1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm 2 tháng i – luật thương mại việt nam – modul i

17 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, nếu chủ nợ không thực hiện quyền đòi nợ thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ.Điều 51 Tuy vậy để tránh tình trạng nộp đơn do không khách quan gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, h

Trang 1

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI ……….3

BÀI LÀM ……….4

1 Đối tượng áp dụng của luật phá sản năm 2004 ……… … 4

2.Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ……….6

3, Các giấy tờ mà chủ nợ, đại diện người lao động, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và ý nghĩa của từng loại giấy tờ đó ……….……9

4, Nguyên tắc và trình tự thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ ……….14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………18

Trang 2

ĐỀ BÀI

Tìm hiểu quy định của pháp luật phá sản về các vấn đề sau đây

1 Đối tượng áp dụng Luật Phá sản năm 2004

2 Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

3 Các giấy tờ mà Chủ nợ, đại diện người lao động, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và ý nghĩa của từng loại giấy tờ đó

4 Nguyên tắc và trình tự thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ

Trang 3

BÀI LÀM

1 Đối tượng áp dụng của luật phá sản năm 2004.

Đối tượng áp dụng của LPS 2004 được quy định cụ thể tại điều 2 LPS 2004, theo đó Luật phá sản được áp dụng đối với Doanh nghiệp, Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật

Đối tượng áp dụng của luật phá sản năm 2004 được quy định tại điều 2 cụ thể như sau:

“Điều 2 Đối tượng áp dụng

1 Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

(hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

2 Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với

doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu.”

Như vậy, so với LPSDN 1993 thì LPS 2004 vẫn giữ nguyên phạm vi áp dụng của thủ tục phá sản, tức là vẫn quy định thủ tục phá sản chỉ áp dụng cho các chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp mà không áp dụng cho bất cứ một chủ thể kinh doanh nào khác Tuy nhiên, LPS 2004 có một cái mới duy nhất trong việc giải quyết vấn đề phạm vi áp dụng của LPS 2004 so với LPSDN 1993 là đã liệt kê Hợp tác xã, liên hiệp Hợp tác xã bên cạnh khái niệm doanh nghiệp

Điểm 1.1 chương I Nghị định số 03/ 2005/ NQ – HĐTP ngày 28/4/2005

hướng dẫn thi hành một số quy định của LPS Theo đó “LPS được áp dụng đối với

doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là:

1 Công ty nhà nước;

2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

3 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

4 Công ty cổ phần;

5 Công ty hợp danh;

6 Doanh nghiệp tư nhân;

7 Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

8 Hợp tác xã;

9 Liên hiệp hợp tác xã;

Trang 4

10.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài;

11.Các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.”

Như vậy, luật phá sản được áp dụng đối với các loại hình doanh nghiệp, hợp tác

xã và liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật Các loại hình doanh nhiệp bao gồm các hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu chung hay sở hữu tư nhân: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình công ty (công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh) Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kể cả doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài vẫn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản Tuy nhiên, doanh nghiệp nước ngoài (hiểu là doanh nghiệp mang quốc tịch nước ngoài, chỉ hiện diện thương mại ở Việt Nam thông qua chi nhánh, văn phòng đại diện) thì không thể bị tuyên bố phá sản tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam; trường hợp này sẽ được giải quyết theo quy định của luật dân

sự và luật tố tụng dân sự Hộ kinh doanh cá thể không phải là doanh nghiệp nên không thuộc đối tượng áp dụng của luật phá sản, khi hộ kinh doanh cá thể lâm vào tình trạng phá sản được giải quyết theo quy định của luật dân sự và luật tố tụng dân

sự

Công ti nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu và doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh đều thuộc đối tượng điều chỉnh của luật phá sản; Chính phủ đã quy định cụ thể về việc áp dụng luật phá sản đối với các đối tượng này tại nghị định 67/2006 NĐ-CP ngày 11/7/2006 hướng dẫn áp dụng luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và

tổ chức, hoạt động của tổ quản lí, thanh lí tài sản Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng là những lĩnh vực đặc thù, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế xã hội nhưng những chủ thể đó vẫn là những chủ thể kinh doanh hoạt động trên thị trường và bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác nên những chủ thể này vẫn thuộc sự điều chỉnh của luật phá sản Chính phủ

đã có quy định cụ thể về việc áp dụng luật phá sản đối với các chủ thể trên tại nghị định 114/2008/NĐ-CP và nghị định 05/2010 NĐ-CP

