1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi – thực trạng và các biện pháp trợ giúp

16 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 39,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung: “Trẻ em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gi

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trẻ em, đối tượng cần được quan tâm đặc biệt do sự non nớt về mặt thể chất và tinh thần, chúng cần được sự bảo vệ của những người trong gia đình và xã hội Bên cạnh đó trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt còn có nhiều thiệt thòi hơn vì chúng có khuyết tật về mặt thể chất

và tinh thần so với trẻ em cùng lứa tuổi khác, chính vì điều đó chúng cần được sự quan tâm đặc biệt hơn

Bài viết xin được tìm hiểu khái quát nhất về Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi – Thực

trạng và các biện pháp trợ giúp.

NỘI DUNG

I Những quy định chung của pháp luật

1 Khái niệm trẻ em

- Theo công ước về quyền trẻ em : “ trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn”

- Pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005 của Việt Nam :

“trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Theo BLDS 2005 thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi…

- Theo pháp luật liên bang của Hoa kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”

Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ

em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trể hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em

Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em

Trang 2

- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành.

- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý

2 Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

2.1 Những quy định của pháp luật

Pháp luật quốc tế

Cơ sở pháp lý: Điều 20 và 21 Công ước quốc tế về quyền trẻ em

Nội dung: “Trẻ em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia

đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” (k1 Đ 20 Công ước về quyền trẻ em)

Nguyên nhân khiến trẻ em mồ côi, không nơi nương, bị bỏ rơi tựa là do cha mẹ chết trong tai nạn, bệnh tật, chết trong thiên tai, chiến tranh hay mất tích trong các vụ thiên tai, lũ lụt, hay cha mẹ vì lý do nào đó không nuôi dưỡng chúng, vứt bỏ chúng, hoặc bị thất lạc… Theo điều 20 qui định, “Các nhà nước thành viên tùy theo luật pháp của quốc gia mình đảm bảo việc chăm sóc bảo vệ cho những trẻ em như vậy.”

Tại khoản 3 của điều 20 cũng đưa ra các phương thức giúp đỡ đối với nhóm trẻ em này:

“Việc chăm sóc trẻ em bao gồm các hình thức trong đó có hình thức nuôi dưỡng kafalah theo luật pháp của đạo Hồi, nhận làm con nuôi hoặc nếu cần thiết đưa vào các trung tâm chăm sóc trẻ em thích hợp Trong quá trình xem xét lựa chọn phương án, cần phải tính đến nguyện vọng được giáo dục, dạy dỗ lien tục và cơ sở nền tảng về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và dân tộc của trẻ em”

Một trong những phương thức giúp đỡ hữu hiệu đối với nhóm trẻ em này việc cho nhận con nuôi và điều đó đã được Điều 21 của Công ước đã điều chỉnh bằng cách quy định thẩm quyền cho phép nhận con nuôi, điều kiện mà người nhận con nuôi phải tuân thủ…

Trang 3

Pháp luật Việt Nam

Cơ sở pháp lý: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được quy định tại điều 51 Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, điều 65 Hiến pháp 1992

Nội Dung:

Tại điều 51 Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em nói về việc giáo dục, chăm sóc nhóm trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa với nội dung như sau:

1 Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Uỷ ban nhân dân địa phương giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập

2 Nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em

bị bỏ rơi

3 Nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi Quy định trên đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nêu trên Luật đã quy định cụ thể cơ quan có trách nhiệm trong việc giúp đỡ trẻ em tìm nơi nương tựa Bên cạnh đó, Nhà nước còn có các chính sách trợ giúp các cơ sở chăm sóc trẻ em nhằm mục đích bảo đảm cho nhóm trẻ em này được chăm sóc, giáo dục với những điều kiện tốt nhất Như vậy Việt Nam đã nội luật hóa các qui định pháp luật của luật quốc tế

2.2 Định nghĩa, đặc điểm tâm lý của trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

a Định nghĩa:

Từ những quy định của pháp luật, ta có định nghĩa về trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi như sau: Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi là những trường hợp trẻ không có được sự chăm sóc,

Trang 4

- Trẻ mất cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mất mẹ hoặc cha, nhưng cha (mẹ) mất tích, hoặc không đủ năng lực pháp luật để nuôi dưỡng (bị tâm thần, đang trong thời kỳ chấp hành án ) theo quy định của pháp luật

