1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của BLTTDS năm 2015. Những vấn đề pháp lý và thực tiễn.

15 415 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 32,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 I. Vấn đề pháp lý về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 3 1. Quy định của pháp luật 3 2. Đối tượng bị kháng nghị 4 3. Hậu quả pháp lý của việc kháng nghị phúc thẩm 5 II. Vấn đề thực tiễn về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện Kiểm sát trên cơ sở quy định tại Bộ luật Tố tụng dấn sự năm 2015 6 KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 1

Đề bài: Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của BLTTDS năm 2015 Những vấn dề pháp lý và thực tiễn

Tiểu luận tối đa 15 trang tối thiểu 10 trang, căn trái 3.5 cm

Trang 2

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ Luật Tố tụng dân sự TTLT : Thông tư liên tịch

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân tối cao TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

I Vấn đề pháp lý về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 4

1 Quy định của pháp luật 4

2 Đối tượng bị kháng nghị 5

3 Hậu quả pháp lý của việc kháng nghị phúc thẩm 6

II Vấn đề thực tiễn về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện Kiểm sát trên cơ sở quy định tại Bộ luật Tố tụng dấn sự năm 2015 7

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khi phát hiện có vi phạm pháp luật đối với bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp đó là kiến nghị và kháng nghị Kháng nghị là một quyền tố tụng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật nhằm phản đối bản án, quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết lại vụ án Trên cơ sở có kháng nghị phúc thẩm hợp pháp sẽ làm điều kiện tiên quyết để Tòa án có thẩm quyền tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo các phương thức mà pháp luật quy định Theo quy định tại

Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Thông qua chức năng kiểm

sát hoạt động tư pháp, kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, từ đó Viện kiểm sát nhân dân thể hiện vai trò của một thiết chế độc lập trong nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trang 5

NỘI DUNG

I Vấn đề pháp lý về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1 Quy định của pháp luật

Căn cứ Điều 278 BLTTDS 2015: “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp

và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.”

Điều 1 BLTTDS 2015: quy định về “Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự” theo đó vụ án dân sự bao gồm các vụ án về

tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 57 và Điều 278 BLTTDS 2015 sẽ thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao đồng thời tại Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC- TANDTC quy định cụ thể tại Điều 2 về việc ký quyết định kháng nghị sẽ do Viện trưởng đã quyết định kháng nghị trực tiếp ký hoặc có thể phân công cho Phó Viện trưởng ký nhưng phải ghi rõ là “ký thay Viện trưởng”, Điều 5 của Thông tư 02/2016 cũng quy định về trình tự Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để Viện kiểm sát xem xét việc kháng nghị Trong quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát hình thức yêu cầu phải là bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây: Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị; Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị; Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát; Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị Sau khi có đầy đủ những nội

Trang 6

dung chính thì quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục tại Điều 283 BLTTDS 2015 đó là gửi hồ sơ vụ án kèm theo quyết định kháng nghị và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị

Thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 280 BLTTDS 2015 đối với bản

án của Tòa án cấp sơ thẩm, trường hợp là Viện kiểm sát cùng cấp thì có quyền ra quyết định kháng nghị trong vòng 15 ngày còn đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 1 tháng kể từ ngày tuyên án hoặc tính từ ngày Viện kiểm sát nhận được bản án nếu không tham gia phiên tòa Trường hợp ra quyết định kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của Tòa

án cấp sơ thẩm thì Viện kiểm sát cùng cấp có quyền ra quyết định trong vòng

7 ngày, riêng đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì thời gian sẽ lâu hơn kéo dài đến 10 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định Quy định của khoản 3 Điều 280 BLTTDS 2015 nói rõ trong trường hợp Tòa

án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp

sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do

2 Đối tượng của thủ tục kháng nghị

Đối tượng của thủ tục phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định Trường hợp nếu bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mới bị đề nghị xét xử lại thì việc xét lại sẽ chỉ được tiến hành theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Theo quy định của Luật tổ

chức Tòa án nhân dân năm 2014 tại Điều 37: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa

án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” và Điều 44 “Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương”, qua đó cho thấy chỉ có Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án

Trang 7

nhân dân cấp tỉnh là có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Cho nên sẽ chỉ đặt ra thủ tục phúc thẩm cụ thể trong trường hợp đó là bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật và đồng thời phải có kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát Theo quy định tại Điều 271, Điều 278 BLTTDS 2015 chỉ có bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mới có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, Điều 281

Thông báo về việc kháng nghị: “1 Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.

2 Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.”

3 Hậu quả pháp lý của việc kháng nghị phúc thẩm

Điều 282 BLTTDS 2015: “Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp

sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.”

Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu quy định tại Điều 284 BLTTDS 2015 Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng nghị đã hết Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại

Trang 8

phiên tòa phúc thẩm Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa

II Vấn đề thực tiễn về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự của Viện Kiểm sát trên cơ sở quy định tại Bộ luật Tố tụng dấn sự năm 2015

Quyền kháng nghị phúc thẩm của VKSND đã được pháp luật quy định

và thực tiễn đã chứng minh, đó là quyền năng pháp lý quan trọng để VKSND thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự đạt hiệu quả Để thực hiện tốt quyền này thì công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án là biện pháp cơ bản nhất Việc nghiên cứu các bản án, quyết định một cách khoa học, biết kết hợp đối chiếu với các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên sẽ phát hiện được sai sót, vi phạm trong hoạt động giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án, qua đó thực hiện tốt quyền kháng nghị của Viện kiểm sát, nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo công bằng xã hội Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự; Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng dân sự; đồng thời, bổ sung quy định Kiểm tra viên cũng là người tiến hành tố tụng và bổ sung 01 điều luật (Điều 59) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên để bảo đảm phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát

Trang 9

nhân dân năm 2014 Khoản 7 Điều 58 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát

viên: “Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật”.

