1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định của pháp luật việt nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh

13 134 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 86,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ bài viết, xin được trình bày thực trạng pháp luật Việt Nam về hai trong số những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là: chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh d

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế, khi kinh tế phát triển hơn thì cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực Điều đáng nói là trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triền, nhiều doanh nghiệp đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hướng tới sự phát triển kinh tế của đất nước, đến lợi ích của người tiêu dùng Bởi vậy, sự ra đời của Luật cạnh tranh 2004 có ý nghĩa quan trọng góp phần giải quyết vấn

đề này Trong khuôn khổ bài viết, xin được trình bày thực trạng pháp luật Việt Nam về hai trong số những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là: chỉ dẫn gây nhầm lẫn

và xâm phạm bí mật kinh doanh

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh.

- Theo pháp luật một số nước trên thế giới:

Tại khoản 1 Điều 10 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ghi

nhận: “Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.

- Theo pháp luật Việt Nam:

Tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh Việt Nam ghi nhận: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.

Xét một cách khái quát, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được mô tả trên đây có cùng bản chất là việc tạo ra những lợi thế không chính đáng trong tương quan cạnh tranh trên thị trường, và có thể được chia thành ba nhóm:

- Các hành vi mang tính chất lợi dụng;

- Các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở;

- Các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng

Trang 2

Trong đó, các dạng thức: chỉ dẫn gây nhầm lẫn và xâm phạm bí mật kinh doanh thuộc nhóm hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác

2 Quy định của pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh.

2.1) Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

a) Khái niệm chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đều quy định cấm hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn Theo Điều 40 Luật cạnh tranh, chỉ dẫn thương

mại có thể bao gồm: “Tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yêu tố khác theo quy định của Chính phủ” Theo khoản 2 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005: “Chỉ dẫn thương mại quy định là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa”.

b) Biểu hiện của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn.

Vi phạm về cạnh tranh không lành mạnh đối với chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành

vi sử dụng những dấu hiệu, đặc điểm tương tự với chỉ dẫn thương mại được doanh nghiệp khác sử dụng hợp pháp như đã phân tích ở trên Các dấu hiệu mà doanh nghiệp

vi phạm sử dụng không thể được coi là chỉ dẫn thương mại của doanh nghiệp vi phạm,

vì không đáp ứng được yêu cầu sử dụng lâu dài và hợp pháp Các dấu hiệu này thường được chủ thể hành vi cạnh tranh không lành mạnh tạo ra sau khi đã tồn tại chỉ dẫn thương mại hợp pháp trên thị trường với hình thức, đặc điểm tương tự để lợi dụng ưu thế cạnh tranh của chỉ dẫn thương mại đã có

Theo Điều 40 Luật cạnh tranh quy định cấm hai dạng hành vi sau:

“1 Cấm doanh nghiệp sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu

tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh.

2 Cấm kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại khoản 1 Điều này”

Trang 3

Theo đó, nội dung khoản 1 và khoản 2 Điều 40 nhằm vào hai đối tượng vi phạm khác nhau là chủ thể sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ và chủ thể phân phối, lưu thông hàng hóa, dịch vụ đó Thông thường chủ thể sản xuất là người cố ý đưa các dấu hiệu gây nhầm lẫn về chỉ dẫn gắn vào hàng hóa, dịch vụ nên cần phải quy trách nhiệm pháp lí nặng hơn các chủ thể khác tham gia vào quá trình này Tuy nhiên, Điều 30 Nghị định số 120/2005/ NĐ-CP quy định về hình thức xử lí vi phạm đối với hành vi này đã không có sự phân biệt giữa trách nhiệm của người sản xuất và người lưu thông sản phẩm vi phạm

Khoản 3 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ quy định cụ thể hơn về hành vi sử dụng chỉ dẫn

thương mại bao gồm các hành vi “gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hóa có gắn chỉ dẫn thương mại đó”.

Như đã phân tích ở trên, trong khuôn khổ chỉ dẫn thương mại, một số đối tượng đã được điều chỉnh theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, do đó cơ chế bảo vệ dành cho các đối tượng này đầy đủ và rõ ràng Đối với các chỉ dẫn thương mại, quyền của người sử dụng được hình thành qua quá trình sử dụng, mà không được chứng minh bằng văn bản Do đó, đối với những tranh chấp liên quan đến sử dụng chỉ dẫn thương mại, cơ quan xử lí không có văn bản hay sổ đăng kí làm căn cứ phân định đúng hay sai mà các bên có trách nhiệm chứng minh quyền hợp pháp của mình thông qua các chứng cứ cho thấy việc sử dụng chỉ dẫn thương mại đáp ứng các tiêu chí, lâu dài, liên tục và phổ biến, không có tranh chấp Việc sử dụng này sẽ khiến cho người tiêu dùng trở nên quen thuộc và sử dụng chỉ dẫn đó để nhận diện ra một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hàng

