1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề bài phân tích quá trình biến đổi cách tiếp cận của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực người khuyết tật

20 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa khái niệm người khyết tật như sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năn

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Người khuyết tật chiếm tỉ lệ không nhỏ trong dân cư Ngân hàng thế giới ước tính có khoảng 10% dân số thế giới phải sống chung với người khuyết tật Với tình trạng người khuyết tật họ đã và đang phải chịu những thiệt thòi trên tất cả các phương diện của đời sống

xã hội Sự kì thị của xã hội vô hình những tàn nhẫn đẩy người khuyết tật ra bên lề cuộc sống Tuy nhiên, sau một thời gian dài mọi người cũng đã dần có cách nhìn khác về người khuyết tật mà một trong những vấn đề thể hiện được sự thay đổi đó chính là ở pháp luật Sau đây, chúng ta sẽ đi sâu vào “Phân tích quá trình biến đổi cách tiếp cận của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực người khuyết tật” để thấy được những thay đổi tích cực đó

B NỘI DUNG

I – Khái quát chung về người khuyết tật

1.1 Định nghĩa về người khuyết tật

Định nghĩa người khuyết tật dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt đông kinh tế, chính trị, xã hội Họ phải được đảm bảo rằng

họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người Với tư cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa khái niệm người khyết tật như sau:

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với chủ thể khác.

1.2 Đặc điểm của người khuyết tật

Thứ nhất, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội

Trang 2

Người khuyết tật cũng là con người vì vậy, họ mang những đặc điểm chung như tất

cả mọi người khác, họ có đầy đủ các quyền trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên,

do những khiếm khuyết do tình trạng khuyết tật gây ra nên, người khuyết tật phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống: khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Để khắc phục những khó khăn này, người khuyết tật chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp đỡ chính với họ Những khó khăn ngày càng trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật

Quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu cực, dẫn đến sự kỳ thị và phân biệt đối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau Trong cộng

đồng, nhiều dân cư coi người khuyết tật là “đáng thương”, không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của xã hội Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề biết

đến quy định của pháp luật về người khuyết tật Từ đó, dẫn đến sự kì thị, phân biệt đối xử và

nó diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính người khuyết tật

Hoạt động hỗ trợ người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật và những giúp đỡ mà họ nhận được Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người Hầu hết người khuyết tật được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt động xã hội

Thứ hai, đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật.

Luật người khuyết tật Việt Nam quy định các dạng khuyết tật bao gồm:

+ Khuyết tật vận động: là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện

dễ nhận thấy là khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm nắm Do đó, người khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động

Trang 3

Người khuyết tật vận động cần được sự hỗ trợ về phương tiện đi lại và đặc biệt là không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển

+ Khuyết tật nghe, nói: Người khuyết tật nghe, nói là người có khó khăn đáng kể về nói và nghe, dẫn đến hạn chế về đọc, viết, từ đó dẫn đến những hạn chế trong sinh hoạt, làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng Để giảm bớt khó khăn, họ cần dùng phương tiện trợ giúp, ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp tổng hợp Người khuyết tật nghe, nói thường rất khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ và tiếp nhận thông tin từ cộng đồng, bởi ngôn ngữ của họ là ngôn ngữ kí hiệu

+ Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): là những người có tật về mắt làm cho họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ ràng Họ có hai giác quan thường rất phát triển: thính giác và xúc giác Đối với người khiếm thị công cụ hỗ trợ di chuyển là chiếc gậy trắng (hoặc các loại gậy thông thường) chữ nổi Braille, các công cụ hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và dễ nhận biết những người nhìn kém thì môi trường cần thiết với họ là đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hình ảnh

+ Khuyết tật trí tuệ được xác định khi: chức năng trí tuệ ở dưới mức trung bình (chỉ

số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân); bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; Tật xuất hiện trước

