Với ý nghĩa CTTP là căn cứ pháp lý duy nhất của việc định tội đúng được, chúng ta cùng tìm hiểu các yếu tố cấu thành tội phạm: - Khách thể: Nhìn vào toàn bộ quá trình thực hiện hành vi p
Trang 1TÌNH HUỐNG
P là thợ sơn được thuê hoàn thiện nhà riêng cho một gia đình Trong thời gian làm việc P để ý thấy gia đình đối diện không làm lưới bảo hiểm ban công, trong khi khoảng cách giữa hai nhà khá gần Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công P đã trèo sang và vào nhà lấy một chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền Trong lúc lục tìm thêm tài sản, P gây ra tiếng động và bị G (chủ nhà) phát hiện G giật lại chiếc túi, P đấm G rất mạnh vào mặt làm G choáng váng Sau
đó, P với tay lấy chiếc khung ảnh bằng thủy tinh đập mạnh vào đầu G làm G bất tỉnh P lấy thêm một số đồ nữa rồi bỏ đi Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20 triệu đồng G sau đó được người nhà phát hiện đưa đi cấp cứu và bị tổn hại sức khỏe 25%
Hỏi:
1 P phạm tội gì? Tại sao?
2 Căn cứ vào Điều 8 khoản 3 hãy phân loại tội phạm đối với tội mà P đã thực
hiện
3 Nếu P cho rằng G đã chết mới dừng lại không đánh nữa thì tội danh của P
có gì thay đổi không?
Trang 21 P phạm tội cướp tài sản quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 133 BLHS Giải thích:
Như ta đã biết CTTP được coi là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể,
là loại mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự Quan hệ giữa tội phạm với CTTP là quan hệ giữa hiện tượng và khái niệm Tội phạm là hiện tượng
xã hội cụ thể, tồn tại khách quan còn CTTP là khái niệm pháp lý của hiện tượng
đó Với ý nghĩa CTTP là căn cứ pháp lý duy nhất của việc định tội đúng được, chúng ta cùng tìm hiểu các yếu tố cấu thành tội phạm:
- Khách thể: Nhìn vào toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội, P đã xâm
phạm tới hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Cụ thể trong tình huống trên, P đã tác động đến quyền được tôn trọng và
bảo vệ về sức khỏe ( P đấm G rất mạnh vào mặt làm G choáng váng Sau đó, P với tay lấy chiếc khung ảnh bằng thủy tinh đập mạnh vào đầu G làm G bất tỉnh) và quyền sở hữu tài sản của G ( P đã lấy một chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền và một số đồ vật khác với tổng tài sản là 20 triệu đồng).
- Mặt khách quan:
• Hành vi khách quan: theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi
khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản, đó là: hành vi dùng
vũ lực, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thế chống cự được Trong đó, hành vi dùng
vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất ( có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người này chống lại việc chiếm đoạt Cụ thể, theo tình huống, P đã đấm G mạnh vào mặt làm G choáng váng Sau đó, P với tay lấy chiếc khung ảnh bằng thủy tinh đập mạnh vào đầu G làm G bất tỉnh Như vậy, P đã dùng sức mạnh vật chất ( nắm đấm và khung thủy tinh) tác động vào G nhằm làm tê liệt sự chống
cự của G ( khi phát hiện, G giật lại chiếc túi, thể hiện sự chống lại việc chiếm đoạt)
• Hậu quả: Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20 triệu đồng và G bị tổn
hại sức khỏe 25% Tội cướp tài sản được quy định tại điều 133 có CTTP hình thức, tức là hậu quả của hành vi không phải là dấu hiệu bắt buộc khi định tội danh Trong trường hợp này, hậu quả G bị tổn hại sức khỏe 25% sẽ là tình tiết tăng nặng định khung của tội phạm được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 133 BLHS
Trang 3- Chủ thể: Chủ thể tội cướp tài sản là chủ thể thường, do vậy chỉ đòi hỏi P là
người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Đề bài không nói thêm về vấn đề này, vì vậy ta mặc định P đã thỏa mãn những điều kiện đó
- Mặt chủ quan:
• Lỗi: Lỗi của P ở đây là lỗi cố ý trực tiếp, vì khi thực hiện hành vi phạm
tội của mình, P thấy rõ được tính chất nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ làm Khi
bị G ( chủ nhà) phát hiện, P đấm G rất mạnh vào mặt làm G choáng váng Bên cạnh đó, sự cố ý của P cò n được thể hiện rõ ràng hơn khi P với tay lấy chiếc khung ảnh bằng thủy tinh đập mạnh vào đầu G làm G bất tỉnh Như vậy, P đã thực hiện
đến cùng việc làm G rơi vào tình trạng không thể chống cự được
• Mục đích: Trong trường hợp này, mục đích của P là giữ bằng được tài
sản ( là chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền) vừa chiếm đoạt được bằng thủ đoạn trộm cắp ( vì P đã chiếm đoạt được với sự lén lút) Đây được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt
Ở đây, hành vi phạm tội của P không cấu thành nên tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS, dù cho hành vi của P được thực hiện một cách lén lút ( trèo sang nhà G qua ban công vào ban đêm), vì khi bị G phát hiện và giật lại chiếc túi, P đã sử dụng vũ lực làm cho G bất tỉnh, với mục đích chiếm đoạt bằng được tài sản Vì vậy, theo tiểu mục 6.2, mục 6, khoản I Thông tư liên tịch số
02/2001, hành vi của P đã cấu thành tội cướp tài sản.