- Sau khi sinh con, cha mẹ bỏ con không chăm sóc, nuôi dưỡng

- Cha mẹ, người giám hộ bỏ mặc trẻ tự sinh sống, không quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, để trẻ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt

b Đặc điểm tâm sinh lý

- Niềm tin bị hủy hoại

- Hay giận dữ

- Không nói thật

3 Những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ, chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em

bị bỏ rơi

Tại Điều 51 Luật giáo dục và bảo vệ chăm sóc trẻ em quy định,

“Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Uỷ ban nhân dân địa phương giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập”.Tinh thần của khoản 1 điều này được thể hiện rõ trong các Luật chuyên ngành, đơn cử như Luật Hôn nhân gia đình dành hẳn chương 8 để quy định về nuôi con nuôi, các thủ tục pháp lý, quyền và nghĩa vụ cụ thể của cha mẹ nuôi Quy định trong Bộ luật Hôn nhân gia đình tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi cho các cá nhân, cặp vợ chồng nuôi con nuôi mà trong số đó trẻ

mồ côi chiếm tỷ lệ cao

Tại khoản 2 điều này quy định “Nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi.”Ta thấy việc khuyến khích này thể hiện trong điều

36 nghị định 68/2002 của chính phủ quy định chi tiết về quan hệ Hôn nhân gia đình có yếu

tố nước ngoài và điều 9 nghị định 69/2006 của Chính phủ sửa đổi một số điều trong nghị

Trang 5

định 68 Các điều khoản của nghị định này quy định về đối tượng trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em sống tại các cơ sở nuôi dưỡng thành lập hợp pháp tại Việt Nam trong đó

có trẻ em mồ côi.Nếu người nước ngoài nhận trẻ em mồ côi làm con nuôi thì được khuyến khích hơn so với trẻ em sống cùng cha mẹ, thủ tục pháp lý nhận trẻ em mồ côi cũng đơn giản hơn

“ Nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi.”.Quy định tại khoản 3 này được thực thi bằng các chế độ trợ cấp xã hội Trong quyết định số 38/2004/QĐ-TTg (ngày 17/3/2004) của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi đã quy định các mức trợ cấp cụ thể như sau:

- Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại cộng đồng mức trợ cấp là:120.000 - 180.000 - 240.000 đồng/tháng/trẻ tương ứng với trường hợp từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ

18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS

- Trẻ mồ côi, bị bỏ rơi sống tại nhà xã hội chỉ có mức trợ cấp là 240.000đồng/tháng/trẻ; trẻ sống tại cơ sở bảo trợ xã hội mức trợ cấp là 240.000 - 300.000đồng/tháng/trẻ (từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS)

Với các gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng mức trợ cấp lần lượt là 240.000 300.000 -360.000đ/tháng/ trẻ tương ứng với trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên; dưới 18 tháng tuổi và từ 18 tháng tuổi trở lên bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS; dưới 18 tháng tuổi bị tàn tật, bị nhiễm HIV/AIDS

Trang 6

- Ngoài các chế độ trợ cấp hàng tháng, trẻ mồ côi còn được cấp thẻ bảo hiểm y tế; đang học văn hóa, học nghề thì được miễn, giảm học phí, được cấp sách vở, đồ dùng học tập theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó trong quyết định số 65/2005/QĐ-TTg (ngày 25/3/2005) của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010 trong đó có trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi còn quy định như sau:

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc, nuôi dưỡng tại gia đình, gia đình thay thế hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập

Các bộ, các ngành có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ đối với cơ sở trợ giúp trẻ em trong việc giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em, phục hồi sức khoẻ, tinh thần và giáo dục đạo đức cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Việc quy định mức trơ cấp xã hội cũng như các kế hoạch hỗ trợ đã phần nào giúp trẻ em

mồ côi vượt qua những khó khăn, tuy nhiên mức trợ cấp trên là quá thấp để đảm bảo cho trẻ phát triển một cách tốt nhất.Hơn nữa, đối tượng trẻ em mồ côi được hưởng trợ cấp mà Luật hướng tới là các trẻ mồ côi cà cha lẫn mẹ Thiết nghĩ các trẻ em chỉ mồ côi mẹ hoặc cha nếu có hoàn cảnh thật sự khó khăn cũng cần được xem xét để hưởng trợ cấp

