Pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã có những quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độcquyền của doanh nghiệp, vậy thực trạng của quy định này trong thực tiễn ra
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Khái quát về hành vi lạm dụng vụ trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 2
1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 2
2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 3
3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 3
II Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh Việt Nam 4
1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp 4
2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 4
3 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 7
4 Hậu quả pháp lý của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 8
5 Các biện pháp kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 9
III Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 10
1 Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đến cạnh tranh nói chung và nền kinh tế nói riêng 10
2 Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 12
3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 19
KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh đều mong muốn phát triển hơnnữa thế lực của mình, nhất là những doanh nghiệp có thị phần lớn Việc các doanhnghiệp phát triển lành mạnh là điều tất cả các nước đều khuyến khích Nhưngkhông thể đảm bảo một doanh nghiệp tham gia thị trường lành mạnh lúc nào cũngtuân thủ pháp luật Do đó cần xây dựng một thị trường kinh doanh lành mạnh, côngbằng, bình đẳng; Pháp luật cạnh tranh cần đặc biệt chú ý tới cơ chế phát triển hoạtđộng của các thương nhân khi tham gia thị trường Pháp luật cạnh tranh Việt Nam
đã có những quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độcquyền của doanh nghiệp, vậy thực trạng của quy định này trong thực tiễn ra sao?
NỘI DUNG
I Khái quát về hành vi lạm dụng vụ trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc thông qua ngày 22/04/1980, thì
“Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh làhành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độcquyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạnchế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”1
Luật cạnh tranh 2004 không đưa ra khái niệm về hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, mà chỉ đưa ra khái niệm chung về hành vihạn chế cạnh tranh Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làmgiảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạnchế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền vàtập trung kinh tế (Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004) Luật cạnh tranh 2004 chỉ
1 Xem: Mục B đoạn 1 Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc.
Trang 3liệt kê những hành vi được coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị tríđộc quyền.
2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc có vị trí độc quyền trên thị trường liênquan
Thứ hai, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc doanh nghiệp có vịtrí độc quyền đã thực hiện những hành vi mà pháp luật quy định là hạn chế cạnhtranh trên thị trường liên quan
Thứ ba, hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảmcạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan
3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Dựa trên đối tượng bị xâm hại, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
vị trí độc quyền được phân chia thành hai nhóm:
- Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột: là những hành vi doanh nghiệp
sử dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền đó như một lợi thế trong các quan hệvới khách hàng nhằm thu lợi nhuận độc quyền
- Hành vi lạm dụng mang tính độc quyền: là những nỗ lực của doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường liên quan kìm hãm cạnh tranhbằng những thủ đoạn loại bỏ hoặc ngăn cản đối thủ tham gia thị trường nhằm duytrì, củng cố quyền lực thị trường
Nếu dựa trên mục đích và tính chất của hành vi thì hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền được phân loại thành : hành vi làm tăng chiphí của đối thủ để chiếm lĩnh thị trường; Thâu tóm khách hàng để ngăn cản hoặcloại bỏ đối thủ; Hành vi định giá huỷ diệt; Hành vi chi phối giá thị trường; Hành vichi phối các yếu tố khác của thị trường; Hành vi phân biệt giá; Hành vi hạn chếcạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Trang 4II Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh Việt Nam.
1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của doanh nghiệp.
a) Xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
Theo Điều 11 Luật cạnh tranh 2004, doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị truờng khi thuộc một trong những trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất, một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cóthị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan
Trường hợp thứ hai, doanh nghiệp có khả năng gây hạn chế cạnh tranh mộtcách đáng kể Nghị định 116/2005/NĐ-CP đã quy định cụ thể căn cíư xác định khảnăng gây hạn chế một cách đáng kể của doanh nghiệp
Trường hợp thứ ba, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Theokhoản 2 Điều 11 Luật cạnh tranh 2004, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thịtrường khi thoả mãn hai điều kiện sau:
- Các doanh nghiệp đã hoặc đang thực hiện cung một hành vi hạn chế cạnh tranh;
- Tổng thị phần của nhóm doanh nghiệp đạt các mức sau: Hai doanh nghiệp có tổngthị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ65% trở lên trên thị trường liên quan; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lêntrên thị trường liên quan
b) Xác định vị trí độc quyền của doanh nghiệp.
