- Trong quan hệ hợp đồng đại lý, bên đại lý, bên đại lý không phải là chủ sở hữu đối với hàng hóa mà chỉ là người được bên giao đại lý ủy thác việc định đoạt hàng hóa.. Năng lực pháp luậ
Trang 1ĐỀ BÀI
Tháng 11 năm 2011, giám đốc công ty cổ phần A ký hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa với giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên B Theo hợp đồng, công ty A phải thực hiện việc bán sữa chua do công ty B sản xuất với giá thành sản phẩm do công ty B ấn định Thời hạn đại lý là 3 năm từ ngày hợp đồng
có hiệu lực
1 Xác định các điều kiện chủ thể để hợp đồng đại lý có hiệu lực (Nêu rõ ngành nghề kinh doanh mà công ty A và công ty B phải đăng ký)
2 Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A Thỏa thuận này của các bên có phù hợp quy định của pháp luật về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa không? Vì sao?
3 Một khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty A bị ngộ độc Công ty A hay công ty B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng?
4 Tháng 3 năm 2013, công ty A nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua của công ty C Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công ty
B và công ty C không? Vì sao?
Theo đề nghị của công ty C, công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B Em hãy nhận xét về hành
vi nói trên của công ty A
Trang 2BÀI LÀM
1 Khái niệm
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Điều 166 LTM 2005)
Theo quy định tại Điều 388 BLDS 2005, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Từ những định nghĩa trên có thể đưa ra khái niệm hợp đồng đại lý mua bán
hàng hóa (HĐ ĐLMBHH) như sau: “HĐ ĐLMBHH là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên (bên đại lý) nhân danh chính mình để thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho bên kia (bên giao đại lý) để hưởng thù lao”.
HĐ ĐLMBHH có những đặc điểm sau:
- Chủ thể của HĐ ĐLMBHH phải là thương nhân
- Bên đại lý phải dung chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý
- Trong quan hệ hợp đồng đại lý, bên đại lý, bên đại lý không phải là chủ
sở hữu đối với hàng hóa mà chỉ là người được bên giao đại lý ủy thác việc định đoạt hàng hóa
- Để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý vừa phải thực hiện các hành vi pháp lý, vừa phải thực hiện các hành vi thực tế
- Hợp đồng đại lý là một dạng của hợp đồng dịch vụ
2 Phân loại HĐ ĐLMBHH
HĐ ĐLMBHH rất phong phú, đa dạng trong thực tế Căn cứ theo các hình thức đại lý thì có bao nhiêu hình thức thì có bấy nhiêu loại HĐ ĐLMBHH Tức là
HĐ ĐLMBHH sẽ có 4 loại sau:
Trang 3- Hợp đồng đại lý bao tiêu.
- Hợp đồng đại lý độc quyền
- Hợp đồng tổng đại lý mua bán hàng hóa
- Các hợp đồng đại mua bán hàng hóa khác do các bên thỏa thuận
Các vấn đề về quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được quy định cụ thể tại Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 LTM 2005
II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1 Xác định các điều kiện chủ thể để hợp đồng đại lý có hiệu lực (Nêu rõ ngành nghề kinh doanh mà công ty A và công ty B phải đăng ký).
Luật Thương mại 2005 không quy định các điều kiện để một hợp động được giao kết giữa bên đại lý và bên giao đại lý có hiệu lực trên thực tế Do đó, để xem xét điều kiện có hiệu lực của HĐ ĐLMBHH, phải áp dụng các quy định trong BLDS 2005 Nhận thấy, HĐ là một dạng của giao dịch dân sự nên điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự cũng chính là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Điều 122 BLDS 2005 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
“Điều 122.Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
c Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực sủa giao dịch trong
trường hợp pháp luật có quy định”.
Mặt khác, A là công ty cổ phần, B là công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, vì vậy cả 2 công ty này đều có tư cách pháp nhân và có đăng kí kinh doanh
Trang 4Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 86 Bộ luật Dân sự 2005 về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân:
“1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân
có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.”
Như vậy, trước tiên để hợp đồng đại lý của công ty cổ phần A với công ty trách nhiệm hữu hạn B có hiệu lực thì phải thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Đồng thời, Điều 167 Luật Thương mại 2005 có quy định:
“1 Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hặc là thương nhân ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ.
2 Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để là đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận ủy quyền cung ứng dịch vụ.”