II Thực trạng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi ở Việt Nam

 Các số liệu:

Trên cả nước trong năm 2000 có 46443 trẻ em mồ côi được chăm sóc trên tổng số

124444 trẻ, chiếm tỷ lệ 37.32%

Trong năm 2003 có 90524 trẻ em mồ côi được chăm sóc trên tổng số 153800 trẻ, chiếm

tỷ lệ58.86 %

Trang 7

Và trong năm 2004 có 88516 trẻ em mồ côi được chăm sóc trên tổng số trẻ, chiếm tỷ lệ 61.67 %

Trong năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh có 1658 trẻ em trên tổng số 10010 được chăm sóc, chiếm tỷ lệ 16.56 %

Năm 2003 là 4114 trẻ trên tổng số 8000 ,chiếm tỷ lệ 51.43%

Và số liệu từ năm gần đây nhất, năm 2004 là 3875 trẻ trên tổng số 4277 , đạt tỷ lệ 110.37%

Từ những số liệu trên, ta thấy rằng mặc dù trên cả nước có sự gia tăng về số lượng trẻ

em mồ côi qua các năm thế nhưng tỷ lệ trẻ được chăm sóc tăng lên đáng kể Đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh thì công tác chăm sóc trẻ em mồ côi được thực hiện khá tốt, tỷ lệ trẻ được chăm sóc từ năm 2000 đến 2003, từ 2003 đến 2004 đều tăng hơn gấp đôi

Tỷ lệ trẻ em mồ côi được hưởng sự chăm sóc giữa các tỉnh thành không đồng đều, nều như các thành phố lớn tỷ lệ này khá tốt ( năm 2004, Hải Phòng đạt tỷ lệ 200.30 %, Đà Nẵng

là 98.54 %) thì ở các tỉnh vùng sâu vùng xa thì tỷ lệ này là rất thấp ( năm 2004, Tây Ninh là 7.86 %, Bạc Liêu là 0 %, Hưng Yên 15.52%)

Theo số liệu được Bộ LĐ-TB và XH công bố gần đây thì năm 2008 số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 1.641.656 em, chiếm 6,55% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi

Kết quả hoạt động của các ngành, các cấp trong thời gian qua được ghi nhận như sau: Đến cuối năm 2008 75% số trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc, dưới nhiều hình thức Có 6.429 trẻ em lang thang hồi gia được hỗ trợ giải quyết khó khăn; 4.673 trẻ em lang thang trở về gia đình được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; 5.967 trẻ

em lang thang được hỗ trợ đi học

Trang 8

 Bên cạnh những kết quả khích lệ nêu trên công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em cũng còn nhiều hạn chế: Thiếu các số liệu đáng tin cậy liên quan đến trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Thiếu các quy trình tư pháp thân thiện với trẻ em Vấn đề truyền thông giáo dục, việc phổ biến kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em còn thiếu chiều sâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Trẻ em chưa có nhiều kỹ năng để tự bảo vệ mình, đặc biệt các khuyến cáo của Nhà nước chậm đến từng gia đình, trẻ em Kỹ năng làm việc với trẻ em của đội ngũ cán bộ làm việc liên quan tới trẻ em, đặc biệt trẻ em vi phạm pháp luật còn hạn chế

 Nguyên do của những hạn chế trên được nhiều cán bộ có trách nhệm và chuyên gia đánh giá gồm:

Theo báo cáo trình bày tại cuộc họp năm 2008 của Thứ trưởng Phùng Ngọc Hùng thì các hạn chế trên một phần là do Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn được giao trong bối cảnh tình hình trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ

em có khó khăn, thách thức Kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục biến động nhanh và phức tạp hơn do khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới và những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế, lạm phát tăng cao, thiên tai nặng nề, ảnh hưởng đến an sinh xã hội, trong

đó trẻ em là đối tượng dễ bị tác động và để lại hậu quả lâu dài nhất

Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người thấp, tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại ở diện rộng và còn khoảng cách đáng kể giữa các vùng miền đang ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của trẻ em Mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã làm gia tăng hiện tượng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt như: trẻ em lang thang, trẻ em sử dụng ma tuý, trẻ em bị lạm dụng

và xâm hại, trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em

bị tai nạn thương tích, trẻ em làm trái pháp luật…

Nhận định sâu hơn một số chuyên gia cho là: Hệ thống luật pháp, chính sách và khung pháp lý để bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ, đồng bộ Chế tài xử phạt các hành vi vi