Điều 12 Luật cạnh tranh 2004 quy định “ Doanh nghiệp được coi là có vị tríđộc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ màdoanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”
Độc quyền là thuật ngữ để chỉ doanh nghiệp nào đó duy nhất tồn tại trên thịtrường mà không có đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp độc quyền có thể độc quyềnnguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua) trên thị trường
2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.
Trang 5a) Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.
Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủcạnh tranh là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ thấp hơn tổng các chi phí: Chi phícấu thành giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ; Chi phí lưu thông hàng hoá, dịch
vụ (Khoản 1 Điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP) Tại Khoản 2 Điều 23 của Nghịđịnh này cũng loại trừ một số trường hợp bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộnhưng không bị coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, như hành vi hạgiá bán hàng hoá tươi sống; hạ giá bán hàng tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu vềhình thức, không phù hợp với người tiêu dùng; Hạ giá bán hàng hoá theo mùa vụ;
Hạ giá bán hàng hoá trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật;Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của nhà nước theo quy định hiệnhành của pháp luật giá; Hạ giá bán hàng hoá trong trường hợp phá sản, giải thể,chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sảnxuất, kinh doanh
b) Áp đặt giá mua hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng.
Hành vi áp đặt giá mua hàng hoá bất hợp lý gây thiệt hạo cho khách hàng làviệc doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi mua hàng hoá, dịch vụ đã ápđặt giá mua tại cùng thị trường liên quan thấp hơn giá thành sản xuất hàng hoá,dịch vụ trong điều kiện chất lượng hàng hoá, dịch vụ đặt mua không kém hơn chấtlượng hàng hoá, dịch vụ đã mua trước đó và không có khủng hoảng kinh tế, thiêntai, địch hoạ
c) Hành vi áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng.
Trong thời hạn tối thiểu sáu mươi ngày liên tiếp, giá bán lẻ trung bình củahàng hoá, dịch vụ trên cùng thị trường liên quan đã tăng vượt quá 5% so với giábán trước thời gian tối thiểu đó, sự tăng giá này là không hợp lý Và gây thiệt hại
Trang 6cho khách hàng, thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu là mức giá bị tăng lênkhông căn cứ hợp lý.
d) Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng.
Hành vi ấn định giá bán lại phản ánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp thuộcngành trên với các doanh nghiệp thuộc ngành dưới, theo đó doanh nghiệp thuộcngành trên áp đặt một mức giá bán lại đối với sản phẩm buộc doanh nghiệp thuộcngành dưới phải tuân thủ khi phân phối, tiêu thụ sản phẩm đó
Việc định giá bán lại của doanh nghiệp chỉ bị coi là bị vi phạm khi thoả mãnnhững điều kiện về cách thức ấn định giá và hậu quả của hành vi đối với kháchhàng Giá bán lại được ấn định ở mức tối thiểu, và hành vi ấn định giá bán lại tốithiểu gây thiệt hại cho khách hàng, và hành vi định giá này phải mang tính áp đặt
e) Hành vi hạn chế khả năng kinh doanh, khả năng phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng.
Đây là nhóm hành vi theo đó doanh nghiệp thực hiện hành vi đã tự hạn chếkhả năng kinh doanh của mình so với nhu cầu của thị trường hoặc hạn chế khảnăng phát triển về khoa học kỹ thuật của thị trường Tuỳ theo từng đối tượng tácđộng khác nhau mà nhóm hành vi này có những biểu hiện khác nhau như: Hành vihạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ gây thiệt hại cho khách hàng; Hành
vi giới hạn thị trường gây thiệt hại cho khách hàng
f) Hành vi áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh.
Theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP, hành vi áp đặt điều kiện thương mại khácnhau trong các giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng trong kinh doanhđược mô tả là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh phân biệt đối xử vớicác doanh nghiệp mua, bán; giá cả; thời hạn thanh toán … trong những giao dịchtương tự về giá trị hoặc tính chất hàng hóa, dịch vụ để đặt một hoặc một số doanhnghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi hơn so với doanh nghiệp khác
g) Hành vi áp đặt điều kiện thương mại bất lợi cho khách hàng.
