MỞ ĐẦU1Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU21.1. Khái quát chung về nhãn hiệu21.2. Chức năng của nhãn hiệu41.3. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu51.4. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu6Chương 2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 200582.1. Khái niệm bảo hộ NHNT82.2. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ92.3. Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu102.4. Tiêu chí đánh giá NHNT112.4.1. Căn cứ xác lập quyền132.4.2. Cơ chế bảo hộ NHNT132.5. Thời gian bảo hộ142.6 Các quy định về hành vi xâm phạm bảo hộ NHNT15Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG163.1. Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam163.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ NHNT19KẾT LUẬN20DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO21
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay chúng ta đangchứng kiến quá trình tự do hoá thương mại mạnh mẽ với việc phá bỏ các rào cảnthương mại, tạo nên một sân chơi chung toàn cầu với luật lệ chung, bình đẳng
Sở hữu trí tuệ (SHTT) đang trở thành một vấn đề thời sự, thành trung tâm của sựchú ý, là vấn đề trọng tâm được thảo luận tại các cuộc đàm phán, hội nghị, hộithảo về quan hệ kinh tế quốc tế, là nội dung không thể thiếu trong các điều ướcquốc tế về hợp tác kinh tế song phương và đa phương Nhận thức được vai tròcủa hệ thống bảo hộ SHTT đối với việc khuyến khích hoạt động nghiên cứu,sáng tạo, áp dụng và đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư, thương mại Nhànước Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề SHTT bằng việc thiết lập được một hệthống SHTT có bộ máy tổ chức, quản lý, quy định pháp luật và những bộ phậnhợp thành về cơ bản tương tự như mô hình phổ biến trên thế giới Hệ thốngSHTT Việt Nam đã thiết lập chế độ bảo hộ đầy đủ các đối tượng SHTT liênquan đến hoạt động của danh nghiệp trong đó có nhãn hiệu Nhãn hiệu có vai tròquan trọng trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến sự lựa chọn của người tiêudùng Trong đó, nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) mang theo những thông điệp vềchất lượng, uy tín của hàng hoá, dịch vụ như trên, cần thiết phải có sự bảo hộpháp lý để chống lại các hành vi sử dụng nhằm mục đích lợi dụng uy tín, danhtiếng gắn liền với nhãn hiệu đó Việc bảo hộ đó không những nhằm bảo vệquyền lợi chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu, người đã đầu tư vào việc nângcao chất lượng và giảm giá thành hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, mà cònbảo vệ người tiêu dùng khỏi bị nhầm lẫn và lừa dối do mua phải sản phẩm mangnhãn hiệu giả mạo Để đáp ứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc
tế đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống bảo hộ quyền SHTT nóiriêng, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT) đã được ban hành nhằm thốngnhất các quy định điều chỉnh chung đối với việc bảo hộ quyền SHTT Trước vaitrò đặc biệt quan trọng của NHNT đối với sự phát triển kinh tế xã hội thì tìmhiểu các quy định của pháp luật liên quan đến bảo hộ NHNT là việc thực sự cần
thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.Với lý do đó, em xin chọn đề tài “Bảo
Trang 2hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005” để
làm rõ vấn đề trên
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1 Khái quát chung về nhãn hiệu
Nhãn hiệu đã xuất hiện từ thời cổ đại, được người chăn nuôi gia súc, nhàbuôn, nhà sản xuất khi đó dùng để đánh dấu các đàn gia súc hoặc các đồ vật củamình Phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm,những người thợ thủ công ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên cáctác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Các nhà sản xuất Trung Quốc
đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước
và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sửdụng
