Một trong những dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình là dạng hành vi chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác, như gây nhầm lẫn về nguồn gốc
Trang 2MỞ ĐẦU
Hiện nay, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh đang diễn biến khá phức tạp trên thị trường với những hành vi rất đa dạng Một trong những dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình là dạng hành vi chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác, như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, xâm phạm bí mật kinh doanh,… Có thể kể đến những vụ việc điển hình trên thực tế như: nước khoáng Lavie được giả mạo nhãn hiệu với các tên gọi thương mại na ná theo kiểu Laville, Leville, La vier,… Xe Wave của hãng Honda với kiểu dáng thanh lịch được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng bị giả mạo với các loại xe Trung Quốc với hình dáng tương tự bằng các tên gọi như Waver, Weaser…
Và rất nhiều những hàng hóa bị sao chép về kiểu dáng, khẩu hiệu kinh doanh,… Hay những vụ việc xâm phạm bí mật kinh doanh điển hình như vụ việc đánh cắp bí mật kinh doanh của công ty Coca-Cola,… Điều này không những khiến cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính phải “đau đầu” mà còn gây ra nhiều bất lợi cho người tiêu dùng
Bài tiểu luận sau đây sẽ đi tìm hiểu pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh và thực tiễn
NỘI DUNG
I Khái quát về hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh
Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh đều là những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại điều 39, điều 40, điều 41
luật cạnh tranh năm 2004
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (khoản 4 điều 3 luật cạnh tranh 2004) Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được chia thành ba nhóm sau: Các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác; các hành vi mang tính chất công kích hoặc cản trở hoạt động kinh
Trang 3doanh của doanh nghiệp khác; các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng của doanh nghiệp khác
* Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh thuộc vào nhóm các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác Đây là nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, được
biết đến dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh
doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác Đây cũng là dạng hành vi gần với các hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sự khác biệt chỉ nằm ở đối tượng bị xâm phạm Trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở số đối tượng nhất định được coi là tài sản trí tuệ sau khi chủ sở hữu xác lập quyền thông qua việc đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ Còn trong trường hợp cạnh tranh không lành mạnh, phạm vi lợi thế cạnh tranh bị xâm phạm có thể rộng hơn rất nhiều, bao gồm tất cả các giá trị, thành quả mà doanh nghiệp cạnh tranh đạt được một cách hợp pháp thông qua quá trình kinh doanh, bao gồm cả những yếu tố công khai như uy tín tên tuổi, chỉ dẫn thương mại hay không công khai như bí quyết kinh doanh
Do dạng hành vi này xâm phạm trước hết đến lợi thế cạnh tranh, cũng được coi là một dạng tài sản của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp này thường tích cực đưa vụ việc đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu sự bảo vệ của pháp luật Do đó, có nhiều vụ việc liên quan đến dạng hành vi lợi dụng được xử lý và dạng hành vi này được coi là phổ biến, điểm hình của cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, trong quá trình xử lý vụ việc, ảnh hưởng đến người tiêu dùng cũng được tính đến khi việc lợi dụng uy tín, thành quả đầu tư của người khác gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ, uy tín hay khả năng kinh doanh của bên vi phạm
Mặt khác, không phải mọi dạng thành quả đầu tư, lợi thế cạnh tranh đều được bảo vệ, có những đối tượng có được từ kết quả phát triển kinh tế xã hội, khoa
Trang 4học kỹ thuật chung của ngành, khi đó các doanh nghiệp có quyền tiếp cận và sử dụng tự do để thúc đẩy hiệu quả kinh doanh Việc ngăn chặn và bảo hộ thái quá có thể gây ảnh hưởng tiêu cực cho sự phát triển chung của ngành Căn cứ vào thực tế từng vụ việc, cơ quan xử lý sẽ đánh giá tính chính đáng trong yêu cầu của doanh nghiệp để bảo vệ quyền lợi trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh
II Pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh và thực tiễn thực hiện.