Trang 7Luật cạnh tranh 2004, chia hành vi áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàngthành hai nhóm vi phạm, đó là nhóm hành vi áp đặt các điều kiện ký kết hợp đồngmua bán hàng hoá, dịch vụ: là việc áp đặt những điều kiện tiên quyết mà kháchhàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng, các điều kiện được đặt ra có nộidung hạn chế cạnh tranh Và nhóm hành vi buộc các doanh nghiệp khác chấp nhậncác nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng, hành vi nàyđược hiểu là việc doanh nghiệp có vị trí thống lính thị trường gắn việc mua bánhàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng đối với việc phải mua hàng hoá, dịch
vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc thực hiện thêm mộthoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện thêm một hoặc một
số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết đẻ thực hiện hợp đồng
h) Hành vi ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
Hành vi này có những đặc điểm cơ bản sau:
- Đối tượng hướng đến của hành vi là các đối thủ cạnh tranh mới;
- Hành vi được thực hiện nhằm mục đích ngăn cản các đối thủ cạnh tranh tiềm nănggia nhập thị trường;
- Việc ngăn cản được thực hiện bằng thủ đoạn tạo ra các rào cản cho sự gia nhập thịtrường của đối thủ
3 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.
a) Áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng.
Điều 32 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định áp đặt điều kiện bất lợi chokhách hàng của doanh nghiệp có vị trí độc quyền là hành vi buộc khách hàng phảichấp nhận vô điều kiện những nghĩa vụ gây khó khăn cho khách hàng trong quátrình thực hiện hợp đồng
Hành vi phải được thực hiện trong các giao dịch giữa doanh nghiệp độcquyền với khách hàng Nội dung của hành vi là áp đặt các điều kiện bất lợi chokhách hàng Hành vi là sự áp đặt của doanh nghiệp độc quyền đối với khách hàng
Trang 8b) Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Hành vi này phải là hành vi đơn phương của doanh nghiệp độc quyền về việcthay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã ký kết
Luật cạnh tranh không quy định việc đơn phương thay đổi hợp đồng là thayđổi nội dung hay chủ thể của hợp đồng đó, nên khi có bất kỳ sự thay đổi nào tronghai trường hợp nói trên do ý trí của doanh nghiệp độc quyền đều có thể kết luận là
vi phạm Trong pháp luật về hợp đồng vấn đề thay đổi chủ thể rất ít khi xảy ra
Huỷ bỏ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụhoặc một phần nghĩa vụ hợp đồng Trường hợp bãi bỏ một phần hợp đồng thì phầncòn lại của hợp đồng vẫn còn hiệu lực.2
Việc thay đổi, huỷ bỏ hợp đồng của doanh nghiệp độc quyền là không có lý
do chính đáng Nghị định 116/2005/NĐ-CP xác định những trường hợp thay đổi,huỷ bỏ hợp đồng không có lý do chính đáng:
“1 Đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không cầnthông báo trước cho khách hàng và không phải chịu biện pháp chế tài nào
2 Đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết căn cứ vào mộthoặc một số lý do không liên quan trực tiếp đến các điều kiện cần thiết để tiếp tụcthực hiện đầy đủ hợp đồng và không phải chịu biện pháp chế tài nào” (Điều 33Nghị định 116/2005/NĐ-CP)
Ngoài hai hành vi trên, lạm dụng vị trí độc quyền còn bao gồm cả 6 hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhưng do doanh nghiệp độc quyền thực hiện.
4 Hậu quả pháp lý của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
Luật cạnh tranh sử dụng phương pháp cấm tuyệt đối để xử lý hành vi lạmdụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh Theo đó các hành vilạm dụng bị cấm tuyệt đối trong mọi trường hợp và không áp dụng biện pháp miễn
2 Xem: Khoản 2, Khoản 3 Điều 312 Luật Thương mại 2005.
Trang 9trừ Luật cạnh tranh áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với các doanhnghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.Trong đó biện pháp chính là phạt tiền với hai mức phạt tiền đến 5% tổng doanh thutrong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường hoặc từng doanh nghiệp trong nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thịtrường; phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước nămthực hiện hành vi trong các trường hợp có tình tiết tăng nặng như doanh nghiệpthực hiện hành vi trong nhóm doanh nghiệp thống lĩnh có thị phần lớn nhất hoặc làdoanh nghiệp có vai trò tổ chức, lôi kéo doanh nghiệp khác trong nhóm doanhnghiệp thực hiện hành vi Đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanhnghiệp có vị trí độc quyền của doanh nghiệp có vị trí độc quyền sẽ bị phạt tiền đến10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Bên cạnh hình thức phạt tiền, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh, vị trí độc quyền có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung hoặccác biện pháp khắc phục hậu quả