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạtđộng thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho nhãn hiệu ngày càng đóngvai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế Việc một hàng hóa có thể được cungcấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho người tiêudùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóacủa từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh Nhãn hiệu chính là dấu hiệu giúp họphân biệt được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Khi mới ra đời nhãn hiệuthường chỉ là một dấu hiệu hoặc ký hiệu mang tính ngẫu nhiên Dần dần, cùngvới sự phát triển của giao lưu thương mại, nhu cầu cá biệt hóa sản phẩm khiếncho các nhà sản xuất, kinh doanh ý thức hơn về nhãn hiệu
Nhãn hiệu theo nghĩa nguyên thủy thì chỉ dùng để đặt tên cho hàng hóa.Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của xã hội, hàng hóa được cung cấp chocon người không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm cụ thể mà còn là các loại hình dịch
vụ được cung cấp đa dạng trên thị trường Các dịch vụ này cũng cần được đặttên để cho phép người tiêu dùng có thể phân biệt giữa các dịch vụ của các công
ty khác nhau cùng cung cấp Những dấu hiệu này tạo thành nhãn hiệu dịch vụ
Trang 3Do nhãn hiệu dịch vụ mang bản chất giống hệt nhãn hiệu hàng hóa nên hiện naytrên thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” được dùng chung cho cả nhãn hiệu hàng hóa
và nhãn hiệu dịch vụ Vai trò của nhãn hiệu càng trở nên quan trọng thì khảnăng nhãn hiệu đó bị sao chép, làm giả, thậm chí đánh cắp càng cao Thực tếnày đòi hỏi phải có một cơ chế hữu hiệu để ghi nhận chính thức và công khainhững người sở hữu nhãn hiệu, từ đó duy trì và củng cố đặc tính phân biệt củanhãn hiệu, bảo vệ nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêudùng Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu thực
tế đó
Nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHTT đang được các quốc gia bảo
hộ Nhãn hiệu thuộc về nhánh quyền sở hữu công nghiệp Khái niệm “sở hữu
công nghiệp” bao gồm các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp Bên cạnh đó, sở
hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu, các chỉ dẫn thương mại và việc bảo hộchống cạnh tranh không lành mạnh
Khái niệm nhãn hiệu có thể khác nhau ở từng nước, nhưng nhìn chung,khái niệm này có sự thống nhất ở nội dung: nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào cóthể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với các chủ thể khác trong cùng
lĩnh vực Nội dung này được thể hiện trong Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ
một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu” Điểm khác nhau có chăng giữa khái
niệm nhãn hiệu của các nước chính là ở nội hàm mà khái niệm này đề cập tới.Dấu hiệu nói chung có thể bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, khẩu hiệu, hình ảnh,màu sắc, mùi vị, âm thanh, hình thức bao bì nhưng tùy hệ thống pháp luật ởmỗi quốc gia mà phạm vi của các dấu hiệu này được giới hạn ở những dấu hiệunhất định
Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA) thì nhãn hiệu cóthể là từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh, khẩu hiệu hoặc hình dạng của baogói oặc kết hợp của các yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt mộtsản phẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trường hoặc trong kinhdoanh
Trang 4Trong các định nghĩa về nhãn hiệu chúng ta dễ dàng nhận thấy một điểmchung nổi bật đó là nhãn hiệu có thể là bất kỳ dấu hiệu nào miễn là có khả năngphân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể khác nhau Như vậy, về mặt lýluận, các dấu hiệu thuộc dạng nhìn thấy được và thuộc dạng không thể nhìn thấyđược như mùi vị hoặc âm thanh đều có thể trở thành nhãn hiệu Việc thừa nhậndấu hiệu thuộc dạng nào có thể sử dụng làm nhãn hiệu, vì thế, tùy thuộc và điềukiện thực tiễn của mỗi quốc gia Phần lớn các quốc gia chỉ cho phép đăng ký cácdấu hiệu được thể hiện dưới dạng đồ họa (nghĩa là có thể nhìn thấy được), mộttrong các lý do là bởi chỉ các nhãn hiệu thuộc dạng này mới có thể ghi đượctrong sổ đăng bạ quốc gia và công bố một cách hữu hình trên công báo nhãnhiệu quốc gia, để công bố công khai với công chúng việc nhãn hiệu đó đã đượcxác lập quyền và được Nhà nước bảo hộ Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS
quy định “ Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là
các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng
hóa (TLT) cũng chỉ thừa nhận sự bảo hộ đối với các dấu hiệu nhìn thấy được,không thừa nhận sự bảo hộ đối với nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm
thanh và mùi vị “Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba
chiều (holography) và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi”
1.2 Chức năng của nhãn hiệu
Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính là: chức năngphân biệt, chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng thông tin về chất lượng vàchức năng quảng cáo Trên thực tế hai chức năng đầu của nhãn hiệu có tính phụthuộc lẫn nhau và cần luôn được xem xét cùng nhau Hai chức năng sau mangtính phái sinh, có được khi nhãn hiệu đã có hai chức năng đầu
Nhãn hiệu ra đời với mục đích để phân biệt hàng hóa của chủ thể này vớihàng hóa của chủ thể khác Để thực hiện được chức năng này nhãn hiệu cần phải
có khả năng tự phân biệt và khả năng phân biệt với nhãn hiệu của chủ thể khác.Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu tạo cho nhãn hiệu một ấn tượng tổng thểtác động vào nhận thức của người tiêu dùng để họ có thể nhận biết, ghi nhớ và
so sánh với các nhãn hiệu khác Tính chất này có thể thay đổi, tùy thuộc vàoviệc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên thị trường
Trang 5Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệt một sản phẩm, nhãn hiệuphải chỉ ra được nguồn gốc của hàng hóa Thực ra nhãn hiệu là dấu hiệu đểngười tiêu dùng tìm được một chủ thể nhất định để tin tưởng, tức là chủ thể sẽchịu trách nhiệm về hàng hóa mang nhãn hiệu đó Chức năng chỉ dẫn nguồn gốcliên quan mật thiết với chức năng phân biệt, khi mà nhãn hiệu cho phép ngườitiêu dùng phân biệt được sản phẩm mangnhãn hiệu đó với nhãn hàng hóa củacác chủ thể khác đưa ra trên thị trường thì lúc đó nhãn hiệu đã hoàn thành chứcnăng chỉ dẫn nguồn gốc.
Chức năng thông tin về chất lượng của nhãn hiệu được thể hiện thông quaviệc người tiêu dùng nhận biết chất lượng của sản phẩm qua nhãn hiệu Chứcnăng này có được khi nhãn hiệu đã được sử dụng một thời gian nhất định trênsản phẩm có chất lượng chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng
Chức năng quảng cáo của nhãn hiệu nhằm thúc đẩy việc tiếp thị bán hàng
và tiến hành dịch vụ
1.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Như đã trình bày ở trên, việc sử dụng nhãn hiệu là một nhu cầu kháchquan để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất, kinh doanh cá thể hóa sản phẩm,dịch vụ nhằm phân biệt với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thểkhác Đồng thời nhãn hiệu cũng giúp người tiêu dùng có định hướng khi chọnlựa sản phẩm, dịch vụ phù hợp
Đặc tính nổi bật của nhãn hiệu là dùng để phân biệt Do đó không thể tồntại cùng lúc những nhãn hiệu của các chủ thể khác nhau trùng hoặc tương tựnhau cho cùng sản phẩm, dịch vụ Để đảm bảo được điều này cần có một cơ chếnhất định chống lại các hành vi gây nhầm lẫn hoặc có nguy cơ gây nhầm lẫn nhưhành vi sao chép, làm giả hàng hóa mang nhãn hiệu Công cụ để thực hiệnnhiệm vụ này không gì khác hơn chính là hệ thống pháp luật
Do tính chất đặc biệt của loại tài sản có tên là nhãn hiệu nên quyền đốivới tài sản này cũng không giống quyền đối với các tài sản hữu hình khác, đó làquyền bị giới hạn về thời gian, không gian, được xác định theo phạm vi bảo hộ,
và có những giới hạn nhất định
Về thời gian, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có hiệu lựctrong thời hạn ghi trên văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 6cấp, thông thường là 10 năm, và có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10năm.