1 CHỈ DẪN GÂY NHẦM LẪN
1.1> Pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn
* Pháp luật Việt Nam về hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn là một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại điều 40 luật cạnh tranh 2004 và điều 130 luật sở hữu trí tuệ
2005 Theo điều 40 luật cạnh tranh, chỉ dẫn thương mại có thể bao gồm: “Tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý
và các yếu tố khác theo quy định của chính phủ.” Theo khoản 2 điều 130 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chỉ dẫn thương mại quy định là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiện kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao
bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa” Như vậy, chỉ dẫn thương mại có thể được hiểu
là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm gắn liền với hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động của doanh nghiệp nhất định, trải qua quá trình doanh nghiệp sử dụng, đầu tư, quảng bá lâu dài đã trở nên quen thuộc với khách hàng, trở thành những yếu tố chỉ dẫn để khách hàng nhận biết về một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hay về nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó1
Theo các quy định trên, chỉ dẫn gây nhầm lẫn bao gồm hai dạng vi phạm cụ thể sau đây:
+ Một là hành vi sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên
thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý…
Trang 5làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh;
+ Hai là hành vi kinh doanh các sản phẩm có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn.
* Đặc điểm của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là:
Thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi phải là doanh nghiệp theo nghĩa rộng d
không chỉ bao gồm các tổ chức kinh doanh như quy địnhcủa Luật DN 2005, mà còn bao gồm cả cá nhân kinh doanh, trong đó gồm cá nhân có đăng ký kinh doanh
và cá nhân không có đăng ký kinh doanh
Thứ hai: Phương thức thực hiện hành vi là xâm hại đến tên thương mại,khẩu
hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý… có trên sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh Với việc thiết kế dưới dạng các quy phạm cấm đoán, Luật CT 2004 không đưa ra các dấu hiệu để nhận dạng các đối tượng bị xâm phạm này, do đó, phải sử dụng phối hợp các quy phạm định nghĩa trong các văn bản pháp luật hiện hành khác cóliên quan để từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng Hiện nay,Luật SHTT 2005 và Quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoáxuất khẩu, nhập khẩu (được ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ) mới có quy định các dấu hiệu nhận dạng đốivới một số chỉ dẫn về tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bao bì Còn các chỉ dẫn khác trong Luật CT 2004, Luật SHTT 2005 như: biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệukinh doanh đều không được giải thích ở bất cứ văn bản nào trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam
Thứ ba: Mục đích của hành vi là gây nên sự nhầm lẫn của khách hàng giữa
hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hànghoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình Như vậy, hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải cùng trong một thị trường với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranhhoặc cùng trên thị trường liên quan
Cần phân biệt yếu tố “tương tự đến mức gây nhầm lẫn” thể hiện qua các chỉ dẫn thương mại của hai loại sản phẩm Mức độ tương tự càng lớn, khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng càng cao Để đánh giá yếu tố này, cơ quan cạnh tranh sẽ
Trang 6căn cứ trên tính chất, đặc điểm của từng loại sản phẩm, điều kiện thị trường, thói quen tiêu dùng của khách hàng,… để xác định khả năng gây nhầm lẫn và kết luận
về hành vi vi phạm Tuy nhiên, đối với những sản phẩm có các dấu hiệu đặc điểm hoàn toàn trùng nhau thì sẽ không còn được xem xét dưới góc độ cạnh tranh không lành mạnh mà bị coi là trường hợp hàng giả, với tính chất mức độ nghiêm khắc hơn rất nhiều
* Việc xử lý vi phạm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn theo pháp luật Viêt Nam:
Việc xử lý vi phạm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn được quy định tại nghị định 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Cụ thể điều 30 quy định:
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành
vi sau đây: Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình và của doanh nghiệp khác nhằm mục đích cạnh tranh; kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại điểm a khoản này
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các trường hợp sau đây: Hàng hoá, dịch vụ liên quan là các mặt hàng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 của Nghị định này; hàng hoá, dịch vụ được lưu thông, cung ứng trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên
- Ngoài việc bị phạt tiền theo khoản 1 và 2 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn
có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục sau đây: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành
vi vi phạm; buộc cải chính công khai
1.2> Thực tiễn hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn ở Việt Nam.