5 Các biện pháp kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.
Để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền có hiệu quả, bên cạnh việcquy định cụ thể các hanh vi được coi là lạm dụng vị trí độc quyền, pháp luật cạnhtranh còn quy định rõ các biện pháp kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.hiện nay, hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xoá bỏ độcquyền bằng sức mạnh nhà nước hay bất cứ hình thức nào khác Nhà nước chỉ có thể
áp dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm soát nó
Các biện pháp quản lý và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị tríđộc quyền thường gặp như:
- Các biện pháp hành chính – kinh tế: Thông qua biện pháp này nhà nướckiểm soát quá trình thành lập, sáp nhập, chia tách các doanh nghiệp thông quachính sách phát triển ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong thời gian dài; quátrình thành lập và tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp
Trang 10Kiểm soát hoạt động và xu thế tăng trưởng của các doanh nghiệp thông quachính sách thuế.
Ngoài những biện pháp can thiệp gián tiếp, bằng quyền lực của mình, Nhànước còn can thiệp một cách trực tiếp nhằm ngăn cản sự lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền trên thị trường của các doanh nghiệp
Nhà nước cũng có những quy định về yêu cầu bảo vệ môi trường, an toàn laođộng, chính sách phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,…
Nhà nước kiểm soát giá cả hàng hoá, dịch vụ độc quyền, các doanh nghiệpphải công khai hoá phương pháp xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ của mình đểNhà nước phê duyệt, có nhiều loai hàng hoá, dịch vụ Nhà nước còn trực tiếp ấnđịnh ‘‘mức giá trần’’, hay giá cả của một số loại hàng hoá, dịch vụ vào một thờiđiểm nhất định Ví dụ như xăng dầu
Quốc hữu hoá các doanh nghiệp độc quyền, áp đặt sở hữu Nhà nước đối vớicác doanh nghiệp độc quyền ở một số lĩnh vực trong nền kinh tế, đặc biệt ở lĩnhvực liên quan đến quốc kế dân sinh và lợi ích của đại bộ phận dân chúng
- Biện pháp ban hành pháp luật chống cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh vàđộc quyền
Thông qua pháp luật, Nhà nước ta xác định đâu là hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh, vị trí độc quyền và các chế tài áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm Việcban hành và cho thi hành pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường, vị trí độc quyền là công cụ có hiệu quả hơn cả vì nó là phương thức để đưacác công cụ điều tiết cạnh tranh khác vào nền kinh tế thị trường
III Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về lạm dụng vị trí thống lĩnh,
vị trí độc quyền.
1 Tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đến cạnh tranh nói chung và nền kinh tế nói riêng.
a) Mặt tích cực.
Trang 11Thống lĩnh thị trường, và độc quyền góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ,tập trung nguồn lực để phát triển, nhất là các ngành kinh tế mũi nhọn Sau khi đãxác lập được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các công ty thống lĩnh thị trường,công ty độc quyền nhanh chóng thành những tập đoàn hùng mạnh Sự tích tụ và tậptrung nguồn lực vào tay một hoặc một nhóm doanh nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnhnghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng quy mô, tăng năng suất laođộng, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá cho bản thân doanh nghiệp vàcho ngành sản xuất đó3 Sự mở rộng về quy mô sản xuất, đến lượt nó sẽ tạo độnglực kích thích trở lại các doanh nghiệp, trên thực tế ai cũng biết rằng lợi nhuận củamột doanh nghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản xuất kinh doanh.
b) Mặt tiêu cực.
Vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đi ngược lại trật tự cạnh tranhkhông lành mạnh, kìm hãm độc lực phát triển của nền kinh tế Khi đã có vị tríthống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnhcủa mình bằng cách tiêu diệt các đối thủ tiềm năng, hạn chế sự xuất hiện trên thịtrường của các đối thủ này Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh trên thươngtrường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để doanh nghiệpphát triển
Nó tạo ra nguy cơ khủng hoảng và suy thoái của nền kinh tế Các doanhnghiệp thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền sử dụng vị thế này vàoviệc tự định giá cả hàng hoá độc quyền, kìm hãm số lượng hàng hoá để tăng giábán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổi mới công nghệ,tăng năng suất nữa Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các công tythống lĩnh, công ty độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến bị suy giảm và suythoái của cả một ngành sản xuất nào đó Sự khan hiếm của hàng hoá và giá cả leothang do tình trạng thống lĩnh thị trường, tình trạng độc quyền gây ra sẽ là nguyên
3 Xem: Đặng Vũ Huân, Luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án