18 tuổi Người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của họ và người thân cả về trí tuệ, trí nhớ, về chú ý, về kỹ năng giao tiếp xã hội; cuối cùng là về hành vi

Ngoài các nhóm trên còn có những người khuyết tật như: người bị rối loạn hành vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rối loạn ngôn ngữ, người đa tật

Trang 4

II Tiến trình xây dựng pháp luật quốc tế về người khuyết tật

2.1 Tiến trình xây dựng hệ thống văn bản của Liên hợp quốc (UN) về người khuyết tật.

Từ những năm 40 và 50 của thế kỉ XX, UN mới chỉ tập trung vào việc thúc đẩy các quyền khuyết tật về thể chất thông qua các phương pháp tiếp cận an sinh xã hội Hiến chương và các công ước về quyền con người được các nước phê chuẩn từ giữa những năm

40 cho đến cuối những năm 60, tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có những quy định riêng nào đề cập người khuyết tật

Trong giai đoạn này, chính những bất lợi mà người khuyết tật phải đối mặt, tình trạng

họ bị tách biệt khỏi xã hội, cũng như tình trạng họ bị phân biệt đối xử mới được nhận thức rõ ràng hơn và được nêu thành vấn đề quyền của người khuyết tật Việc dần thay đổi cách tiếp cận từ phúc lợi xã hội sang cách tiếp cận dựa vào quyền con người được thể hiện thông qua việc đề cập một cách cụ thể về người khuyết tật trong các hiến chương, các công ước và các sáng kiến về quyền con người được phê chuẩn từ những năm 1980 và trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế

Bản Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền con người chậm phát triển và Tuyên bố

về quyền của người khuyết tật thông qua vào những năm 70 được coi là văn kiện quốc tế quy định rõ các nguyên tắc nhân quyền liên quan đến người khuyết tật Tuy nhiên, các văn kiện trên bị chỉ trích vì nhiều người cho rằng, chúng vẫn chỉ thể hiện các quan điểm y tế và từ thiện đối với người khuyết tật và cuối cùng làm gia tăng thêm thái độ gia trưởng với người khuyết tật

Vào thập niên 80, việc xác định lại vấn đề người khuyết tật theo mô hình xã hội diễn

ra ở cấp quốc gia như là kết quả của các phong trào ủng hộ cho quyền khuyết tật đang dấy lên ở tầm quốc tế Giai đoạn 1983- 1992 được UN lấy làm thập kỉ của người khuyết tật Vào năm 1993, Các quy tắc tiêu chuẩn của UN về bình đẳng hóa cơ hội cho người khuyết tật được thông qua như là bản thiết kế cho chính sách việc làm và cung cấp cơ sở cho hợp tác kĩ thuật và kinh tế giữa các quốc gia

Trang 5

Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ, được thông qua bởi Đại hội đồng vào năm 1999 cũng cụ thể hóa một số vấn đề liên quan đến phụ nữ khuyết tật Công ước chống tra tấn và đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo, hạ nhục hoặc trừng phạt được thông qua và sử dụng để đảm bảo rằng hành động phù hợp của nhà nước Công ước về quyền của trẻ em cũng là văn kiện quyền con người trong đó có những quy định dành cho trẻ

em khuyết tật

Vào kì họp thứ 56, Ủy ban nhân quyền đã thông qua Nghị quyết 2000/51 ngày 25/04/2000, mang tên “Nhân quyền người khuyết tật” Nghị quyết kêu gọi các chính phủ đưa các vấn đề nhân quyền của người khuyết tật vào hoạt động giám sát thực hiện các điều ước quốc tế nhân quyền hiện tại và kêu gọi các chính phủ đưa vấn đề người khuyết tật vào báo cáo, hợp tác

