Tuy nhiên, trong các quy định tiếp theo về lao động chưa thành niên, Bộ luật này có những quy định mang tính phân loại lao động chưa thành niên, ví dụ nhóm người lao động chưa thành niên
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế và xã hội phát triển nhanh trong thập kỷ qua, lao động trẻ em
đã và đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi ở Việt Nam Trong xã hội vẫn tồn tại quan điểm phổ biến rằng lao động có tác động tích cực đối với trẻ em nên vấn đề này ít được quan tâm ở cấp cộng đồng và hộ gia đình Nghèo đói, sự gia tăng dân số nhanh ở các thành phố lớn, công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng tự
do thương mại, thái độ của gia đình đối với giáo dục, chất lượng giáo dục kém
và vấn đề di cư đến các đô thị phát triển là những nhân tố góp phần làm gia tăng lao động trẻ em Cũng như bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều quy định nhằm điều chỉnh vấn đề này
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I- THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM
1 Khái niệm Lao động trẻ em
Pháp luật quốc tế không đưa ra một khái niệm thống nhất về lao động trẻ
em Tuy nhiên, theo khái niệm trẻ em được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và Điều 2 Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức
lao động trẻ em tồi tệ nhất 1999 , có thể hiể u “Lao động trẻ em là người lao động chưa đủ 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”
Bộ luật lao động Việt Nam không đưa ra định nghĩa về lao động trẻ em mà chỉ có khá i niệm về lao động chưa thành niên Theo quy định tại Điều 119
BLLĐ “Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Quy định
này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 163 Dự thảo BLLĐ Theo đó thì người “lao động chưa thành niên” là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, trong đó có một nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi tham gia lao động cũng sẽ gọi là người
“lao động chưa thành niên”
Trong khi đó, Điều 1 Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 lại quy
định: “ Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
Dựa trên tinh thần của hai điều luật trên, ta có thể hiểu “lao động trẻ em” là
Trang 2những người dưới 16 tuổi, trong đó có một nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi tham gia lao động cũng sẽ được gọi là “lao động trẻ em”
Theo quy định tại Điều 161BLLD 2012, “lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Tuy nhiên, trong các quy định tiếp theo về lao
động chưa thành niên, Bộ luật này có những quy định mang tính phân loại lao động chưa thành niên, ví dụ nhóm người lao động chưa thành niên trong độ tuổi dưới 13, từ 13 đến dưới 15 và từ 15 đến dưới 18 Đây là điểm mới của BLLD
2012 so với các quy định trong Bộ luật trước đây
2 Quy định về việc làm
Xuất phát từ tính chất đặc thù của đối tượng lao động là trẻ em, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và thông qua Khuyến nghị số 190 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất Tại điểm d Điều 3 Công ước số 182 đã quy định một trong những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất là trẻ em phải làm những công việc có khả năng làm hại đến sức khỏe, sự an toàn hay đạo đức của trẻ em,
do bản chất của công việc hay do hoàn cảnh, điều kiện tiến hành công việc
Việt Nam phê chuẩn Công ước số 182 vào năm 2000 Theo quy định tại Điều 120, 121 BLLĐ quy định người lao động chưa thành niên bị cấm làm những công việc nặng nhọc hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách, thể lực và trí lực của trẻ em theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành Bên cạnh đó tại Điều 9 Nghị định 71/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ Chăm sóc
và giáo dục trẻ em cũng cấm “Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động”.
Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề hoặc tập nghề đối với một số nghề, công việc nhất định với những điều kiện:
Trang 3- Đó là những nghề, công việc nhẹ nhàng; hoặc công việc đòi hỏi đặc trưng riêng, cần thiết và có thể sử dụng lao động nhỏ tuổi; hoặc trong những trường hợp khác có mục đích đào tạo nghề, tập nghề cho các em
- Việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu
Theo đó trẻ em dưới 15 tuổi chỉ được làm những công việc như: diễn viên múa, hát, xiếc, sân khấu; làm các nghề truyền thống; các nghề thủ công mỹ nghệ; làm vận động viên năng khiếu theo quy định của pháp luật Những công việc này tạo điều kiện cho các em có thể phát triển năng khiếu của mình, góp phần gìn giữ các giá trị truyền thống của dân tộc Tới dự thảo BLLĐ đã quy định
cụ thể hơn về điều kiện để có thể cho phép sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi: a) Phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật;
b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến giờ học tại trường học của trẻ em;
c) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi;
Quy định này của Luật lao động cũng không vi phạm Công ước số 138 của
ILO về tuổi tối thiểu được đi làm việc vì theo Điều 2 của Công ước thì “ pháp luật có thể cho phép sử dụng lao động của người từ đủ 13 tuổi đến 15 tuổi trong những công việc nhẹ nhàng, không có khả năng tác hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của các em, không phương hại đến việc học tập ”
Tuy nhiên, BLLD 2012 lại có những quy định khá mới, chi tiết hơn về việc làm cho nhóm lao động chưa thành niên này Theo đó, về nguyên tắc Không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của
họ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với
Bộ Y tế ban hành Cụ thể, Điều 163 quy định không được sử dụng lao động trẻ
em trong các công việc và nơi làm việc sau:
Trang 41 Cấm sử dụng người chưa thành niên làm các công việc sau đây:
a) Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
b) Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
c) Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
d) Phá dỡ các công trình xây dựng;
đ) Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
e) Lặn biển, đánh bắt cá xa bờ;
g) Công việc khác gây tổn hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc đạo đức của người chưa thành niên.