Hiện nay, đang tồn tại rất nhiều những trường hợp chỉ dẫn gây nhầm lẫn trên thị trường Việt Nam Hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn chủ yếu được biểu hiện qua các vi phạm liên quan đến chỉ dẫn thương mại (tên thương mại, khẩu hiệu kinh
Trang 7doanh, biểu tượng kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá, chỉ dẫn địa lý) Thực tế cạnh tranh cho thấy, không chỉ trước khi ban hành Luật CT
2004 mà hiện nay, các vi phạm này vẫn khá phổ biến, ngày càng tinh vi hơn, thể hiện dưới nhiều dạng, trong đó tập trung vào hành vi gây nhầm lẫn về tên gọi, xuất
xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp
Một số nhãn hiệu nổi tiếng như: nước khoáng Lavie được giả mạo nhãn hiệu với các tên gọi thương mại na ná theo kiểu Laville, Leville, La vier ; hay nhãn hiệu nước khoáng Aquafina cũng bị giả mạo nhãn hiệu với tên gọi: aquapila, aqualina Nước tăng lực reb bull cũng bị giả mạo với tên gọi: red rull Nhãn hiệu Kotex cũng bị giả mạo làm người tiêu dùng nhầm lẫn bởi tên sản phẩm Kotet,…
Xe Wave của hãng Honda với kiểu dáng thanh lịch được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, lại kiến người tiêu dùng nhầm lẫn với các loại xe Trung Quốc với hình dáng tương tự bằng các tên gọi như Waver, Weaser Một sản phẩm máy nông nghiệp của Công ty máy Nông nghiệp Miền Nam(Vikyno) đã bị làm nhái với tên gọi Vikjing, Vikno Trong lĩnh vực dược phẩm, các vụ việc như trên chiếm không dưới 30% tổng số các vụ vi phạm với nhiều kiểu làm nhái (như nhái tên, mẫu mã, bao bì )2 Ví dụ thuốc Decol-gen của Công ty dược phẩm Philipines đã bị 7 loại thuốc như Decoagen, Debacongen, Devicongen nhái dưới dạng sử dụng tên thuốc
na ná, ngoài ra mẫu mã viên thuốc cũng được dập hình thoi nổi giống hệt nhau Cả Tiffi lẫn Panadol cũng gặp tình trạng tương tự
Mặc dù pháp luật có quy định cấm nhưng trên thực tế vẫn tồn tại rất nhiều hàng hóa chưa đựng những thông tin gây nhầm lẫn được bày bán công khai tại các chợ, trung tâm thương mại, các cửa hàng,… Việc phát hiện và xử lý vi phạm không phải là vấn đề quá khó khăn đối với các cơ quan chức năng, tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
Trước hết, là do các chế tài xử phạt còn chưa nghiêm khắc Mới dừng lại ở việc
xử phạt hành chính, đôi khi mức xử phạt cũng không bằng lợi nhuận mang lại từ hành vi vi phạm, dẫn đến việc các doanh nghiệp vẫn ngang nhiên sản xuất hành hóa và chấp nhận chịu phạt
Trang 8Bên cạnh đó, về phần người tiêu dùng, trên thực tế người tiêu dùng vẫn chấp nhận mua những hàng hóa “gần giống” hàng thật do tâm lý tiết kiệm, ham rẻ của người tiêu dùng, do vậy các hàng hóa có chứa đựng chỉ dẫn gây nhầm lẫn vẫn tiêu thụ được trên thị trường
1.3> Ý kiến nhận xét và hoàn thiện pháp luật.
Qua những tìm hiểu trên đây nhận thấy, để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng và các doanh nghiệp trước hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, em xin đưa ra một vài quan điểm như sau:
Thứ nhất, về mặt pháp luật, cần bổ sung các hành vi vi phạm nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp mang tính cạnh tranh vào nhóm hành vi vi phạm chỉ dẫn gây trong Luật cạnh tranh 2004, làm rõ các dấu hiệu nhận dạng đối với biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh Hiện tại, cả hai hành vi nêu trên chưa được Luật cạnh tranh 2004 quy định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ngay
cả khi nó là hành vi cạnh tranh Theo quy định của Luật SHTT 2005 thì hành vi cạnh tranh vi phạm nhãn hiệu hàng hoá thuộc nhóm hành vi vi phạm chỉ dẫn thương mại và được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Như vậy, ngay trong hệ thống pháp luật hiện hành đã chưa có sự thống nhất về mặt quy định đối với hành vi cạnh tranh vi phạm nhãn hiệu hàng hoá
Thứ hai, nhận thấy thông thường chủ thể sản xuất là người cố ý đưa các dấu hiệu gây nhầm lẫn về chỉ dẫn, gắn vào hàng hóa, dịch vụ nên phải quy trách nhiệm pháp lý nặng hơn các chủ thế khác tham gia vào quá trình này Tuy nhiên, điều 30 nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định về hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi này không có sự phân biệt giữa trách nhiệm của người sản xuất và người lưu thông sản phẩm vi phạm