Các sáng kiến nhằm phát triển một Công ước về quyền của người khuyết tật được phát động bởi Mexico vào năm 2001, theo sau là nổ lực của UN đưa vấn đề của người khuyết tật vào thành một phần Cương lĩnh hành động được thông qua tại Hội nghị thế giới chống chủ nghĩa chủng tộc ở Durban, Nam Phi Ngày 19/12/2001, Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua Quyết định 56/168 về việc thành lập “một ủy ban đặc biệt, cho phép sự tham gia của mọi nước thành viên và quan sát viên của Liên hợp quốc, nhằm xem xét các đề xuất xây dựng công ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm tăng cường và bảo vệ quyền và nhân phẩm của người khuyết tật, dựa trên cách nhìn toàn diện về phát triển xã hội, nhân quyền và không phân biệt đối xử” Ngày 13/12/2006, tại kì họp lần thứ 61 của Đại hội đồng UN, toàn thể đại biểu đã nhất trí thông qua Công ước về quyền của người khuyết tật Đây là văn bản quy phạm pháp luật quốc tế đầu tiên khẳng định mọi tiếp cận của người khuyết tật đều khẳng định mọi cách tiếp cận đều dựa trên quyền của người khuyết tật Công ước nhằm vào việc thúc đẩy, bảo vệ và đảm bảo người khuyết tật được hưởng đầy đủ và bình đẳng tất cả quyền con người và quyền tự do cơ bản, đồng thời, thúc đẩy sự tôn trọng phẩm giá vốn có của người khuyết tật

Trang 6

2.2 Tiến trình xây dựng hệ thống văn bản của ILO về người khuyết tật

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc có nhiệm

vụ đảm bảo các điều kiện lao động bình đẳng và phù hợp trên toàn thế giới ILO thực hiện sứ mệnh của mình thông qua việc soạn thảo các tiêu chuẩn để các quốc gia phê chuẩn dưới hình thức Công ước và khuyến nghị về lao động quốc tế Sứ mệnh này bắt nguồn từ “Tuyên bố Philadelphia” được thông qua tại Hội nghị lao động quốc tế tổ chức năm 1994, trong đó nêu

rõ “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng hoặc giới tính đều có quyền mưu cầu một cuộc sống vật chất đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và đảm bảo nhân phẩm, trong điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng…”

Năm 1994, với bản khuyến nghị đầu tiên liên quan đến các dịch vụ việc làm, bao gồm cả đào tạo nghề và định hướng việc làm (Khuyến nghị số 71 năm 994 về việc làm), ILO

đã dành một phần không nhỏ (phần X, từ đoạn 39 đến đoạn 44) để trình bày vấn đề việc làm giành cho người khuyết tật Thông qua việc đặt ra các tiêu chuẩn và thiết lập hệ thống giám sát tốt nhất, ILO đã có những đóng góp quan trọng và nhất quán trong việc tăng cường cơ hội việc làm bình đẳng như đã cho ra đời các bản Công ước ILO số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau năm 1951, Công ước ILO số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp năm 1958 và Công ước số 118 về đối xử bình đẳng trong vấn đề an toàn xã hội năm 1962 Người khuyết tật được đề cập một cách trực tiếp tại một số tiêu chuẩn

Năm 1983, sau khi thực thi Chương trình hành động toàn cầu liên quan đến người khuyết tật một năm và hai năm sau Năm quốc tế về người khuyết tật, ILO đã thông qua Công ước số 159 và Khuyến nghị số 168 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người khuyết tật Công ước số 159 yêu cầu các nước đã phê chuẩn công ước này phải xây dựng chính sách quốc gia dựa trên nguyên tắc cơ hội bình đẳng giữa người lao động khuyết tật và người lao động nói chung, tôn trọng sự bình đẳng về cơ hội và đối xử bình đẳng giữa người khuyết tật nam và nữ đồng thời thực thi các biện pháp tích cực nhằm thực hiện hiệu quả các nguyên tắc này

Trang 7

ILO đã liên tục tham gia tích cực trong việc thúc đẩy cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua chương trình cho người khuyết tật Ví như, Công ước 168 về xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp năm 1988 có điều khoản nêu rõ cấm phân biệt đối xử vì lí

do khuyết tật (Điều 6:1) ILO cũng đưa ra Quy tắc thực hành trong quan lý người khuyết tật công sở 2002