2.Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Trang 5

a) Chủ nợ

Mục đích của Luật Phá sản doanh nghiệp trước tiên là nhằm bảo vệ quyền tài sản cho các chủ nợ Vì vậy các chủ nợ là đối tượng đấu tiên có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để nhằm thu hồi các khoản nợ

Luật PS DN năm 1993 và Luật PS 2004 chỉ dành quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ cho các chủ nợ không có bảo đảm (khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX hoặc của người thứ ba) và chủ nợ có bảo đảm một phần (khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của DN, HTX hoặc người thứ

ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó) mà không cho phép chủ nợ có bảo đảm (khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của DN, HTX hoặc của người thứ ba) nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (đọc Điều 7 Luật PSDN 1993; Điều 6 và Điều 13 Luật PS 2004) Quy định này là tạo điều kiện cho các chủ nợ không có sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản Còn đối với các chủ nợ có bảo đảm thì luôn được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, HTX hoặc người thứ ba nên việc quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không cần thiết

Đồng thời LPS 2004 cũng loại bỏ quy định về nghĩa vụ của các chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở TTPS phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Họ chỉ cần chứng minh chủ nợ đã đòi

nợ nhưng không được doanh nghiệp mắc nợ thanh toán nợ đến hạn bằng việc gửi giấy đòi nợ sau 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của TA mởi thủ tục phá sản đến TA cùng tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó Tuy nhiên, nếu chủ nợ không thực hiện quyền đòi nợ thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ.(Điều 51)

Tuy vậy để tránh tình trạng nộp đơn do không khách quan gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, HTX hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì người nộp đơn yêu cầu tùy mức độ sẽ

bị xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu TNHS nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm mục đích đề cao trách nhiệm khi người nộp đơn được mở rộng khả năng và điều kiện nộp đơn yêu cầu theo Luật PS 2004 (Điều 19)

b) Người lao động

Trang 6

Theo quy định tại Điều 13 của Luật Phá sản (2004) thì cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động

và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà không cần

điều kiện: “không trả được lương cho người lao động trong vòng 3 tháng liên tiếp”

như quy định tại Luật Phá sản doanh nghiệp (1993) Tuy nhiên, để tránh sự tùy tiện trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người lao động phải phái cử đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã đó Việc cử đại diện cho người lao động phải được quá nửa số người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ kí, trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô lớn, có nhiều đơn

vị trực thuộc thì đại diện cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa

số người được cử đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành

Đối với người lao động, trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động thì người lao động phải được xem như là chủ nợ không có bảo đảm và có các quyền, nghĩa vụ như chủ nợ không bảo đảm Nhưng Luật Phá sản hiện hành lại quy định người lao động không được tự nộp đơn mà phải phái cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn để nộp đơn Thủ tục cử người đại diện cho người lao động được quy định trong Luật Phá sản rất phức tạp và khó thực thi Do vậy, Luật Phá sản hiện hành

vô hình chung đã hạn chế vầ gần như vô hiệu hóa quyền nộp đơn của người lao động trong doanh nghiệp

c, Chủ doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã

Theo Luật phá sản năm 2004, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cho Chủ nợ; Người lao động; Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã, đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, Cổ đông công ty cổ phần, Thành viên hợp danh công ty hợp danh; Doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản thì có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Như vậy , so với Luật phá sản doanh nghiệp 1993, Luật Phá sản năm 2004

đã mở rộng thành phần ( đối tượng) nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ngoài

chủ nợ, người lao động, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đại diện hợp pháp của

Trang 7

họ còn có chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước theo điều 16 , cổ đông Công ty cổ phần theo điều 17 và thành viên hợp danh của Công ty hợp danh

(1) Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu DN Nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh.

Quy định này là điểm mới của Luật Phá sản 2004 so với Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 Điều này xuất phát từ thực tiễn áp dụng Luật Phá sản doanh nghiệp năm1993 cho thấy không ít những doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng các chủ nợ và đại diện công đoàn hay đại diện người lao động (Nơi chưa có

tổ chức công đoàn) không nộp đơn yêu cầu và bản thân doanh nghiệp mắc nợ không đưa đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nên Tòa án không có cơ sở tiến hành thủ tục phá sản đối với những doanh nghiệp đó Hệ quả là nhiều doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ, tình trạng tài chính kiệt quệ, đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động cầm chừng, thoi thóp nhưng không có con đường kết thúc doanh nghiệp về mặt pháp lí

Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ doanh nghiệp nhà nước:

Đại diện chủ sở hữu DN Nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN Nhà nước khi thấy DN Nhà nước đó lâm vào tình trạng phá sản mà

DN không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 16)

 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các cổ đông công ty cổ phần: Theo Điều 17 Luật phá sản năm 2004 quy định: “Khi nhận thấy công ty cổ

phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông Trường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành được đại hội

cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó”.