Một vấn đề quan trọng khác cần xem xét là yếu tố “tương tự đến mức gây nhầm lẫn” thể hiện qua các chỉ dẫn thương mại của hai loại sản phẩm Mức độ tương tự càng lớn, khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng càng cao Để đánh giá yếu tố này, cơ quan cạnh tranh sẽ căn cứ trên tính chất, đặc điểm từng loại sản phẩm, điều kiện thị trường, thói quen tiêu dùng của khách hàng để xác định khả năng gây nhầm lẫn và kết luận

về hành vi vi phạm Tuy nhiên, cần lưu ý hai sản phẩm có các dấu hiệu, đặc điểm

Trang 4

không còn chỉ là tương tự mà hoàn toàn trùng nhau sẽ không còn được xem xét dưới góc độ cạnh tranh không lành mạnh mà còn bị coi là trường hợp hàng giả, với tính chất, mức độ và chế tài nghiêm khắc hơn rất nhiều

c) Hình thức xử lí

Căn cứ vào Điều 30 Nghị định số 120/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ

“Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh” thì hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn bị xử lí như sau:

“1 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ của mình và của doanh nghiệp khác nhằm mục đích cạnh tranh;

b) Kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại điểm

a khoản này.

2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 của Nghị định này;

b) Hàng hóa, dịch vụ được lưu thông, cung ứng trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.

3 Ngoài việc bị phạt tiền theo khoản 1 và 2 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục sau đây:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm

cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;

b) Buộc cải chính công khai”.

d) Vụ việc minh họa.

Trường hợp Công ty cổ phần dược Traphaco, địa chỉ 75 Yên Ninh – Ba Đình –

Hà Nội là chủ sở hữu của giấy chứng nhận số 03763 đối với sản phẩm thuộc nhóm 5,

Trang 5

trong đó có dòng nước súc miệng T-B đang được tiêu thụ tại Việt Nam gần 10 năm nay Sản phẩm nước súc miệng T-P của Công ty TNHH Hoàng Hương với thiết kế nhãn hàng hóa gắn ngoài chai nước tương tự với sản phẩm nước súc miệng T-B của công ty Traphaco đã gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng tại Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín, quyền lợi chính đáng của chủ nhãn hiệu

Theo sở hữu đã được đăng ký của Traphaco, mẫu sản phẩm nước súc miệng T-B của Công ty (dưới dạng chai nhựa, thể tích 500 ml), có màu sắc trong suốt Phần nhãn hàng hóa gắn ngoài chai được thể hiện trên nền màu trắng và xanh nhạt Nhìn từ chính diện, chữ T-B được viết hoa, màu đỏ Nhìn sang bên phải là hình miệng một cô gái đang cười với hàm răng trắng thể hiện công dụng của sản phẩm – đây là một yếu tố mang tính phân biệt cao của sản phẩm T-B, phía trên là công ty Traphaco và địa chỉ Phía sau của nhãn hàng hóa là phần ghi công thức, mã số, mã vạch, số đăng ký, lô sản xuất và hạn dùng

Trong khi đó, Công ty TNHH Hoàng Hương ở số 6 ngõ 111, Láng Hạ, Đống Đa tiến hành sản xuất sản phẩm nước súc miệng T-P Về mẫu sản phẩm nước súc miệng này

có cùng dạng, thể tích và phần nhãn hàng hóa được thể hiện trên nền màu xanh nhạt tương tự T-B Nhìn từ chính diện T-P được viết hoa màu đỏ Bình thường nếu không đọc rõ hai chữ này thì rất dễ gây nhầm lẫn, bên dưới chữ P là chữ 500ml màu đỏ Nhìn sang phía bên phải là phần trình bày giống hệt sản phẩm T-B, chỉ khác tên Công ty và địa chỉ

* Xử lý vụ việc: Tại công văn số 521/SHTT-TTKN ngày 22/3/2006, Cục sở hữu trí

tuệ xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Công ty TNHH Hoàng Hương

vi phạm khoản 1 Điều 29 Nghị định 59/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ

về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và bảo

hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp mà tại khoản 1 Điều 39, 40 Luật cạnh tranh 2005

Ngày 13/6/2006, Chi cục quản lý thị trường T.P Hà Nội đã lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 10 triệu theo khoản 2 Điểm a Điều 50 Nghị định 120/2005/NĐ-CP

2.2) Xâm phạm bí mật kinh doanh.