Căn cứ vào quy định trên cho thấy, cũng như quy định của Bộ luật Dân sự
2005, yêu cầu thiết yếu đầu tiên là cả bên giao đại lý – công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên B và bên đại lý – công ty cổ phần A đều là thương nhân, nghĩa là
tổ chức có tư cách pháp nhân và có đăng ký kinh doanh
Về vấn đề có tư cách pháp nhân đã được giải quyết ở trên, còn vấn đề đặt ra
ở đây là việc công ty A và công ty B ở đây là đăng kí kinh doanh như thế nào?
Nhận thấy, theo quy định của pháp luật không quy định rằng công ty A – là bên đại lý có cần đăng ký kinh doanh phù hợp với ngành nghề kinh doanh mà mình làm đại lý hay không? Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm, xét về bản chất, bên đại lý thực chất chỉ là làm công việc đại lý để hưởng thù lao chứ không phải là kinh doanh cung cấp hàng hóa Mặt khác, sữa chua không phải là loại hàng hóa, dịch vụ nằm trong nhóm hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện, không
Trang 5thuộc loại hàng hóa cần phải đăng ký kinh doanh đại lý theo loại hàng hóa theo quy định của pháp luật Vì vậy, bên công ty A chỉ cần đăng kí kinh doanh ngành nghề đại lý là đủ Đối với công ty B, vì đây là bên giao đại lý, là chủ sơ hữu của mặt hàng cần kinh doanh, là bên chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa nên công
ty B đương nhiên phải đăng kí kinh doanh mặt hàng “chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa” 1
Ngoài ra, công ty B còn phải có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản phẩm sữa chua của mình trước khi tung ra thị trường và kí kết HĐ ĐLMBHH với công ty A
2 Các bên có thỏa thuận trong hợp đồng là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A Thỏa thuận này của các bên có phù hợp quy định của pháp luật về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa không? Vì sao?
Theo ý kiến của nhóm chúng em, trong hợp đồng, các bên thỏa thuận quyền
sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời điểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A, thỏa thuận này là không phù hợp với quy định của pháp luật về hoạt động đại lý mua bán hàng hóa
Như đã phân tích ở phần 1 thì bản chất của hoạt động đại lí thương mại là việc bên giao đại lý thông qua thương nhân trung gian là bên đại lý, những người này mang danh nghĩa chính mình giao kết và thực hiện hợp đồng với bên chủ thể thứ ba vì lợi ích của bên giao đại lý để hưởng thù lao
Đối với vấn đề quyền dở hữu đối với hàng hóa mà bên giao đại lí chuyển
cho bên đại lý, Căn cứ vào Điều 170 LTM 2005 quy định: “Bên giao đại lý là chủ
sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền giao cho bên đại lý”.
Theo đó, trong HĐ ĐLMBHH thì bên đại lý chỉ giao hàng hoặc tiền cho bên đại lý mà không chuyển quyền sở hữu hàng hóa hay tiền cho bên đại lý để bên đại
Trang 6lý thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Nói cách khác, bên đại lý chỉ có quyền
chiếm hữu đối với hàng hóa Không những thế, LTM 2005 còn quy định bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Điều 166), tức là bên đại lý chỉ có vai trò của một người
làm dịch vụ trung gian nối liền sự liên kết cả bên giao đại lý với khách hàng, đại lý chỉ đứng ra bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thay cho bên giao đại lý Căn cứ theo quy định của BLDS, với tư cách là chủ sở hữu hàng hóa, bên giao đại lý được toàn quyền định đoạt đối với hàng hóa của mình cũng như phải chịu rủi ro đối với hàng hóa cũng như gánh chịu mọi trách nhiệm đối với khách hàng về chất lượng của hàng hóa trừ trường hợp hàng hóa hư hỏng do lỗi của bên đại lý Đồng thời, bên giao đại lý có quyền ấn định giá bán hàng hóa, bên đại lý tuyệt đối không được quy định các điều kiện về mua bán, giá cả… trái với các quy định của bên giao đại
lý trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng
Vì các lí do trên, việc công ty A và công ty B thỏa thuận quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao cho công ty A từ thời diểm hàng hóa được giao đến kho hàng của công ty A là không phù hợp với quy định của pháp luật Chỉ có bên giao đại lý là công ty B mới là chủ sở hữu đối với hàng hóa mà không thể chuyển giao quyền sở hữu cho bên đại lý là công ty A
Sở dĩ các nhà làm luật quy định vấn đề này là bởi nếu công ty B thỏa thuận chuyển quyền sở hữu hàng cho công ty A điều đó đồng nghĩa với việc công ty A sẽ
có quyền định đoạt đối với hàng hóa của công ty B và phải gánh chịu toàn bộ rủi ro cũng như phải chịu trách nhiệm đối với khách hàng về chất lượng của hàng hóa Mặt khác, trong HĐ ĐLMBHH, bên giao đại lý có quyền ấn định giá bán hàng hóa và bên đại lý có nghĩa vụ phải bán hàng hóa theo đúng giá mà bên giao đại lý
đã ấn định (khoản 1 Điều 175 LTM 2005), có trách nhiệm tuân thủ những chỉ dẫn của bên giao đại lý, chịu sự giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tình hình hoạt
Trang 7động với bên giao đại lý (khoản 6 Điều 175 LTM 2005) Thế nhưng nếu như công
ty B chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho công ty A, nghĩa là có toàn quyền quyết định đối với hàng hóa thì công ty A có quyền không thực hiện theo giá hàng hóa
mà công ty B đã ấn định và không phải báo cáo tình tình hoạt động của mình, không pahri tuân thủ theo những chỉ dẫn mà công ty B đã đưa ra Như vậy sẽ tạo ra
sự không thống nhất giữa quy định của BLDS về quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu của mình với đặc điểm của hoạt động đại lý mua bán hàng hóa
Với những phân tích trên, thì việc công ty A và công ty B thỏa thuận chuyển quyền sở hữu hàng hóa khi hàng hóa được chuyển tới kho hàng của công ty A là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật Vì hợp đồng giữa công ty A
và công ty B là hợp đồng “đại lý mua bán hàng hóa” chứ không phải là hợp đồng mua bán nên quyền sở hữu đối với hàng hóa là sản phẩm sữa chua của công ty B vẫn hoàn toàn thuộc về công ty B công ty A chỉ có trách nhiệm bán hàng hóa là sản phẩm sữa chua ra thị trường theo đúng giá mà công ty B ấn định
3 Một khách hàng sau khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty A bị ngộ độc Công ty A hay Công ty B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với khách hàng?
Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với mặt hàng sữa chua, chúng ta phải xét hai trường hợp:
Trường hợp 1, nếu trong hợp đồng có sự thỏa thuận có sự thỏa thuận trước
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự cố xảy ra:
Pháp luật luôn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên khi giao kết hợp đồng Nếu 2 bên thỏa thuận việc chuyển quyền sở hữu đối với mặt hàng sữa chua từ công
ty B sang cho công ty A, tức là về mặt bản chất thì hợp đồng giao kết giữa công ty
A và công ty B sẽ là hợp đồng mua bán hàng hàng hóa (như đã phân tích trên ý 2) thì công ty A sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tư các là chủ sở hữu đối với hàng hóa của mình Nếu 2 bên không có sự thỏa thuận về việc chuyển
Trang 8quyền sở hữu mà chỉ thỏa thuận về việc khi công ty B giao hàng cho công ty A, thì
kể từ thời điểm công ty A nhận hàng, khi có sự cố xảy ra thì việc khách hàng bị ngộ độc do mua sữa chua tại cửa hàng thuộc công ty A sẽ được giải quyết theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai bên khi giao kết
Trường hợp hai, nếu như hai bên không có sự thỏa thuận trước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có sự cố xảy ra:
Theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì đối với các cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm đối với hàng hóa, sản phẩm và dịch
vụ do mình sản xuất Như vậy, trong trường hợp này, khi người tiêu dung mua sản phẩm sữa chua của công ty B tại công ty A mà bị ngộ độc thì trách nhiệm sẽ thuộc
về nhà sản xuất
Tuy nhiên, chúng ta còn cần phải xét đến việc hàng hóa xảy ra sự cố (sữa chua bị hỏng gây ngộ độc) là do nguyên nhân gì
Nếu trong trường hợp bất khả kháng, tức là khi công ty B giao hàng cho công ty A bảo quản thì trong quá trình bảo quản hàng hóa đã xảy ra sự cố ngoài ý muốn của công ty A thì rủi ro sẽ thuộc bên nào? Căn cứ vào khoản 2 Điều 173