III Nguyên nhân của sự thay đổi về cách tiếp cận về người khuyết tật của pháp luật quốc tế

Lý do chúng ta phải đề cập đến đó là xuất phát từ thực trạng quyền con người, những nhóm yếu thế, nhất là của người khuyết tật trên thế giới đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi

Họ là những con người vì những lý do nào đó mà mất đi những gì đáng được hưởng như những người bình thường như bao người khác Người khuyết tật gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, việc làm, hôn nhân, kỳ thị Cản trở lớn nhất với người khuyết tật là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống Và từ đó ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề khác, như khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình độ học vấn Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc 90% trẻ em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến trường Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc thì cho biết 30% số thanh niên đường phố là trẻ khuyết tật

Về trình độ học vấn nghiên cứu của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện năm 1998 tỉ lệ biết đọc, biết viết ở người trưởng thành bị khuyết tật trên toàn cầu là dưới 3%, ở phụ nữ khuyết tật chỉ 1% Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con

số này đang có xu hướng tăng Theo BLĐTB&XH Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp, 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1%

có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định Năm 2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy chỉ có 35% người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá tốt so với các nước khác), trong khi đó 78% người không khuyết tật trong độ

Trang 8

tuổi lao động có việc làm Hai phần ba trong số người khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc

Sự thay đổi cách tiếp cận trên cũng phải kể đến là xuất phát từ sự nỗ lực phấn đấu, vươn lên đóng góp cho xã hội của người khuyết tật khiến cho thế giới cần phải có cách nhìn nhận khác về họ Họ không ngại mặc cảm, sự kỳ thị của xã hội mà quan trọng hơn là vượt qua chính bản thân mình để vươn lên trên tất cả, giành lại những gì họ đáng được hưởng Đó

là những con người mạnh mẽ, biết sống có ích cho xã hội, biết “làm đẹp” cho bản thân, gia

đình và đất nước Họ là một phần nhỏ của đất nước đã cống hiến nhiều thành quả đáng tự hào cho xã hội Chính cách nhìn nhận từ phía xã hội về người khuyết tật có sự thay đổi mới tạo ra điều kiện căn bản để xoá bỏ hàng rào ngăn cách cho người khuyết tật hoà nhập cộng đồng, đảm bảo các quyền và phẩm giá của họ Họ vươn lên số phận để hòa nhập vào môi trường khắc nhiệt và từ đó tìm thấy được điều mình cần làm Ví dụ như họa sỹ đến từ Iran,

49 tuổi, Zohreh Etezad Saltaneh, do bị khuyết tật bẩm sinh, nên tất cả mọi việc, từ việc nhà,

mặc quần áo và tất nhiên cả thú vui hội họa, đều tự làm bằng đôi chân của mình, ohreh sở

hữu một danh sách dài các giải thưởng trong lĩnh vực hội họa và từng tham gia hơn 60 triển lãm tranh quy mô quốc gia và quốc tế Cô hiện là thành viên của Hiệp hội Họa sỹ Quốc tế và đang theo học thạc sỹ, chuyên ngành tâm lý học

IV Cách tiếp cận của pháp luật quốc tế hiện nay trong lĩnh vực người khuyết tật

Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có các quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyết tật Tuy nhiên quá trình chuyển nhận thức về người khuyết tật như vấn đề phúc lợi

xã hội sang nhận thức coi vấn đề khuyết tật là vấn đề bình thường trong xã hội và coi trọng khả năng, năng lực của người khuyết tật đã diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài và không phải đã hết sự khác biệt

Từ trước tới nay xã hội có những cách tiếp cận đối với người khuyết tật như: Tiếp cận theo quan điểm đạo đức, từ thiện; Tiếp cận theo quan điểm y tế (y học); Theo quan điểm xã hội; Theo quan điểm nhân quyền và một số cách tiếp cận khác