Vì vậy, trên cơ sở phân tích những căn cứ pháp lý và xét tình huống cụ thể cho phép ta khẳng định hành vi phạm tội của P cấu thành tội cướp tài sản được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 133 BLHS
2 Căn cứ vào Điều 8 khoản 3 tội cướp tài sản mà P thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng
Giải thích:
Thứ nhất, căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS: “Tội phạm ít nghiêm trọng là
tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao
Trang 4nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” Như vậy, để xác định một tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng cần dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
Thứ hai, ở câu 1 ta đã xác định được hành vi của P cấu thành tội cướp tài sản
được quy định tại khoản 2 điều 133 có khung hình phạt “từ bảy năm đến mười lăm năm”, tức là mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội của P là mười lăm năm.
Đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 8 ta xác định được tội cướp tài sản mà P gây ra thuộc loại tội rất nghiêm trọng
3 Nếu P cho rằng G đã chết mới dừng lại không đánh nữa thì tội danh của P có sự thay đổi Khi đó, hành vi của P sẽ cấu thành tội giết người được quy
định tại điểm g khoản 1 Điều 93 ( ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành) và tội cướp tài sản được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS
Giải thích:
Thứ nhất, hành vi của P đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của tội giết người:
- Khách thể: P đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân của G, cụ thể là quyền
được bảo vệ về tính mạng
- Mặt khách quan: P đã có hành vi đánh G cho đến khi P nghĩ rằng G đã
chết Vì hậu quả ở đây chưa xảy ra nên tội giết người mà P thực hiện ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành ( do P đã thực hiện hết những hành vi mà mình cho là cần thiết để giết G)
- Chủ thể: Chủ thể tội giết người là chủ thể thường, do vậy chỉ đòi hỏi P là
người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Đề bài không nói thêm về vấn đề này, vì vậy ta mặc định P đã thỏa mãn những điều kiện đó
- Mặt chủ quan: P đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý P biết hành vi của mình
có thể giết G nhưng P vẫn thực hiện đến cùng và mong muốn hậu quả xảy ra, thể
hiện ở việc “cho rằng G chết mới dừng lại không đánh nữa” Và mục đích của P ở
đây là giết G để thực hiện tội cướp tài sản, vì vậy đây là tình tiết tăng nặng định khung đối với tội giết người do P thực hiện
Thứ hai, do tình tiết G bị tổn hại sức khỏe 25% đã dùng để định tội danh giết
người cho P nên không thể xét đây là tình tiết tăng nặng định khung đối với tội cướp tài sản, vì vậy P sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 133 chứ không phải là khoản 2 Điều 133
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “ Luật hình sự Việt Nam, Tập 1” - trường Đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất bản Công an Nhân dân – năm 2012
2. Giáo trình “ Luật hình sự Việt Nam, Tập 2” - trường Đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất bản Công an Nhân dân – năm 2009
3. Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – năm 2012
4. Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung 2009 – ThS Đinh Thế Hưng, TS Trần Văn Biên – Viện nhà nước và pháp luật – Nhà xuất bản Lao Động – 2013
5. Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp số 02/2001/TTLT-TANDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV “ Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999
Đường link: http://thuvienphapluat.vn/archive/Thong-tu-lien-tich/Thong-tu- lien-tich-02-2001-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-huong-dan-ap-dung-quy- dinh-tai-chuong-XIV-Cac-toi-pham-xam-pham-so-huu-cua-Bo-luat-hinh-su-1999-vb48801t24.aspx