Trang 9

phạm quyền trẻ em chưa đủ mạnh Một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị buôn bán, trẻ

em sống trong các hộ nghèo Thiếu các số liệu đáng tin cậy liên quan đến trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Thiếu các quy trình tư pháp thân thiện với trẻ em

III Các biện pháp trợ giúp để bảo vệ, chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

 Kiến nghị

Pháp luật Việt Nam trong những năm gần đây đã có những đổi mới tích cực trong đường lối, chính sách nhằm chăm sóc và bảo vệ trẻ em Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em tại Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế nhất định Dựa trên việc xem xét các quy phạm pháp luật và phân tích tình hình thực tiễn về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại Việt Nam, nhóm tác giả chúng tôi xin đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên

Thứ nhất: Hệ thống pháp luật phải ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Cụ thể khái niệm “Trẻ em” và “Người chưa thành niên” phải được quy định thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam Nghĩa là phải mở rộng độ tuổi của trẻ em từ 0 đến 18 tuổi trong Luật Bảo Vệ, chăm sóc và Bảo vệ trẻ em

Vấn đề nuôi con: Nhà nước cần xem xét để có những quy định bổ sung nhằm khắc phục những mặt bất cập của những văn bản hiện hành về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như: giấy tờ xin con nuôi ( xem xét lại thời hạn 6 tháng đối với một số giấy tờ trong

hồ sơ xin nhận con nuôi), thơi hạn tạm trú trong thời gian làm thủ tục xin con nuôi của người nước ngoài, tình hình báo cáo của cha mẹ nuôi trong thời gian con nuôi chưa đến 18 tuổi

Trang 10

Ký kết hiệp định song phương về nuôi con nuôi đối với những nước có số lượng người nước ngoài nhận nhiều trẻ em Việt Nam làm con nuôi; ký gia nhập, phê chuẩn Công ước

La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác giữa các nước về nuôi con nuôi nước ngoài nhằm tạo cơ chế pháp lý Quốc tế để đảm bảo quyền lợi của trẻ em ngay ở nước ngoài, đồng thời góp phần hoàn chỉnh các quy định của pháp luật quốc gia trong lĩnh vực này

Thứ hai: Bộ giáo dục và đào tạo phải có trách nhiệm nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện hơn nữa các chương trình giáo dục, đặc biệt là chương trình giáo dục tiểu học cho phù hợp với sự phát triển cùa trẻ em; cần ban hành văn bản quy định cụ thể về dạy thêm và học thêm đối với học sinh tiểu học Bởi vì hiện nay tình trạng về chứng rối loạn tâm thần ở lứa tuổi học sinh đang có chiều hướng gia tăng và kéo theo các vấn đề tiêu cực khác

Thứ ba: Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm phổ cập đồng đều trong các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng đắn về quyền trẻ em thông qua việc huy động sự tham gia cùa các phương tiện truyền thông đại chúng, tài liệu, tập huấn, hội nghị, đảm bảo các quyền lợi, các nhu cầu chính đáng của trẻ em, làm cho mọi người biết đến hiểu biết thì tìm hiểu phải được; xóa bỏ dần các tư tưởng lạc hậu, phong kiến còn tồn tại trong xã hội có tác động xấu đến thực hiện quyền trẻ em

Thứ tư: Tiếp tục tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các gia đình, các thành viên của xã hội về công tác chăm sóc, giáo dục trẻ Tuyên dương những trẻ em chăm ngoan, vượt khó học giỏi, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ tăng cường công tác vận động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể, các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước, các tổ chức phi Chính phủ tạo điều kiện về vật chất, tinh thần chăm lo cho trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Thứ năm, để bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất trước hết phải cho các em biết mình có những quyền gì? cách thức bảo vệ như thế nào? Không có gì tốt nhất bằng cách các em tự bảo vệ chính bản thân các em Do đó để trẻ em biết mình có những quyền gì? Cách bảo vệ

Ngày đăng: 25/03/2019, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w