Trang 6

a) Khái niệm bí mật kinh doanh.

Bí mật kinh doanh được định nghĩa theo khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh như sau:

“Bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau đây:

a) Không phải là hiểu biết thông thường;

b) Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó;

c) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được”.

Điều 84 Luật sở hữu trí tuệ 2005 cũng ghi nhận nội dung tương tự Và nội dung này cũng phù hợp với Điều 39 Thỏa thuận về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (TRIPS - 1994) mà Việt Nam là quốc gia thành viên Có thể thấy các đặc trưng của bí mật kinh doanh đều xoay quanh tính “bí mật” của thông tin

b) Các dạng hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ gần như đồng nhất trong việc định dạng các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, bao gồm:

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó:

Hành vi xâm phạm này có nghĩa là Luật nghiêm cấm việc tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được sự đồng ý của người sở hữu bí mật kinh doanh đó Ví dụ: Hành vi truy cập một cách trái phép vào hệ thống mã nguồn (máy tính) lưu giữ bí mật kinh doanh thuộc sở hữu của một doanh nghiệp khác

- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh:

Hành vi này tương đối phổ biến, có ví dụ như sau: Một người sau một thời gian làm việc cho một doanh nghiệp sản xuất và nắm được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp

đó, đã tiết lộ cho doanh nghiệp khác hoặc sử dụng cho chính mình để thành lập một doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng thông tin về bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Trang 7

- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ

sở hữu bí mật kinh doanh đó:

Hợp đồng bảo mật là hợp đồng mà theo đó một bên hợp đồng được quyền tiếp cận thông tin bí mật về kinh doanh của một chủ sở hữu nhưng có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó Bên có nghĩa vụ bảo mật làm lộ thông tin về bí quyết kinh doanh cho bên thứ ba thì bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh theo quy định của điều luật Ngoài ra, luật cũng quy định bất kỳ hành vi nào lợi dụng quan hệ sẵn có để lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có trách nhiệm bảo mật nhằm lấy được thông tin bảo mật về bí mật kinh doanh và sau đó tiết lộ thông tin đó cho người thứ ba thì cũng bị coi là xâm phạm

bí mật kinh doanh

- Tiếp cận, thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của các cơ quan nhà nước, hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, mục đích xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm:

Quy định này bao gồm hai trường hợp:

+ Trường hợp thứ nhất, doanh nghiệp tiếp cận, thu thập bất luận trái phép hay được phép bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác thông qua các hồ sơ mà doanh nghiệp phải nộp khi thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: đăng ký kinh doanh, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, luận chứng kinh tế kỹ thuật v.v., và sau đó sử dụng những thông tin này để kinh doanh hoặc lập hồ sơ xin phép thành lập liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm + Trường hợp thứ hai, dùng các biện pháp chống lại biện pháp bảo mật của các cơ quan nhà nước về bí mật kinh doanh và sử dụng những thông tin bí mật này phục vụ mục đích và hoạt động kinh doanh của mình

Nhìn chung, việc áp dụng quy định chống xâm phạm bí mật kinh doanh theo pháp luật

về cạnh tranh không lành mạnh luôn cần kết hợp với cơ chế bồi thường thiệt hại Giá trị khai thác của bí mật kinh doanh nằm ở sự bí mật của nó Thông tin khi đã bị bộc lộ

sẽ không bao giờ còn là bí mật nữa và sẽ hoàn toàn mất đi giá trị của mình Đối với

Trang 8

các hình thức tài sản trí tuệ khác, cơ chế bảo hộ sau khi xử lí hành vi vi phạm sẽ giúp chủ sở hữu khôi phục lại đầy đủ quyền khai thác, sử dụng của mình nhưng trong trường hợp bí mật kinh doanh, khó có thể ngăn chặn các bên thứ ba và công chúng nói chung thu nhận và sử dụng thông tin Do đó, biện pháp khắc phục thiệt hại quan trọng nhất cần thực hiện là giải quyết bồi thường thiệt hại một lần và toàn bộ giá trị của bí mật thương mại đã bị bộc lộ Khi Luật cạnh tranh chưa có quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại và đồng thời cơ quan cạnh tranh, với tư cách là một cơ quan hành chính, cũng không có thẩm quyền giải quyết về bồi thường thiệt hại, thì trong tương lai gần, cần xây dựng cơ chế liên thông để tòa án có thể sử dụng kết quả điều tra vụ việc cạnh tranh cũng như quyết định xử lí vi phạm của cơ quan cạnh tranh làm cơ sở giải quyết bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm một cách nhanh chóng

c) Hình thức xử lí

Căn cứ theo Điều 31 Nghị định số 120/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ “Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh”, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bị xử lí như sau:

“1 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

b) Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ

sở hữu bí mật kinh doanh đó;

d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nước hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.