Mà đôi khi, người lưu thông hàng hóa (cửa hàng, chợ,…) cũng không biết về sự
vi phạm của hàng hóa, họ chỉ biết mua đi bán lại hàng hóa mà không biết về việc hàng hóa này có chỉ dẫn gây nhầm lẫn với các hàng hóa khác Theo em, cần phải
có quy định riêng về trách nhiệm của người lưu thông trong những trường hợp như vậy
Trang 9Thứ ba, có thể thấy pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của Việt Nam cũng có sự tồn tại của hai nhóm quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh và pháp luật về sở hữu trí tuệ Sự quy định chồng chéo của pháp luật dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng pháp luật
Thứ tư, về mặt thực tiễn, cần thiết đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về hàng thật, hàng giả chưa được ngành chức năng phổ biến rộng rãi trong người dân và đặc biệt là các nhà sản xuất chân chính hiện chủ yếu xem trọng vấn đề quảng cáo sản phẩm mà quên "lồng ghép" cách phân biệt hàng thật với hàng giả, hàng nhái theo sản phẩm của mình để mọi người cảnh giác
Bên cạnh đó, trên thực tế do việc tiếp nhận và giải quyết đến cùng các vụ việc làm hàng giả, hàng nhái còn thiếu đồng bộ giữa các cơ quan chức năng khiến việc
xử lý không triệt để Mặt khác, chế tài xử lý đối với hành vi sản xuất hàng giả, hàng nhái chưa thật sự đủ sức răn đe đối tượng vi phạm Vậy nên, câu nói đã quá
quen thuộc dành cho người tiêu dùng là "hãy trở thành người tiêu dùng thông thái"
để tự bảo vệ mình Như vậy, cần thiết phải có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức cũng như chức năng và thái độ làm việc của các cơ quan giải quyết vụ việc tốt hơn, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng và doanh nghiệp
2 XÂM PHẠM BÍ MẬT KINH DOANH
2.1> Quy định của pháp luật Việt Nam về xâm phạm bí mật kinh doanh
* Bí mật kinh doanh theo định nghĩa tại khoản 10 điều 3 Luật cạnh tranh và
điều 84 Luật sở hữu trí tuệ 2005 có những đặc điểm sau đây: Không phải hiểu biết thông thường; có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắmgiữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết
để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được
Điều 750 Bộ luật Dân sự cũng có quy định bí mật kinh doanh là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bên cạnh các đối tượng khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương
Trang 10mại, chỉ dẫn địa lý Bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào
* Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là một trong những hành vi cạnh
tranh không lành mạnh quy định tại điều 41 luật cạnh tranh 2004 Theo đó, cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây:
Thứ nhất, hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó Đây là dạng xâm phạm bí mật kinh doanh điển hình, để cấu thành hành
vi này, người ta cần xác định hai điều kiện cơ bản sau đây: Doanh nghiệp vi phạm đang nỗ lực tiếp xúc hoặc góp nhặt những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác; việc tiếp cận, thu thập thông tin là bất chính, không lành mạnh Tính chất bất chính của hành vi được thể hiện thông qua phương cách mà doanh nghiệp
sử dụng để tiếp cận, thu thập bí mật kinh doanh
Thứ hai, tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh Theo Từ điển tiếng Việt, “tiết lộ” được
diễn giải là để cho người khác biết một việc phải giữ kín Dạng hành vi này hướng đến đối tượng thứ ba, không trực tiếp chiếm đoạt bí mật kinh doanh từ chủ sở hữu hay người nắm giữ hợp pháp bí mật nhưng có thể tiếp nhận từ người trực tiếp chiếm đoạt, những người thứ ba khác hoặc từ các nguồn công khai sau khi bí mật được bộc lộ Kể cả trong trường hợp người này tiếp nhận thông tin một cách ngay tình, pháp luật cũng không cho phép họ tiếp tục sử dụng hay lưu truyền thông tin cho người khác
Thứ ba, vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người
có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó Trường hợp này, vấn đề cạnh tranh
không lành mạnh sẽ đặt ra khi chủ thể thực hiện hành vi không chỉ vi phạm nghĩa
vụ bảo mật theo hợp đồng mà còn sử dụng các thông tin bí mật có được từ giao dịch để cạnh tranh gây bất lợi cho đối tác cũ