1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trẻ em bị bỏ rơi thực trạng và giải pháp hạn chế

17 579 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vị trí quan trọng của trẻ em trong gia đình và xã hội, cũng như tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực tế vẫn đang xảy ra trong xã hội, văn bản pháp lí quốc tế quan trọng nhất về

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 Luật BVCS&GDTE

Bộ luật dân sự BLDS

Bộ luật hình sự BLHS Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục BVCS&GD Lao động, thương binh và xã hội LĐTB&XH

Trang 2

A – LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, trẻ em đang là đối tượng được toàn xã hội quan tâm hàng đầu Đặc biệt

là nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em

có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ

em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp

luật Trong bài tập nhóm lần này nhóm 5 xin được lựa chọn đề bài số 5: “Trẻ em bị bỏ rơi - thực trạng và giải pháp hạn chế” Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô

và các bạn để bài viết thêm hoàn thiện Bọn em xin chân thành cảm ơn !!

B – NỘI DUNG

I, Thực trạng về trẻ em bị bỏ rơi

1 Những thành tựu đã đạt được

Trẻ em là đối tượng hết sức quan trọng Đối với gia đình, trẻ em là thành viên nhỏ tuổi nhất, nhưng lại là cầu nối hạnh phúc, tình yêu cho tất cả các thành viên trong gia đình Hơn thế, trẻ em còn là chủ nhân của xã hội ngày mai, lực lượng nòng cốt vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Xuất phát từ vị trí quan trọng của trẻ em trong gia đình và xã hội, cũng như tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực tế vẫn đang xảy ra trong xã hội, văn bản pháp lí quốc tế quan trọng nhất về quyền trẻ em đã ra đời Đó là Công ước quốc

tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC) Từ sau khi Công ước ra đời, đời sống của trẻ em trên toàn thế giới ngày càng được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em bị bỏ rơi

Là một thành viên của Công ước, Việt Nam đã tích cực trong việc tham gia, đưa

ra nhiều chính sách và đạt được những thành tựu nhất định

Trang 3

- Thành tựu trong xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến hạn chế tình trạng trẻ em bị bỏ rơi.

Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới cam kết thừa nhận tính pháp lý về các quyền trẻ em Bằng chứng là Việt Nam sớm có Luật quốc gia cam kết thực hiện Công ước quyền trẻ em (Luật BVCS&GDTE năm 1991, năm 2004) Theo pháp luật Việt Nam thì quyền trẻ em và công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được thể hiện thông qua

hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức,

cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải xử lý theo quy định của pháp luật Hệ thống pháp luật nước ta có liên quan đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCS&GD) trẻ em, có thể thấy qua các văn bản pháp luật như: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật BVCS&GD trẻ em năm 2004, Luật Bình Đẳng giới năm 2007 và các văn bản hướng dẫn khác…

+ Hiến pháp năm 1992 - văn kiện pháp lí quan trọng nhất của nước ta đã thể hiện

có tính nguyên tắc sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Cụ thể như: quyền được sống, tồn tại, được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 40, 63), quyền được giáo dục (Điều 35), trẻ em thiệt thòi, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa cũng được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (Điều 59, Điều 67)

+ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: Được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 , có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 (thay Luật BVCS&GDTE năm 1991) Theo đó, trẻ em là công dân dưới 16 tuổi, mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ chăm sóc, đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và công dân, các quyền trẻ em phải được tôn trọng, mọi hành vi xâm hại trẻ em đều bị nghiêm trị Luật BVCS&GDTE đã quy định 10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó nghiêm cấm hành vi cha mẹ bỏ rơi con Luật

Trang 4

còn xếp trẻ em bị bỏ rơi vào nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 40) cần được cộng đồng quan tâm hơn cả và quy định một điều khoản riêng cho nhóm đối tượng là trẻ

em bị bỏ rơi tại Điều 51 của Luật: “1 Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ

rơi được Uỷ ban nhân dân địa phương giúp đỡ để có gia đình thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập 2 Nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị

bỏ rơi 3 Nhà nước có chính sách trợ giúp gia đình, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em

bị bỏ rơi”.

+ Trẻ em bị bỏ rơi, dẫn đến tình trạng chúng phải tự kiếm sống để trang trải cho cuộc sống của mình, do đó dẫn dễ tình trạng bị bóc lột sức lao động, phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm, và bị xâm hại Dự liệu được thực trạng này pháp luật cũng đưa ra những biện pháp cụ thể để xử lý Cụ thể:

Pháp luật hình sự nước ta quy định rất nghiêm khắc để trừng trị đối với các hành

vi vi phạm tội xâm hại đến quyền trẻ em và các quyền trẻ em, nhìn chung các tội xâm phạm hại đến trẻ em trong Bộ luật Hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng Chẳng hạn một số tội danh như: Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252), Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256), tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112)

Bộ luật Lao động cũng có những quy định liên quan đến lao động trẻ em: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi và có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ, tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định

kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên (Điều 119); cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTB&XH quy định (Điều 120); cấm sử

Trang 5

dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại (Điều 121)

- Thành tựu trong thực tiễn triển khai các chính sách:

+ Trong chỉ thị 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 của Thủ tướng chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đánh giá: sau gần 10 năm thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ngành, đoàn thể, sự chăm lo cho trẻ em của mỗi gia đình, cộng đồng, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: đã đạt được hoặc vượt nhiều mục tiêu, chỉ tiêu đến năm

2010 về chăm sóc sức khỏe giáo dục cho trẻ em

Tính đến năm 2010 nước ta đã có khoảng hơn 160.000 trẻ em mồ côi, trong số 88.000 em đó Nhà nước giải quyết trợ cấp xã hội thường xuyên khoảng 60.000 em bao gồm 10.000 em đang được nuôi dưỡng, chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội với mức trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng, với mức trợ cấp tối thiểu là 120.000 đồng/em/ tháng và còn lại do họ hàng cộng đồng cưu mang Theo số liệu nghiên cứu trong năm

2010 tại Hà Nội số trẻ em lang thang giảm 4.558 em (1999), giảm 1000 em (2010), TPHCM giảm 10.000 em (2002), giảm 8.000 em (2010) 1

Trong những năm qua, Sư thầy Thích Đàm Khoa (trụ trì chùa Trăm Gian ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội), đã tự tay chăm sóc, nuôi dưỡng gần 30 trẻ

em bị bỏ rơi ở chùa từ lúc sơ sinh, sư thầy ghi nhớ đặc điểm nhận dạng, những vật dụng

đi kèm khi trẻ nhập chùa để sau này có cơ hội giúp các bé nhận lại người thân Đồng thời, tại nhà nuôi dưỡng trẻ ở Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội số II (xã Yên Bài, Ba Vì, Hà Nội) và nhiều trung tâm bảo trợ xã hội khác cũng thường xuyên

"nhặt" được trẻ bị bỏ rơi Thống kê từ năm 2004 đến năm 2012, có khoảng 176.000 trẻ

em mồ côi và bị bỏ rơi trên toàn quốc Trong đó, ít nhất 21.000 trẻ phải sống trong các

cơ sở chăm sóc tập trung bao gồm trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị nhiễm HIV, bị khuyết

1 www.molisa.gov.vn

Trang 6

tật Tỷ lệ trẻ được cho làm con nuôi (phần lớn là trẻ bị bỏ rơi) tăng gấp 4 lần so với trước năm 2004

Nhiều người dân có tấm lòng hảo tâm đã đóng góp vào những quỹ từ thiện, tạo điều kiện cho những mảnh đời có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt là trẻ em bị bỏ rơi được hưởng những điều kiện chăm sóc, phát triển tốt nhất Ví dụ như: tính đến thời điểm tuần

2 tháng 3 năm 2014 quỹ Nhân ái - Báo điện tử Dân trí tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của bạn đọc dành cho các cảnh đời kém may mắn Tổng số tiền bạn đọc gửi về là: 974.383.352 đồng.2

Thời gian vừa qua dư luận dấy lên vụ bé trai bị bỏ rơi ngoài vườn hoang Súc vật cắn mất một phần cơ thể, bé đã được chị Trần Mai Anh nhận nuôi và nhận được sự giúp

đỡ của các bác sĩ, những “bà mẹ” trên webtretho và hàng vạn những tấm lòng, bé đã khôn lớn từng ngày.3

2 Những khó khăn còn tồn tại

Ngoài những thành tựu đạt được trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong quá trình thực hiện các chính sách liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình trạng trẻ em bỏ rơi vẫn xảy ra và trong một vài năm gần đây có biểu hiện gia tăng

Trên thế giới, hiện nay có khoảng 200 triệu trẻ em phải sống hay làm việc ngoài đường phố Tại Nam Mỹ có ít nhất 40 triệu trẻ em sống lang thang trên các đường phố; tại Châu Á có khoảng 30 triệu, và toàn Châu Âu có khoảng 25 triệu trẻ em và người trẻ sống lang thang trên các đường phố Người ta ước đoán rằng vào năm 2020 trên toàn thế giới sẽ có 800 triệu trẻ em sống lang thang trên đường phố Theo tổ chức UNICEF, các trẻ em đường phố là các trẻ em phải làm việc để phụ giúp gia đình, hay các trẻ em

bị bỏ rơi không có gia đình nên sống và ngủ trên đường phố Các em là những người nghèo khổ nhất, dễ bị thương tích nhất, và không được ai bênh đỡ Các em bị đưa đẩy vào một thế giới bạo lực, dói khát và bị lạm dụng Để sống còn đa số các em phải làm

2 http://dantri.com.vn/danh-sach-ung-ho/danh-sach-ung-ho-tuan-02-thang-03-nam-2014-853708.htm.

3 http://dantri.com.vn/tam-long-nhan-ai/co-tich-phung-thien-nhan-232046.htm.

Trang 7

việc mỗi ngày hơn 10 giờ Các em làm đủ mọi nghề: bán báo, đánh giầy, rửa xe, đẩy xe, nhặt sắt vụn, giữ xe, làm phu khuân vác, hay ăn xin,thậm chí còn hành nghề mại dâm, dẫn khách hay bán ma túy Một số khác nữa thì làm nghề móc túi, trộm cắp Số khác nữa làm việc lau chùi, hay trong lãnh vực nông nghiệp, đúc gạch, khuân gạch Bên châu

Mỹ Latinh nhiều em làm việc trong các hầm mỏ vất vả như người lớn và chết trẻ Bên Phi châu có hàng trăm ngàn trẻ em bị bắt làm chiến binh, bị bắt buộc phải dùng ma túy

và tập bắn giết Các trẻ em đường phố ăn những gì có thể ăn được, trong các thùng rác, chỗ thải đồ dư thừa sau quán ăn, những gì ăn trộm được nhưng luôn thiếu dinh dưỡng

Các em ngủ ở những nơi nào các em cảm thấy an ninh: tại cửa của một kho chứa hàng, trên một chiếc ghế dài trong công viên, trên các sạp hán hàng ngoài chợ, cạnh một ngọn lửa ngoài bãi biển, trên các bậc thềm của nhà ga xe lửa, dưới các hầm cầu Giường của các em là một mảnh bìa cứng, một chiếc cáo choàng cũ, các tờ báo Nếu may mắn có một đôi giầy, các em để dưới đầu làm gối để khỏi bị lấy mất Các em không biết khi nào sẽ bị giầy cảnh sát đá đánh thức đậy, hay bị xe rửa đường xịt nước lạnh, hoặc nhận được một viên đạn của các nhân viên gác đêm hay các cảnh sát được trả tiền dọn sạch đường phố

Còn ở Việt Nam, số lượng trẻ em bị bỏ rơi cũng ngày càng tăng Theo Bộ

LĐTB&XH, từ 2004 đến năm 2012, có khoảng 176.000 trẻ em mồ côi và bị bở rơi trên toàn quốc Trong đó, ít nhất 21.000 trẻ sống trong các cơ sở chăm sóc tập trung, gồm trẻ

em bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị HIV, bị khuyết tật… Các số liệu định tính cho thấy, tình trạng trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa đang có xu hướng gia tăng Đáng chú ý có 80% trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài được cho là “bị bỏ rơi” Số trẻ em “bị

bỏ rơi” được nhận làm con nuôi tăng 400% Có tới 80-90% số trẻ em bị bở rơi nhiều nhất là Quảng Ngãi, Tiền Giang, Đồng Nai, Nam Định, lạng Sơn, Long An, An Giang, Điện Biên, Hà Nội, Thái Bình Ví dụ: năm 2011, Quảng Ngãi có 2.277 trẻ em bị bỏ rơi, Tiền Giang có 1.125 trẻ Đồng Nai có 628 trẻ…

Trang 8

Nhìn nhận về tình trạng này có nhiều ý kiến đánh giá khách quan Ví dụ: Theo bà

Lê Thị Hồng Loan, Trưởng Chương trình chăm sóc và bảo vệ trẻ em Liên Hợp quốc lo

ngại: “Số trẻ em bị bỏ rơi, không nơi nương tựa đang có xu hướng gia tăng Những

năm gần đây, nhiều vụ trẻ em bị bỏ rơi vô cùng thương tâm, là thực trạng đáng lo ngại đòi hỏi Nhà nước kịp thời có biện pháp khắc phục”

Vài năm gần đây, thông tin phát hiện trẻ sơ sinh, trẻ tật nguyền bị bỏ rơi ngày càng nhiều Đáng quan tâm, không ít trong số đó, khi được phát hiện, có em đã tử vong, còn nhiều em, do bị vứt bỏ ở những nơi hoang vắng, được phát hiện muộn nên đã bị các loại côn trùng, động vật cắn, dẫn đến thương tật suốt đời Ví dụ: Tháng 7/2006, người dân phát hiện trong vườn hoang một bé sơ sinh đang thoi thóp với cơ thể tím đen, trên mình hằn đầy những vết cắn, nhấm Cháu bé được đưa đến bệnh viện Đa khoa Quảng Nam trong tình trạng một chân phải và bộ phận sinh dục của cháu bị mất.Cậu bé mang một số phận đau đớn đã bị chính mẹ đẻ vứt bỏ rơi khi còn đỏ hỏn, đầm đìa máu và dây rốn đã trở thành miếng mồi cho thú hoang Em bé đã bị ăn mất bộ phận sinh dục, cả hai tinh hoàn, chân phải cũng bị ăn cụt lên tận háng

Hoặc gần đây, những đứa trẻ bị bỏ rơi đa số là trẻ em nhiễm HIV hoặc bị dị tật Nhiều trường hợp, người mẹ (thường là rất trẻ) sau khi sinh con đã bỏ đi nơi khác Khi các Trung tâm xác định được địa chỉ và yêu cầu họ đến bổ sung các thông tin cho trẻ nhưng bị họ từ chối vì muốn giấu kín việc đã từng sinh con Điều này khó khăn cho Trung tâm khi lập hồ sơ Những vấn đề này cho thấy sự xuống cấp và kém nhận thức

và đạo của một số bộ phận xã hội, điều thật sự cần phải lên án

Ví dụ: Tại bệnh viện Từ Dũ, có một trường hợp bỏ con khá thương tâm Người

mẹ trẻ này là một cô bé mới 14 tuổi, ở Đắk Lắk Gia đình nghèo lại đông anh em, em phải đi bán vé số kiếm sống Một buổi tối, em đã bị kẻ xấu dụ dỗ cưỡng bức.Tại bệnh viện Từ Dũ, em được mổ lấy thai Bé gái chỉ nặng 2 kg Bà nội em nước mắt lưng tròng

Bà nói tiếng được tiếng mất với bác sĩ trực hôm ấy đại ý là bà xin đưa cháu về, còn đứa trẻ mới sinh thì nhờ bệnh viện nuôi giùm

Trang 9

Theo thống kê, trong năm 2005, tại bệnh viện Từ Dũ có 308 trẻ em bị bỏ rơi Những trẻ này phần lớn có sức khỏe bình thường nhưng do người mẹ có hoàn cảnh đặc biệt nên không thể nuôi con Hầu như không ai biết chính xác về những người mẹ đã bỏ con vì họ thường ra đi đột ngột, cố tình khai địa chỉ giả khi nhập viện Còn tại bệnh viện Hùng Vương cũng đã ghi nhận được 35 trẻ bị bỏ rơi trong năm qua, chủ yếu là trẻ được sinh ra tại bệnh viện, trẻ đang điều trị ở khoa nhi hoặc có trẻ ở ngoài được ẵm đến bỏ trong bệnh viện Trên đây chỉ là số ít trong số những vụ việc thương tâm về việc trẻ em

bị cha mẹ, người thân bỏ rơi tại Việt Nam Qua đó chúng ta có thể thấy được đây chính

là một hồi chuông cảnh báo về việc tình trạng trẻ em bị bỏ rơi vẫn là một trong những hiện tượng nhức nhối của toàn xã hội nói chung

II, Nguyên nhân và giải pháp hạn chế tình trạng trẻ em bị bỏ rơi

1 Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bị bỏ rơi

Trước khi đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, trước hết, chúng ta phải tìm hiểu xem những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, từ đó mới

có thể tìm ra các giải pháp đúng đắn Cụ thể, ở Việt Nam:

- Nguyên nhân từ phía các cơ quan nhà nước, xã hội:

+ Công tác, giáo dục, tuyên truyền chưa được đẩy mạnh: Những người làm cha

làm mẹ rất cần được trang bị kiến thức cụ thể về sức khoẻ sinh sản và những quy định

về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, để biết cách phòng, tránh và chịu trách nhiệm Thế nhưng qua khảo sát thì hiện tại các bệnh viện, hầu như không có các panô,

áp phích, tờ rơi tuyên truyền về nội dung này; chưa có lực lượng làm hoạt động công tác

xã hội bệnh viện để có thể trợ giúp kịp thời cho các sản phụ yếu thế Chính việc “trắng” kiến thức về sức khoẻ sinh sản và không được trợ giúp khi cần thiết đã khiến không ít sản phụ trẻ “lỡ dại”, sinh con một mình lựa chọn cách bỏ trốn thay vì đương đầu với trách nhiệm làm mẹ

+ Mức trợ cấp cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: Gia đình là môi trường tốt

nhất cho trẻ em phát triển Vì thế, việc hỗ trợ các bà mẹ đơn thân, gia đình nghèo để họ

Trang 10

đủ sức đương đầu với khó khăn, dũng cảm nuôi con là giải pháp hiệu quả để tránh xảy

ra những chuyện đau lòng Tuy vậy, Cục trưởng Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em (Bộ LĐTB&XH) Nguyễn Hải Hữu cho rằng, hiện tại mức trợ cấp xã hội dành cho trẻ gặp hoàn cảnh khó khăn ở Việt Nam là 180.000 đồng/tháng, cao nhất là 360.000 đồng/1 tháng, chỉ bằng 20% mức sống trung bình năm 2011 Chỉ 30% trẻ em khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế

+ Hạn chế trong vấn đề làm thủ tục cho trẻ bị bỏ rơi ở Việt Nam: Theo Nghị định

số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch,việc tìm cha mẹ đẻ cho trẻ bị bỏ rơi được thực hiện trên Đài phát thanh hoặc truyền hình nhưng không quy định cụ thể nên

có nơi thông báo trên… loa truyền thanh của xã, thông báo vào lúc 5h sáng nên hạn chế

cơ hội tiếp cận thông tin Mới đây, trong cuộc làm việc giữa Sở Tư pháp Hà Nội với đại diện Sở LĐTB&XH, Phòng quản lý xuất nhập cảnh, PC14 và các Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm nuôi dưỡng người già và trẻ tàn tật trên địa bàn thành phố, Sở Tư pháp cũng đã thừa nhận một trong những lỗi mà các Trung tâm thường mắc phải là chưa thực hiện nghiêm các quy trình thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc tìm cha mẹ đẻ (thông báo không đủ hoặc không đúng quy định) Một hiện tượng khác được nhiều Sở Tư pháp phản ánh, do cả mẹ đẻ và người xin nhận con nuôi đều muốn dấu thông tin về cá nhân mình nên đã tự thỏa thuận với nhau tại bệnh viện nơi sinh em bé, rồi về địa phương nơi cư trú yêu cầu UBND cấp xã lập biên bản xác nhận trẻ bị… bỏ rơi Trong trường hợp này, UBND không thể biết được về sự “thỏa thuận ngầm” trước

đó nên nhiều nơi vẫn lập biên bản xác nhận Theo lý giải, nếu không lập mà không có chứng cứ về sự gian dối thì rất dễ bị dân kiện

+ Các biện pháp xử lí chưa triệt để: Chính cách nhận thức và xử lý đối với các

hành vi vứt bỏ trẻ sơ sinh chưa thực sự triệt để, thậm chí chưa đúng pháp luật của các cơ quan chức năng, đã dẫn tới tình trạng coi thường pháp luật Pháp luật hiện hành có khá nhiều điều luật nhằm bảo vệ trẻ em, nhưng lại thiếu chế tài cụ thể để xử lý đối với những trường hợp chối bỏ nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con Theo Điều 94 BLHS,

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w