ đó đánh giá nhận xét tính chất, mối quan hệ vợ chồng nghiêm trọng đến đâu để có quy định đúng đắn Các đương sự trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau, không những không tạo thuận lợi cho cán bộ Toà án điều tra mà còn có hành vi cản trở, gây khó khăn làm cho việc giải quyết vụ án ngày càng thêm phức tạp Khi các đương sự yêu cầu ly hôn với

Ngày đăng: 25/03/2019, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w