Về không gian, so với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữucông nghiệp đối với nhãn hiệu mang tính lãnh thổ tuyệt đối Quyền sở hữu côngnghiệp đối với nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia màtrên cơ sở pháp luật nước đó, quyền sở hữu công nghiệp phát sinh Trong trườnghợp chủ sở hữu nhãn hiệu muốn nhận được sự bảo hộ quyền của mình tại nướckhác, họ cần phải nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại nước họ mong muốn nhận được sựbảo hộ hoặc nộp đơn đăng ký quốc tế có chỉ định nước đó (nếu nước định nộpđơn có tham gia điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ sở hữu công nghiệp nóichung)
Quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối, do đó tính lãnhthổ tuyệt đối của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được thể hiện rõ
trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp Theo đó, “một đơn đăng
ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh cũng không thể bị từ chối–hoặc một đăng ký nhãn hiệu cũng không thể bị hủy bỏ-với lý do rằng việc nộp đơn, đăng ký, hoặc gia hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực”
Với tài sản là nhãn hiệu, quyền này được thể hiện thông qua quyền sửdụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạtnhãn hiệu được bảo hộ nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu Quyền độcquyền của chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ giới hạn đối với hành vi sử dụng nhãn hiệutương tự gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại của người khác vì mụcđích thương mại hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụđược cung cấp bởi chủ sở hữu NHNT Quyền này không áp dụng đối với hành
vi sử dụng vì mục đích phi thương mại và một số trường hợp hạn chế quyềnkhác
Xét về tính lãnh thổ thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu làquyền độc quyền tuyệt đối Nhưng trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia thìquyền này lại chỉ mang tính chất tương đối Vì trong lĩnh vực bảo hộ sở hữucông nghiệp nói riêng và SHTT nói chung luôn tồn tại các quyền độc quyềnkhác nhau của các chủ sở hữu khác nhau, do đó, quyền độc quyền của chủ sở
Trang 7hữu nhãn hiệu này phải tôn trọng và đảm bảo quyền độc quyền của chủ thể khác
và của xã hội
1.4 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Nhãn hiệu là một tài sản vô hình rất có giá trị trong giao lưu thương mại,
là một đối tượng SHTT dễ bị xâm hại Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trongviệc bảo vệ những nhà sản xuất, kinh doanh trung thực, bảo vệ quyền lợi củangười tiêu dùng, góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể,
từ đó tạo sự ổn định cho nền kinh tế mỗi quốc gia Do tầm quan trọng như vậycủa nhãn hiệu nên các nước đều có những cơ chế, chính sách để bảo hộ nhãnhiệu từ phía Nhà nước
Với các tài sản hữu hình, chủ sở hữu có thể thực hiện quyền sở hữu củamình đối với tài sản thông qua việc nắm giữ tài sản, và nhờ đó thậm chí khôngcần đến sự công nhận quyền sở hữu của Nhà nước thì tài sản vẫn thuộc quyền sởhữu của chủ sở hữu Với tài sản hữu hình, quyền đối với tài sản này rất khác.Nội dung của quyền này được thể hiện thông qua việc Nhà nước ghi nhận cácloại tài sản vô hình được Nhà nước bảo hộ, cách thức xác lập quyền, nội dungquyền, các hạn chế quyền và cơ chế bảo vệ quyền
Xuất phát từ những tính chất đặc thù, riêng có của từng loại đối tượng sởhữu công nghiệp, pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận hainguyên tắc xác lập quyền cơ bản, đó là (i) xác lập quyền theo nguyên tắc đăng
ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền và (ii) xác lập quyền theo nguyên tắc tựđộng khi đáp ứng các điều kiện nhất định Đối với đối tượng sở hữu công nghiệp
cụ thể là nhãn hiệu thì cả hai nguyên tắc này đều được áp dụng Với nhãn hiệukhông phải là nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên
cơ sở đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nhãn hiệu nổi tiếng,quyền sở hữu công nghiệp được xác định khi nhãn hiệu thỏa mãn các tiêu chíđánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định trong luật, không cần thực hiện thủtục đăng ký
Để một dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ được Nhà nước bảo
hộ là một nhãn hiệu, dấu hiệu đó cần phải thỏa mãn những tiêu chí nhất định gọichung là tiêu chuẩn bảo hộ Quy định về tiêu chuẩn bảo hộ nhằm đảm bảo mộtnhãn hiệu có khả năng tự phân biệt, phân biệt với dấu hiệu khác, không xâm
Trang 8phạm đến trật tự công cộng và đạo đức xã hội Tùy theo tình hình phát triển kinh
tế, xã hội cũng như quan niệm truyền thống của mỗi quốc gia mà tiêu chuẩn bảo