Trang 8

 Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành viên hợp danh:

Theo Điều 18 Luật phá sản 2004: “Khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào

tình trạng phá sản thì thành viên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật Doanh nghiệp thì công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có thành viên góp hợp danh và thành viên góp vốn Do đó,

theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật phá sản thì chỉ có thành viên hợp danh

của công ty hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công

ty hợp danh đó

(2) Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác

xã lâm vào tình trạng phá sản:

Điều 15 của Luật phá sản năm 2004 quy định rằng “ Khi nhận thấy doanh

nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó” Người nộp đơn phải là người đại

diện hợp pháp ( đại diện theo pháp luật hoặc đại diện ủy quyền)

Ngoài những đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản như trên, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lý vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp mà không phải là chủ sở hữu nhà nước của doangh nghiệp có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết để họ xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ( theo Điều

20 – Luật phá sản năm 2004)

3, Các giấy tờ mà chủ nợ, đại diện người lao động, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp kèm theo Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và ý nghĩa của từng loại giấy tờ đó.

a) Các giấy tờ mà chủ nợ, đại diện người lao động phải nộp kèm theo và ý nghĩa của từng loại giấy tờ

* Chủ nợ:

Trang 9

Không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà chỉ có chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Các chủ nợ có bảo đảm không có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp bởi lẻ số nợ của

họ đã được bảo đảm vì thế quyền lợi về tài sản của họ không bị ảnh hưởng

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ (theo Điều 13 Luật PS) phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của người làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;

đ) Quá trình đòi nợ;

e) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

* Đại diện công đoàn hoặc người đại diện lao động:

Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

đó (Điều 14 Luật Phá sản)

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của đại diện người lao động phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn;

b) Tên, địa chỉ của người làm đơn;

c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

d) Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được cho người lao động;

Trang 10

đ) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Sau khi nộp đơn, đại diện cho người lao động hoặc đại diện công đoàn được coi là chủ nợ.

Trong Điều 13 Luật PS 2004, các nhà làm luật không còn quy định về những giấy tờ kèm theo khi chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nhưng đã bổ

sung vào trong đơn yêu cầu điểm mới đó là “Quá trình đòi nợ” Như vậy nghĩa là

ngay trong đơn yêu cầu của mình thì chủ nợ đã phải có quá trình đòi nợ (Gồm văn bản đòi nợ và tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó; văn bản khất nợ của DN, HTX…), còn các tài liệu giấy tờ chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải chứng minh khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Điều 14 LPS 2004 quy định về Quyền nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản của người lao động cũng đã bổ sung thêm vào trong đơn yêu

cầu điểm mới đó là “Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ

khác mà DN, HTX không trả được cho người lao động” Đây sẽ là cơ sở để chứng

minh người lao động đang bị nợ bao nhiêu, từ thời gian nào Như vậy trong LPS

2004 đã quy định những giấy tờ cần thiết mà chủ nợ và người lao động (những người có quyền nộp đơn) cần phải có ngay trong đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Do đó, trong điều luật không quy định loại giấy tờ kèm theo đơn Ngoài ra, trong quá trình mở thủ tục mà tòa án xét thấy thiếu thông tin, tài liệu liên quan thì các bên có nghĩa vụ cung cấp kịp thời theo khoản 1 Điều 19 Luật phá sản 2004 như

sau: “Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản quy định tại các điều 13, 14, 15,

16, 17 và 18 của Luật này có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu do pháp luật quy định và theo yêu cầu của Toà án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.”

b) Các giấy tờ mà doanh nghiệp mắc nợ phái nộp kèm theo và ý nghĩa của từng loại giấy tờ

Theo Khoản 4 Điều 15 quy định về Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì đơn yêu cầu mở thủ

tục phá sản phải kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau đây:

a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm

Ngày đăng: 25/03/2019, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w