Trang 9

2 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sử dụng bí mật kinh doanh để sản xuất và lưu thông hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên;

b) Tiết lộ, cung cấp bí mật kinh doanh cho đối thủ cạnh tranh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

3 Ngoài việc bị phạt tiền theo khoản 1 Điều này, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm”.

d) Vụ việc minh họa.

Do tính chất phức tạp trong việc áp dụng quy định này, hiện nay chưa có vụ việc xâm phạm bí mật kinh doanh nào được ghi nhận và xử lí theo pháp luật cạnh tranh cũng như pháp luật về sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, bài viết xin được minh họa bằng một vụ việc cụ thể đã xảy ra ở nước ngoài nhưng được đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam để xử lí

Vụ việc đánh cắp bí mật kinh doanh của Cty Coca-Cola là một trong những ví dụ về

sự tinh vi trong hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Nhân viên của Cty Coca-Cola

đã xâm nhập các dữ liệu và đánh cắp công thức chế tạo một sản phẩm mới của Coca-Cola Sau đó, đề nghị bán thông tin cho Pepsico - đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Coca - Cola Một nhân viên bí mật của FBI được giao đặc vụ hẹn gặp với nhân viên này tại sân bay quốc tế Hartsfield-Jackson tại Atlanta Trong cuộc gặp này, anh ta đã đưa ra một phong bì có chứa tài liệu và một chai thủy tinh đựng mẫu dung dịch lỏng Nhân viên điều tra FBI cho biết sẽ trả trước 30.000 USD và hứa trả nốt 45.000 USD còn lại sau Tiếp đó, FBI bí mật giao cho một nhân viên khác giả vờ ngỏ ý muốn mua nốt số bí quyết còn lại với giá 1,5 triệu USD từ người đã giao tài liệu và mẫu dung dịch Cùng ngày, FBI phát hiện một tài khoản ngân hàng đã được mở dưới tên là Duhaney và Dimson Ngay sau đó, anh ta bị bắt và bị đưa ra hầu tòa tại Atlanta, Georgia

* Xử lý theo pháp luật Việt Nam.

Trang 10

- Hành vi của nhân viên Công ty Coca – Cola là: tiếp cận thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của Coca – Cola nhằm tiết

lộ, cung cấp cho đối thủ cạnh tranh của Coca – Cola là Pesico Đối chiếu với khoản 2 Điều 31 Nghị định 120/2005/NĐ-CP có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 20 triệu đồng

- Đối với Công ty Pesico: nếu có chứng cứ chứng minh Pesico đã thỏa thuận với nhân viên của Coca – Cola để đánh cắp bí mật kinh doanh của Coca – Cola thì cũng sẽ bị

xử lý về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh Còn nếu Pesico không có thỏa thuận

và mới chỉ nhận được đề nghị của nhân viên Coca – Cola về việc bán lại bí mật kinh doanh nhưng không có chứng cứ chứng minh về viêc đồng ý xác nhận giao dịch này thì Pesico sẽ không bị xử lý về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

3 Những bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh.

- Thứ nhất: Việc đưa ra khái niệm lẽ ra là việc hết sức quan trọng bởi nội hàm của nó

quyết định phạm vi những hành vi mà pháp luật đó điều chỉnh Tuy nhiên, có thể thấy,

cả hai văn bản Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ đều chưa làm rõ được khái niệm

cơ bản về chỉ dẫn thương mại, mà chỉ mang tính liệt kê các đối tượng có thể được coi

là chỉ dẫn thương mại Khái niệm đưa ra dưới dạng liệt kê mà không xây dựng đặc trưng, biểu hiện nhận dạng hành vi đó Trong khi đó, nền kinh tế - xã hội nước ta thay đổi từng ngày, pháp luật sẽ rất khó gọi tên những hành vi mới phát sinh Điều này dẫn đến tình trạng không thể khép hành vi mới phát sinh đó vào điều chỉnh theo pháp luật

đã có

- Thứ hai: Pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và chỉ

dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh nói riêng tản mạn, nằm ở nhiều văn bản khác nhau nhưng vẫn trong tình trạng thiếu, chưa bao quát hết các vấn đề cần điều chỉnh Để giải quyết một vụ việc này, ta phải tìm trong: Luật cạnh tranh, Luật sở hữu trí tuệ, và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành

Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng Nghị định 116/2005/NĐ-CP chỉ hướng dẫn phần hạn chế cạnh tranh còn hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh nói riêng không hề có điều luật giải thích, hướng dẫn thêm

Ngày đăng: 25/03/2019, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w