LTM 2005 quy định về nghĩa vụ của bên giao đại lý: “Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ” thì công ty B - bên giao đại lý sẽ phải có trách nhiệm về chất lượng
hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa bởi lúc này công ty B vẫn đang là chủ sở hữu đối với hàng hóa của mình theo như nhóm đã phân tích ở phần 2
Ngược lại, sau khi 2 bên kí kết HĐ ĐLMBH, công ty B chuyển sản phẩm (sữa chua) cho công ty A và công ty A có trách nhiệm bán cũng như bảo quản tốt mặt hàng đã nhận Theo khoản 5 Điều 175 quy định về nghĩa vụ của bên đại lý:
“Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giao đối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi
Trang 9do mình gây ra”, nếu chứng minh được rằng nguyên nhân khách hàng bị ngộ độc
khi mua sữa chua tại cửa hàng của công ty A là do sự bảo quản không đúng tiêu chuẩn của công ty A (quá hạn sử dụng, để trong nhiệt độ quá cao,…), thì công ty A
sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý cùng bên giao đại lý là công ty B
Trong trường hợp không chứng minh được bên đại lý – công ty A có lỗi trong việc bảo quản hàng hóa (sữa chua), mà lỗi hoàn toàn do bên giao đại lý là công ty B thì công ty B sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường thiệt hại với khách hàng
4 Tháng 3 năm 2013, công ty A nhận được đề nghị giao kết hợp đồng đại lý mua bán sữa chua của công ty C Công ty A có thể đồng thời là đại lý của công
ty B và công ty C không? Vì sao?
Khi xem xét đến vấn đề công ty A có thể đồng thời làm đại lý cho công ty B
và công ty C không, chúng ta phải xem xét hợp đồng giữa công ty A và công ty B
có thỏa thuận hay không vấn đề này
- Công ty A không thể đồng thời làm đại lý cho công ty B và công ty C nếu hợp đồng đại lý ký giữa công ty A và B có thỏa thuận về việc công ty A chỉ được làm đại lý cho mình công ty B
- Công ty A có thể đồng thời là đại lý cho công ty B và công ty C nếu hợp đồng đại lý ký giữa công ty A và B không có thỏa thuận về việc công ty A chỉ được làm đại lý cho mình công ty B
Khoản 1 Điều 174 LTM năm 2005 quy định: “Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có các quyền sau đây:
1.Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 175 của Luật này”
Khoản 7 Điều 175 quy định:
Trang 10“Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó” Ở trường hợp này, đối
tượng của hợp đồng đại lý là sữa chua - không thuộc loại hàng hóa mà bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý theo quy định của pháp luật
Như vậy, công ty A hoàn toàn có thể làm đại lý cho công ty B và công ty C Tuy nhiên, theo như đầu bài thì công ty A ký HĐ ĐLMBHH với công ty B, công ty A phải thực hiện việc bán sữa chua do công ty B sản xuất với giá thành sản phẩm do công ty B ấn định Như vậy có nghĩa là, công ty A có thể là đại lý hoa hồng hoặc đại lý độc quyền và tổng đại lý chứ không thể là đại lý bao tiêu Chính
vì vậy, chúng ta cần phải xem xem công ty A kí HĐ ĐLMBHH dưới hình thức là hợp đồng đại lý hoa hồng, hợp đồng đại lý độc quyền hay hợp đồng tổng đại lý để xác định công ty A có thể đồng thời làm đại lý cho cả công ty B lẫn công ty C hay không
Xét thấy cả LTM 2005 và các văn bản liên quan không quy định rằng bên đại lý trong 3 hình thức nêu trên bắt buộc chỉ được làm đại lý duy nhất cho bên giao đại lý, do đó mà công ty A có thể làm đại lý cho cả công ty B và công ty C
Theo đề nghị của công ty C, công ty A quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý với công ty B và yêu cầu công ty B bồi thường 50 triệu cho khoảng thời gian công ty A đã làm đại lý cho công ty B Em hãy nhận xét về hành vi nói trên của công ty A
LTM 2005 không quy định tiêng về các trường hợp chấm dứt HĐ ĐLMBHH Do đó, HĐ ĐLMBHH chấm dứt trong các trường hợp như hợp đồng dân sự theo quy định tại Điều 424 BLDS 2005 như sau: hợp đồng đã được hoàn thành; theo thỏa thuận của các bên; cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc