1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng pháp luật cạnh tranh việt nam về tập trung kinh tế

17 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 133 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, có ba cách tiếp cận cơ bản: Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Lý luận chung về tập trung kinh tế 1

1 Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế 1

2 Các quy định trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế 2

2.1 Quy định về hình thức tập trung kinh tế như sau: 2

2.2 Luật cạnh tranh quy định về chủ thể thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế.5 2.3 Quy định về các trường hợp kiểm soát tập trung kinh tế 5

2.4 Quy định về kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài: 7

2.5 Luật cạnh tranh quy định về thủ tục thông báo tập trung kinh tế 7

2.6 Quy định các biện pháp khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế 8

II Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế 9

1 Tình hình hoạt động M&A tại Việt Nam những năm gần đây 9

2 Thực trạng về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế 10

III Kiến nghị hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về tập trung kinh tế 12

1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế 12

2 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế 14

C KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều xáo trộn do cuộc khủng hoảng tài chính và nợ công, các hoạt động tập trung kinh tế (TTKT) có bước tăng trưởng mạnh mẽ ở Việt Nam Hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) có thể giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư tiến hành tái cơ cấu, qua đó mở rộng và tiếp tục phát triển hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, đem lại lợi ích cho nhà đầu tư và góp phần giúp các nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng Tuy nhiên, hoạt động TTKT cũng tiềm ẩn những yếu tố hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và có thể gây ra ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh Chính vì vậy một nhu cầu bức thiết đặt ra là cần phải có một hành lang pháp lý cơ bản và đầy đủ để điều chỉnh hiện tượng tập trung kinh tế Từ đó, Quốc hội đã ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004

và Chính Phủ ban hành nhiều Nghị định liên quan để kịp thời thực hiện việc kiểm soát hiện tượng tập trung kinh tế Trong gần 10 năm thực hiện (2004-2012), pháp luật cạnh tranh đã làm được những gì và thực tiễn hiện tượng TTKT diễn ra dưới sự điều

chỉnh của Luật cạnh tranh như thế nào? Em xin chọn đề tài: “Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế” để tìm hiểu vấn đề này.

I Lý luận chung về tập trung kinh tế.

1 Khái niệm và bản chất pháp lý của tập trung kinh tế.

Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, khái niệm TTKT ở Việt Nam được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau Trong đó, có ba cách tiếp cận cơ bản:

Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu

trúc thị trường, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trê thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở

mở rộng năng lực sản xuất Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và ảnh hưởng của TTKT đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh

Trang 3

Hai là, với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tập

trung tư bản) được hiểu là sự gia tăng tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Khái niệm này không đưa ra các biểu hiện cụ thể của TTKT, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng

Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh 2004 không quy định thế nào là

tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là TTKT Theo đó, khoản 3 điều

3 khẳng định TTKT là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định TTKT là hành

vi của doanh nghiệp gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp…

Như vậy, cho dù được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, TTKT vẫn có các bản chất cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ thể của TTKT là các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị

trường Các doanh nghiệp tham gia TTKT có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trương liên quan

Thứ hai, hành vi TTKT được thể hiện dưới những hình thức nhất định theo quy

định của pháp luật, cụ thể bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp

Thứ ba, TTKT đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp

hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường

2 Các quy định trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế.

Luật cạnh tranh năm 2004 quy định về các hình thức TTKT, các biện pháp kiểm soát và nguyên tắc xử lý đối với TTKT trên thị trường Việt Nam Đây là văn bản đầu tiên quy định một cách toàn diện các vấn đề về cạnh tranh và chính thức đặt ra các vấn đề sáp nhập, hợp nhất chuyển nhượng vốn, cổ phần, tài sản và liên doanh dưới góc độ của việc bảo vệ thị trường cạnh tranh Cụ thể như sau:

2.1 Quy định về hình thức tập trung kinh tế như sau:

Sáp nhập doanh nghiệp:

Trang 4

Khoản 1 Điều 17 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là

việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập” Như vậy, sau khi sáp nhập, doanh nghiệp bị sáp nhập

không còn tồn tại và bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp bị sáp nhập không còn tồn tại còn doanh nghiệp nhận sáp nhập được hưởng toàn bộ tài sản cũng như các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập Công ty nhận sáp nhập được hưởng quyền, lợi ích hợp pháp và chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập

Hợp nhất doanh nghiệp:

Khoản 2 Điều 17 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Hợp nhất doanh nghiệp là

việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất” Như vậy, sau khi đăng ký kinh doanh, các

doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các doanh nghiệp bị hợp nhất

Mua lại doanh nghiệp:

Khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh năm 2004 định nghĩa: “Mua lại doanh nghiệp

là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác

đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.

Mua lại doanh nghiệp bao gồm các trường hợp: mua lại toàn bộ và mua lại một phần doanh nghiệp

Mua lại toàn bộ doanh nghiệp về bản chất chính là hình thức sáp nhập doanh nghiệp Bởi vì khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của doanh nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó Chỉ có một điểm khác biệt giữa hai hình thức này, đó là việc doanh nghiệp bị mua lại có chấm dứt tồn tại hay không? Tùy thuộc

Trang 5

vào ý chí chủ quan của doanh nghiệp mua, nếu doanh nghiệp bị mua chấm dứt hoạt động thì đó chính là sáp nhập, còn nếu nó tiếp tục hoạt động như một chủ thể kinh doanh độc lập thì sẽ trở thành công ty con trong một tập đoàn kinh tế

Mua lại một phần doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức mua tài sản, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp bị mua đó Theo điều 34 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh thì kiểm soát hoặc chi phối toàn

bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp khác là trường hợp một doanh nghiệp (gọi

là doanh nghiệp bị kiểm soát) đủ chiếm được trên 50% quyền bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị hoặc ở mức mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp bị kiểm soát đủ để doanh nghiệp kiểm soát chi phối các chính sách tài chính là hoạt động của doanh nghiệp bị kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị kiểm soát

Ngoài ra, Điều 35 nghị định 116 còn quy định trường hợp mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung kinh tế

Liên doanh giữa các doanh nghiệp:

Khoản 4 Điều 17 Luật cạnh tranh 2004 quy định: “Liên doanh giữa các doanh

nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.”

Luật cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về liên doanh nhưng không nói đến quốc tịch của các bên liên doanh, do đó có thể hiểu rằng việc liên doanh có thể tiến hành giữa các Doanh nghiệp Việt Nam với nhau hoặc giữa một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam với một hoặc nhiều doanh nghiệp nước ngoài, miễn là có mục đích thành lập một doanh nghiệp mới

Hành vi liên doanh giữa các doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp cùng nhằm mục đích là tạo ra chủ thể pháp lý mới trên thị trường có sức mạnh kinh tế lớn hơn song sự khác biệt cơ bản giữa hai hành vi được thể hiện ở chỗ: Đối với hành vi hợp nhất doanh nghiệp, sau khi chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành doanh nghiệp mới thì sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất

Trang 6

được chấm dứt về mặt pháp lý Còn đối với hành vi liên doanh, các doanh nghiệp chỉ góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, song các doanh nghiệp góp vốn liên doanh vẫn tồn tại địa vị pháp lý của mình

2.2 Luật cạnh tranh quy định về chủ thể thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế

Theo Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004, chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam có tên gọi lại Cục quản lý cạnh tranh Đây là cơ quan thuộc Bộ Công thương Quyền hạn của cơ quan này được qui định rõ tại Điều 49 Luật cạnh tranh năm 2004 và Điều 2 Nghị định 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cục Quản lý cạnh tranh

Về Hội đồng cạnh tranh, theo Điều 53 Luật cạnh tranh, đây là cơ quan do Chính Phủ thành lập, có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Hội đồng cạnh tranh chỉ hoạt động dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá và xem xét của các Điều tra viên về những hành vi hạn chế cạnh tranh do cơ quan quản lý cạnh tranh gửi đến Vì vậy giữa

cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh tồn tại mối quan hệ với nhau khi giải quyết vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, trong đó hội đồng cạnh tranh tham gia vào “công đoạn cuối cùng” của một vụ việc liên quan đến hạn chế cạnh tranh

2.3 Quy định về các trường hợp kiểm soát tập trung kinh tế

Theo quy định của Luật Cạnh tranh thì không phải mọi trường hợp TTKT đều bị pháp luật ngăn cản (vì những trường hợp này không làm thay đổi đáng kể cấu trúc thị trường) Cụ thể, việc kiểm soát TTKT được thực hiện bởi các biện pháp tăng dần như sau:

2.3.1 Trường hợp TTKT hoàn toàn tự do:

Pháp luật Việt Nam đã sử dụng tiêu chí thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan để kiểm soát TTKT, đây là một tiêu chí được nhiều quốc gia lựa

Trang 7

chọn Theo đó, tại khoản 1 Điều 20 Luật cạnh tranh, các doanh nghiệp có quyền tự do thực hiện việc TTKT trong những trường hợp sau:

- Tất cả những trường hợp TTKT mà có thị phần kết hợp dưới 30% thì không bị cấm và cũng không phải có nghĩa vụ thông báo;

- Những trường hợp TTKT mà có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% cũng không

bị cấm và không cần thông báo, nếu căn cứ vào sức mạnh cụ thể của doanh nghiệp trong thị trường mà chúng vẫn được xếp vào loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật

2.3.2 Trường hợp TTKT phải thông báo:

Tại đoạn 1 khoản 1 Điều 20 Luật cạnh tranh quy định: “Các doanh nghiệp tập

trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50 % trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế” Trong các trường hợp này, các doanh nghiệp

chỉ có thể thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thông báo và được cơ quan quản lý cạnh tranh chấp thuận Đây là một quy định đúng đắn, bởi trong khoảng thị phần đó chúng ta không thể buông lỏng cho các doanh nghiệp những cũng không thể cấm họ thực hiện TTKT

2.3.3 Trường hợp TTKT bị cấm và ngoại lệ của các trường hợp bị cấm:

 Các trường hợp bị cấm:

Bên cạnh các trương hợp nêu trên, tại Điều 18 Luật cạnh tranh còn quy định các

trường hợp TTKT bị cấm: “cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các

doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”.

Đây là một quy định hợp lý, bởi vì thực tế cho thấy những vụ việc TTKT có thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh, dẫn đến hình thành một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan, đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lại trên thị trường đứng trên bờ phá sản

 Các trường hợp miễn trừ đối với TTKT bị cấm và thủ tục miễn trừ

Trang 8

Các tình huống về TTKT diễn ra trên thực tế rất đa dạng cho nên pháp luật cạnh tranh nước ta còn dự liệu các trường hợp TTKT được hưởng miễn trừ Đây là thủ tục cho phép hưởng ngoại lệ có thời hạn của những diện TTKT bị tuyên bố là cấm Điều

19 Luật cạnh tranh quy định: “Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của

Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây: 1 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; 2 Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ” Thẩm quyền cho hưởng

miễn trừ theo khoản 1 thuộc về Bộ trưởng Bộ Công Thương; theo khoản 2 thuộc Thủ tướng Chính phủ (Điều 25) Trình tự và thủ tục xin hưởng miễn trừ TTKT được thực hiện thay cho thông báo TTKT và tương tự như thủ tục xin miễn trừ cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định từ Điều 35 đến Điều 38 của Luật Cạnh tranh

2.4 Quy định về kiểm soát tập trung kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Hiện nay Luật cạnh tranh Việt Nam chưa có quy định cụ thể điều chỉnh các khía cạnh của một vụ việc TTKT có liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các quy định của pháp luật cạnh tranh mới chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh về thủ tục chung khi tiến hành TTKT với nhà đầu tư nước ngoài và điều chỉnh việc mua

cổ phần Doanh nghiệp Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Điều 13 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp, theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền góp vốn và mua cổ phần không hạn chế tại doanh nghiệp Như vậy, các quy định của pháp luật cạnh tranh về TTKT đối với nhà đầu tư nước ngoài còn rất nghèo nàn và hạn chế, đây là một lỗ hổng của Luật cạnh tranh Việt Nam và nhà làm luật cần nhanh chóng có sự bổ sung

để khiến cho hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề TTKT hiện nay vững chắc hơn, toàn diện hơn

2.5 Luật cạnh tranh quy định về thủ tục thông báo tập trung kinh tế

Thứ nhất là thủ tục thông báo TTKT, thủ tục này chỉ áp dụng đối với các vụ

việc TTKT mà thị phần kết hợp từ 30% đến 50% như trên đã phân tích

Trang 9

Thứ hai, với trường hợp phải thông báo về việc TTKT, các chủ thể phải chuẩn

bị hồ sơ thông báo về TTKT Điều 21 Luật canh tranh năm 2004 quy định cụ thể về

hồ sơ thông báo TTKT

Thứ ba, sau khi các chủ thể nộp hồ sơ thông báo về vụ việc TTKT, cơ quan

quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thụ lý hồ sơ, và trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể

từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ chỉ rõ những nội dung cần bổ sung Trường hợp hồ sơ đã hợp lệ thì trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ,

cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp có được phép thực hiện TTKT hay không, tức là có thuộc trường hợp bị cấm

Thứ tư, nếu không thuộc trường hợp TTKT thì sau khi nhận được văn bản trả

lời, các doanh nghiệp được tiến hành TTKT

2.6 Quy định các biện pháp khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế

 Các biện pháp khắc phục hậu quả:

Luật cạnh tranh cũng như các văn bản dưới luật chưa đề cập đến các biện pháp khắc phục hậu quả mà chỉ ghi nhận như một biện pháp xử phạt vi phạm tại khoản 3 Điều 117 Luật cạnh tranh Các biện pháp này phản ánh tính ít đa dạng hơn, thứ hai chỉ áp dụng sau khi hành vi vi phạm đã xảy ra cho nên hiệu quả áp dụng không cao

 Xử lý vi phạm trong tập trung kinh tế:

Việc xử lý vi phạm trong TTKT được thực hiện theo quy trình tố tụng, trong đó

Cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng điều tra vụ việc và Hội đồng cạnh tranh có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm bằng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính theo các qui định của Luật cạnh tranh và Nghị định 120/NĐ-CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh

Các hình thức và mức độ xử lý vi phạm TTKT được quy đinh tại Điều 25 đến Điều 29 Nghị định 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh, bao

Trang 10

gồm: phạt tiền; buộc thực hiện chia tách các doanh nghiệp đã hợp nhất, sáp nhập; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc bị buộc bán tài sản,…

Thủ tục xử lý vi phạm pháp luật về TTKT phải tuân theo trình tự thủ tục trong tố tụng cạnh tranh quy định tại Chương V Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và chương II Nghị định 116/2006/NĐ-CP

Việc thực hiện quyết định xử lý vi phạm pháp luật về TTKT được quy định tại mục 3 Chương II Nghị định 120, theo đó thời hạn thực hiện quyết định xử lý vi phạm

là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, nếu hết thời hạn nêu trên mà các tổ chức, cá nhân bị xử lỷ không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế

Ngoài các quy định trong Luật cạnh tranh, TTKT còn được quy định trong một

số văn bản khác như: Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật chứng khoán 2006…và một số văn bản hướng dẫn thi hành

II Thực trạng pháp luật cạnh tranh Việt Nam về tập trung kinh tế

1 Tình hình hoạt động M&A tại Việt Nam những năm gần đây 1

Trong 3 năm 2009 - 2011, giá trị giao dịch M&A tại Việt Nam có xu hướng tăng mạnh Năm 2009 ghi nhận 295 vụ với tổng giá trị 1,14 tỷ USD, năm 2010 có 245 vụ với tổng giá trị 1,75 tỷ USD và năm 2011 ghi nhận có 266 vụ với tổng giá trị giao dịch đạt kỷ lục là 6,25 tỷ USD Chỉ trong quý 1/2012 đã có trên 60 vụ (giá trị gần 2 tỷ USD) Trong 5 năm gần đây, tăng trưởng hoạt động M&A tại Việt Nam đạt mức bình quân trên 30%

Các vụ TTKT chủ yếu là theo chiều ngang tuy nhiên đã xuất hiện các hình thức TTKT mới như theo chiều dọc nhằm kiểm soát nguồn cung, nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc TTKT dạng tổ hợp để mở rộng lĩnh vực kinh doanh (ví dụ thương vụ ICA là công ty chiếm thị phần lớn trên thị trường các sản phẩm chăm sóc sức khỏe của nam giới dành quyền kiểm soát Công ty Thuận Phát là công

ty đã có vị trí trên thị trường sản xuất nước mắm và các loại gia vị…) hoặc sáp nhập

để tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả hơn (Unilever Quốc tế - Unilever Việt Nam, Kinh Đô – Kinh Đô Miền Bắc…) hoặc thâu tóm gián

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w