4.1 Cách tiếp cận của pháp luật quốc tế về người khuyết tật theo quan điểm y tế.

Trang 9

Nhìn nhận người khuyết tật như những người có vấn đề về thể chất và cần được chữa trị Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế này là làm cho người khuyết tật trở lại trạng thái bình thường bằng các can thiệp y tế Do vậy quan niệm này cho rằng người khuyết tật có thể hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải thiện chức năng Mô hình y tế chú trọng vào việc điều trị cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội Như vậy mô hình y

tế nhìn nhận người khuyết tật là vấn đề và đưa ra giải pháp để người đó “bình thường” Mô hình

y tế đưa đến việc cung cấp giáo dục đặc biệt, giao thông đặc biệt, nghề trị liệu, vật lý trị liệu…

nó cũng có thể dẫn đến việc chọn lọc khả năng sinh tồn, ngăn trẻ sơ sinh khuyết tật bằng cách ngăn chặn cả người mẹ khuyết tật và người mẹ bình thường sinh ra nó

Để chứng minh làm sáng rõ quan điểm này, theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới -WHO, có 3 thuật ngữ liên quan đến người khuyết tật là: Khiếm khuyết (impairments); khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) để nói về mức độ khuyết tật

Theo định nghĩa trong "Luật người khuyết tật Mĩ năm 1990", người khuyết tật là người bị

khiếm khuyết về cơ thể hoặc tinh thần, bị hạn chế cơ bản trong một hoặc nhiều mặt sinh hoạt Một người được coi là người khuyết tật nếu đã có một khiếm khuyết nào đó từ trước Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là người khuyết tật Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay từ lúc sinh

ra ở một người nào đó

Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành

tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành

viên khác (DPI, 1982) Vì vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống

Năm 1999, Tổ chức y tế thế giới đã thông qua sự phân loại trên phạm vi quốc tế về các khái niệm khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật Nó cho thấy có một sự tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn, nhằm sử dụng được một cách thỏa đáng trong nhiều lĩnh vực như phục hồi chức năng, giáo dục, thống kê, chính sách, lập pháp, điều tra dân số, xã hội học, kinh tế học

và nhân học Theo đó khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý; Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng

Trang 10

hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết; Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ

Như vậy, mô hình cá nhân (cá nhân) hay y tế nhìn nhận người khuyết tật như những người có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị Điều này đã đẩy những người khuyết tật vào thế bị động của người bệnh Mục tiêu của hướng tiếp cận y tế là làm cho những người khuyết tật cảm thấy trở lại trạng thái bình thường nhưng vô hình trung lại khiến cho người khuyết tật cảm thấy họ không bình thường Theo đó, vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân Khi bị khuyết tật, những người này cần phải thay đổi chứ không phải xã hội hay môi trường xung quanh phải thay đổi

Theo cách tiếp cận này, cũng có mặt tích cực và hạn chế Như người khuyết tật được can thiệp sớm, biết cách phòng tránh khuyết tật Các bác sĩ có cơ hội hiểu biết nhiều hơn về các dạng khuyết tật Nhưng bên cạnh đó, có mặt trái là các “chuyên gia” có xu hướng không đếm xỉa đến kinh nghiệm và hiểu biết của các cá nhân khuyết tật hay gia đinh họ, chỉ quan tâm tới việc phục hồi chức năng cho người khuyết tật và quên việc cải tạo môi trường xung quanh

4.2 Cách tiếp cận của pháp luật quốc tế về người khuyết tật theo quan điểm xã hội.

Vào cuối những năm 1990, mô hình xã hội trở nên khá nôi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế giới, đó là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất Mô hình xã hội

là mô hình có cơ sở lý thuyết và có quy tắc riêng, được coi là nền tảng của những biến chuyển của vấn đề người khuyết tật

Theo đó những rào cản và định kiến của xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật Mô hình này cho rằng một số người có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực Mô hình xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w