hộ này sẽ khác nhau ở từng nước Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thể hiệnthông qua quyền độc quyền được Nhà nước ghi nhận, đó là độc quyền sử dụng,định đoạt, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt khi không được phép Mộtnguyên tắc đặc thù trong hệ thống pháp luật SHTT nói chung là luôn phải đảmbảo sự hài hòa về mặt lợi ích giữa các đối tượng có liên quan trong xã hội Bảo
hộ nhãn hiệu không chỉ bao gồm các quy định pháp luật để chủ sở hữu thực hiệncác quyền được xác định trong nội dung quyền của chủ sở hữu, mà quan trọnghơn cả là quy định xử lý các hành vi xâm phạm
Qua các phân tích ở trên có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đốivới nhãn hiệu là việc Nhà nước bằng công cụ pháp luật của mình ghi nhậnquyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đồng thời quy định cơ chế xác lậpquyền, nội dung quyền và cơ chế thực thi quyền đối với nhãn hiệu
Chương 2
BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 20052.1 Khái niệm bảo hộ NHNT
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 thì “Nhãn hiệu là dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Khái
niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT 2005 đã được định nghĩa một cách rất kháiquát, theo đó, nhãn hiệu được định nghĩa theo chức năng-dùng để phân biệt hànghóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Định nghĩa mới về nhãn hiệu
có ba sự thay đổi rõ rệt so với định nghĩa được đưa ra trong BLDS năm 1995
Tại Điều 785 BLDS năm 1995 nhãn hiệu được định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng
hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” So với định nghĩa nhãn hiệu trong Bộ luật Dân sự 1995 thì định nghĩa
trong Luật SHTT 2005 đã thay thế từ “nhãn hiệu” cho từ “nhãn hiệu hàng
Trang 9hóa”, không đưa vào định nghĩa các dấu hiệu cụ thể được bảo hộ dưới danh
nghĩa nhãn hiệu và mở rộng hơn chức năng của nhãn hiệu Thuật ngữ “nhãn
hiệu hàng hóa” sử dụng trong BLDS năm 1995 trong thực tiễn tỏ ra khó tiếp cận
đối với công chúng và dễ gây hiểu lầm là đối tượng này chỉ sử dụng cho hànghóa mà không sử dụng cho dịch vụ Hơn nữa, trong hệ thống pháp luật Việt
Nam còn tồn tại khái niệm “nhãn hàng hóa”–là các tập hợp các thông tin về
chức năng, công dụng, địa điểm sản xuất, chất lượng, hạn sử dụng của hànghóa
Theo Khoản 20 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 thì “Nhãn hiệu nổi tiếng là
nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”.
Qua định nghĩa trên, NHNT có các đặc điểm sau:
- NHTN là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi; NHNT lànhãn hiệu có căn cứ xác lập quyền, có các tiêu chí đánh giá, có cơ chế bảo hộriêng, khác so với các nhãn hiệu thông thường
- NHNT là kết tinh của nhiều yếu tố trong quá trình lâu dài Ví dụ như: uytin, chất lượng sản phẩm, cách phục vụ dịch vụ,…; NHNT là ưu thế kinh doanhcủa chủ sở hữu nhãn hiệu
- NHNT là tài sản vô hình có giá trị rất lớn đối với doanh nghiệp
Trước hết, bảo hộ là khái niệm dùng đề chỉ hoạt động của Nhà nước trongviệc xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội pháp sinh Theo quy định tại Hiệp
định TRIPs thì “thuật ngữ bảo hộ bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng
đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến quyền sở hữu trí tuệ…” Như vậy, là một
đối tượng của quyền SHTT, bảo hộ NHNT là một bộ phận của bảo hộ quyềnSHTT nói chung Bảo hộ NHNT không chỉ giới hạn ở việc xác lập mà còn baogồm cả việc thực thi quyền đó trên thực tế, cụ thể là việc áp dụng các biện pháptheo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đồngthời, ngăn chặn, xử lý các hành vi sử dụng, khai thác trái phép NHNT đó
2.2 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Đối chiếu với chức năng của nhãn hiệu thì bất kỳ dấu hiệu nào có khảnăng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau đều có
thể được coi là nhãn hiệu Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định “Bất kỳ một dấu
Trang 10hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch
vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ,
kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và các tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký
là nhãn hiệu Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký
là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” Điều 72 của Luật SHTT năm
2005 quy định nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặcnhiều màu sắc
- Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu vớihàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
Điều kiện đầu tiên để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu là phải
“nhìn thấy được” Bằng quy định này luật đã loại bỏ khả năng bảo hộ cho các
dấu hiệu đặc biệt như dấu hiệu mùi, dấu hiệu âm thanh gọi chung là “dấu hiệu
không nhìn thấy được” Nhãn hiệu để được bảo hộ nhất định phải có khả năng
phân biệt Khả năng phân biệt chính là yếu tố quan trọng nhất để một dấu hiệuđược coi là nhãn hiệu Trên thực tế, việc đánh giá tính phân biệt của một nhãnhiệu là một vấn đề rất phức tạp
Trước khi Luật SHTT được ban hành, trong Điểm a Khoản 1 Khoản 6Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 có quy định một yêu cầu đối với nhãn hiệu làphải “được tạo thành từ một số yếu tố độc đáo ” hoặc “từ nhiều yếu tố kết hợpthành một tổng thể độc đáo” Quy định này bộc lộ điểm bất hợp lý là thực tếnhãn hiệu có chức năng dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thểkinh doanh khác nhau nên bất kỳ dấu hiệu nào miễn là có khả năng phân biệt thì
có thể làm nhãn hiệu không cần quan tâm đến dấu hiệu đó có độc đáo haykhông
So với các quy định trước đây về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu thì luậtSHTT 2005 đã khắc phục được sự nhầm lẫn giữa khả năng phân biệt của nhãnhiệu với các dấu hiệu không được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu Khả
Trang 11năng phân biệt của nhãn hiệu làm cho nhãn hiệu thực hiện được chức năng phânbiệt
2.3 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu được quy địnhtại Điều 73 Luật SHTT năm 2005:
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ,quốc huy của các nước;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ,huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơquan, tổ chức đó cho phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệthiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam,của nước ngoài;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứngnhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầukhông được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức ngày đăng ký các dấu hiệu đólàm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc cố tình lừa dối người tiêudùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc cácđặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ
2.4 Tiêu chí đánh giá NHNT
Trong các văn bản quốc tế như Công ước Pari, hiệp định TRIPs khôngquy định cụ thể về tiêu chí đánh giá NHNT Việt Nam là một thành viên của haicông ước trên nên có nghĩa vụ thiệt lập một hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thểcác quy định của công ước, hiệp định về mặt lý luận cũng như áp dụng vào thực
tiễn Với quy định “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết
đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” đã giới hạn phạm vi nổi tiếng của
nhãn hiệu, dẫn tới những hệ quả pháp lý nhất định, nếu một nhãn hiệu nổi tiếng
Trang 12trên thế giới mà người tiêu dùng Việt Nam không biết đến, thì nhãn hiệu đó sẽkhông được coi là NHNT theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Như vậy một NHNT muốn được coi nổi tiếng ở Việt Nam thì phải đápứng đầy đủ theo Điều 75 Luật SHTT năm 2005:
“1) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; 2) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3) Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc
số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 4) Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 5) Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu; 6) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 7) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; 8) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu”.
Đây là tám tiêu chí khi đánh giá một nhãn hiệu có phải là NHNT haykhông, có thể khẳng định đây là bước tiến quan trọng trong việc quy định phápluật về NHNT Tuy nhiên, xem xét các tiêu chí trên, chúng ta có thể thấy nhiềuquy định mang tính định lượng, ví dụ như số lượng các quốc gia, số lượng ngườitiêu dùng,… Vấn đề đặt ra ở đây là khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xemxét một nhãn hiệu có phải là nổi tiếng hay không thì các tổ chức, cá nhân phảicung cấp số lượng như thế nào để nhãn hiệu được đăng ký, vấn đề này cũng đặt
ra với số lượng người tiêu dùng
Bên cạnh đó, còn có sự mâu thuẫn giữa các điều luật với nhau Cụ thể làĐiểm 6 Điều 75 về số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu so với quy định tại Điểm
20 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 Định nghĩa tại Điều 4 chỉ yêu cầu NHNT chỉcần người tiêu dùng biết đến rộng rãi trong phạm vi toàn lãnh thổ, trong khi đótiêu chí lại bắt buộc nêu số lượng quốc gia công nhận NHNT Đây là một điểmcòn hạn chế của Luật SHTT năm 2005, vì vậy cần có những sửa đổi, bổ sungnhất định về vấn đề trên
Có thể nhận thấy nhãn hiệu nói tiếng khác với nhãn hiệu thông thường ởdanh tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan thông quacác hoạt động quảng cáo của nhãn hiệu, thông qua số lượng và doanh số hàng