Nắm chắc quy định của pháp luật nhằm làm tốt công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự thì đòi hỏi người Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ tất cả các tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án sau đó tiến hành xâu chuỗi các nội dung của từng vấn đề lại một cách toàn diện Việc nhận định đánh giá chứng cứ hết sức tỉ mỉ, phải luôn vô tư, khách quan và, quan trọng nhất là việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết đúng đắn của vụ án Bên cạnh đó, một khi đã phát hiện sai phạm trong quá trinh tố tụng thì Kiểm sát viên phải có quyết tâm, kiên định trong việc bảo vệ quan điểm khi đề xuất Viện trưởng về đường lối giải quyết, tránh trường hợp bị động khi bản án tuyên khác quan điểm với Viện kiểm sát, làm cho Kiểm sát viên trong một số trường hợp phân vân nên kháng nghị hay không kháng nghị Từ đó quyết định đúng đắn trong việc ban hành kháng nghị phúc thẩm, tránh trường hợp bị Viện kiểm sát cấp trên rút kháng nghị hoặc không được cấp xét xử phúc thẩm chấp nhận Riêng kiểm sát đối với bản án cần nghiên cứu kỹ bản án để xác định xem yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án; việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đúng và đầy đủ chưa Sau đó đối chiếu với quyết định giải quyết của bản án sơ thẩm để xác định xem bản án có vi phạm gì về thủ tục tố tụng như: Không đưa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng; xác định tư cách nguyên đơn, bị đơn không đúng; giải quyết

vụ án vượt quá phạm vi khởi kiện Về nội dung, trong bản án áp dụng quan

hệ pháp luật nào để giải quyết vụ án; việc viện dẫn điều luật đã chính xác và đầy đủ chưa; việc quyết định giải quyết của bản án có đầy đủ và có mâu thuẫn với phần xét thấy, nhận định của của bản án không; việc áp dụng hai văn bản pháp luật pháp luật về án phí lệ phí của Tòa án như đã nêu trên đúng chưa;

Trang 10

nội dung giải quyết của bản án có đảm bảo quyền và lợi cho các đương sự trong vụ án không

Chính vì có rất nhiều vấn đề mà Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành quyền năng của mình đòi hỏi Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải nghiên cưu

và ban hành những mẫu quy chế chung cho toàn ngành trong việc giải quyết các vụ việc dân sự có thể kể đến những quy chế gần đây như Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định

số 567/QĐ-VKSTC ngày 08 tháng 10 năm 2012 “Quyết định về việc ban hành quy chế về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự

Căn cứ khoản 7 Điều 4 Quy chế này quy định về Nhiệm vụ quyền hạn:

“kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án , quyết định của Tòa án”.

Điều 9 Quy chế này: “Kiểm sát giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm: Thẩm quyền kháng nghị Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được Viện trưởng ủy quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp.

Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh được Viện trưởng ủy quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện.

Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm thừa ủyquyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết

vụ án của Tòa án cấp tỉnh chưa có hiệu lực khi phát hiện có vi phạm pháp luật.”

Đáp ứng những đòi hỏi mới của quan hệ xã hội và những tồn đọng vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự , thay thế cho Quy chế

Trang 11

năm 2012 là Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC, ngày 02 tháng 10 năm 2017

“Quyết định về việc ban hành quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các

vụ việc dân sự thay thế quyết định số 567/2012/QĐ-VKSTC

Ngay từ quy định tại Điều 4 Quy chế này đã có rất nhiều sửa đổi bổ

sung cụ thể về quyền kháng nghị đã thành Khoản 10 điều 4: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án , quyết định của Tòa

án theo quy định của pháp luật” Riêng về thủ tục kháng nghị phúc thẩm quy

định riêng tại Mục 3 từ Điều 27 đến điều 40, bắt đầu từ khi lập hồ sơ kiểm sát, nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, viện kiểm sát xác minh thu thập tài liệu chứng cứ để bảo đảm việc kháng nghị phúc thẩm

“Điều 33 Quyết định kháng nghị phúc thẩm

1 Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền quyết định việc kháng nghị phúc thẩm Việc ký quyết định kháng nghị được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 2 TTLT số 02/2016.

2 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 280

và khoản 2 Điều 322 BLTTDS.

3 Quyết định kháng nghị phúc thẩm được lập theo mẫu do VKSND tối cao ban hành; thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 279 BLTTDS.

4 Việc gửi quyết định kháng nghị phúc thẩm thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 279 và khoản 1 Điều 281 BLTTDS, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trường hợp Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị thì gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị để theo dõi.”

“Điều 34 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị phúc thẩm

Ngày đăng: 25/03/2019, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w