2 Cấm sử dụng người chưa thành niên làm việc ở các nơi sau đây:
a) Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
b) Công trường xây dựng;
c) Cơ sở giết mổ gia súc;
d) Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp;
đ) Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và đạo đức của người chưa thành niên.
3 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định danh mục tại điểm g khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều này.
Bộ luật này còn có các quy định riêng đối với việc sử dụng lao động dưới
15 tuổi Theo quy định này, được phép sử dụng nhóm lao động dưới 13 cho một
số công việc nhất định Như vậy, BLLD 2012 đã quan tâm đến từng nhóm người lao động chưa thành niên, có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ lao động trẻ
em khỏi hành vi lạm dụng, cưỡng bức lao động
Trang 5BLLD 2012 còn yêu cầu người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động chưa thành niên được học văn hóa Quy định này là tiến bộ của BLLD 2012, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta trong việc bồi dưỡng, rèn luyện và nâng cao dân trí cho thế hệ mầm non của đất nước
3 Quy định về tiền lương và thu nhập
BLLD 2012 không có quy định mới về tiền lương và thu nhập cho nhóm đối tượng người lao động chưa thành niên
Vấn đề tiền lương được quy định trong Bộ luật lao động từ Điều 55 đến Điều 67, được hướng dẫn trong các văn bản pháp luật như: Nghị định số 114/2002/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương; Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/04/2009 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung Trách nhiệm quan tâm đến vấn
đề tiền lương của người lao động chưa thành niên được giao cho người sử dụng
lao động theo quy định tại Điều 121 BLLĐ và được quy định như sau: “Người
sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động”
Ngoài ra, tại Điều 19 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP có quy định: “Lao động chưa thành niên quy định tại Điều 121 của Bộ luật lao động, nếu cùng làm công việc như lao động thành niên, thì được trả lương như nhau” Chúng ta đều biết, có một thực tế là lao động chưa thành niên luôn khác lao động trưởng thành
về mọi phương diện, từ sức khỏe cho đến trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc Do vậy, để có thể làm những công việc như lao động thành niên là một việc rất khó đối với lao động chưa thành niên Vậy việc quy định trả công ngang bằng như trên thực chất không mang lại công bằng cho đối tượng lao động là trẻ em
4 Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trang 6Pháp luật lao động hiện hành quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong Chương VII của BLLĐ Theo đó, thời giờ làm việc của lao động trưởng thành là không quá 8h trong một ngày hoặc 48h trong một tuần Với đối tượng lao động chưa thành niên, lao động trẻ em là người tàn tật, thời giờ làm việc được quy định không được quá 7h một ngày hoặc 42h một tuần (Khoản 1 Điều
122 BLLĐ) Thời giờ nghỉ ngơi của lao động trẻ em được áp dụng theo quy định chung cho người lao động tại Mục 2 Chương VII BLLĐ từ Điều 71 đến Điều 77
và các văn bản hướng dẫn Quy định này chưa thực sự hợp lý vì còn khá cao và chưa chú ý tới sự khác nhau giữa các lao động chưa thành niên ở các giai đoạn phát triển khác nhau Vì vậy, đến BLLD 2012, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi của
lao động chưa thành niên được quy định: “Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần.
Thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 4 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần và không được sử dụng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
3 Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.”
Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong BLLĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lao động trẻ em, góp phần tạo điều kiện cho lao động trẻ em có thể phát triển toàn diện vể thể lực, trí lực, phục hồi và tái sản xuất sức lao động, có thời gian chăm lo gia đình, học tập, nâng cao kiến thức chuyên môn, trình độ văn hóa và có thời gian tham gia các hoạt động xã hội
5 Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với lao động trẻ em
Lao động trẻ em là lao động chưa phát triển đầy đủ về mặt thể lực, trí lực
Do đó, Nhà nước cần có các quy định để đảm bảo sự phát triển bình thường cho các em khi tham gia quan hệ lao động bằng việc quy định trách nhiệm của người
sử dụng lao động trong vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với lao
Trang 7động trẻ em.
Khoản 1 Điều 119 BLLĐ có quy định: “Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu” Điều 121 BLLĐ cũng quy định trách nhiệm
quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về mặt sức khỏe thuộc về người sử dụng lao động và đồng thời nghiêm cấm việc sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của
họ theo Danh mục do Bé Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành
Đối với trẻ em dưới 15 tuổi khi tham gia quan hệ lao động, pháp luật lao động quy định người sử dụng lao động phải có trách nhiệm: lập sổ theo dõi riêng; Phải kiểm tra sức khỏe của các em trước khi tuyển dụng và tiến hành kiểm tra sức khoẻ định kỳ, ít nhất 6 tháng 1 lần; Chịu trách nhiệm về sự an toàn
và sức khoẻ của trẻ em trong quá trình làm việc (Điều 1 Mục III Thông tư 21/1999/TT-BLĐTBXH)
Ngoài các quy định trên, Nhà nước còn quy định trách nhiệm cho tổ chức công đoàn và thanh tra Nhà nước trong kiểm tra, quản lý việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động, nhất là lao động trẻ em
6 Quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất với lao động trẻ em
Theo quy định tại Điều 84 BLLĐ, trong trường hợp vi phạm kỷ luật lao động, tùy theo mức độ phạm lỗi, người lao động chưa thành niên có thể bị xử lý theo một trong những hình thức sau: khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc chuyển sang làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng hoặc cách chức và sa thải Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định tại Chương VIII của BLLĐ và được cụ thể hóa tại Nghị định số 41/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về
Trang 8kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, Nghị định số 33/2003/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI VIỆT NAM
1 Thực trạng
Ở VN cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, trẻ em phải tham gia lao động kiếm sống sớm Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm 2011, cả nước có khoảng 30.000 trẻ em phải tham gia vào các hình thức lao động
Có thể thấy, ở Việt nam hiện nay, nhu cầu sử dụng lao động trẻ em ngày càng lớn Tuy nhiên, việc vi phạm quy định pháp luật trong sử dụng lao động trẻ
em ở Việt Nam vẫn còn rất phổ biến, thể hiện ở một số mặt như sau:
Vi phạm về kê khai thông tin: theo một khảo sát mới đây, Không ít trẻ em dưới 15 tuổi đang phải làm các nghề: bưng bê, phục vụ, giúp việc gia đình Nhóm LĐ này thường không công khai danh tính mà núp dưới quan hệ “con cháu trong nhà”
Vi phạm quy định về độ tuổi lao động: Pháp luật lao động Việt Nam cũng như ILO đều quy định “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi” Tuy nhiên, theo khảo sát của Viện Khoa học lao động và xã hội thì lao động trẻ em thường
ở độ tuổi từ 10-14 tuổi, chiếm 72,6% tổng số trẻ em đang tham gia lao động được khảo sát Tiếp đến là nhóm tuổi từ 15-17 tuổi (chiếm 17%) và nhóm 6-9 tuổi (chiếm khoảng 10%)1 Như vậy, việc sử dụng lao động dưới 15 tuổi diễn ra rất phổ biến
Vi phạm quy định về việc làm và hợp đồng lao động: Khảo sát cũng cho thấy lao động trẻ em đang làm việc chiếm tỷ trọng cao nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại - dịch vụ và thấp nhất là trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Trẻ em lao động tập trung nhiều trong một số công việc điển hình như đi biển ở Quảng Ninh, khai thác đá ở Hà Tĩnh, khai thác vàng ở Nghệ
An, chế biến cá bò ở Quảng Nam, khai thác mủ cao su ở Gia Lai, làm việc trong các lò gạch ngói ở An Giang, làm việc nhiều giờ trong điều kiện làm việc tồi tàn
Trang 9tại các xưởng may tư nhân, sản xuất chế biến tư nhân tại Hà Nội, Tp.HCM Có thể thấy, đây là những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, sự phát triển về thể lực và trí lực của trẻ em
Khi tuyển dụng lao động trẻ em, chủ sử dụng lao động thường không ký kết hợp đồng lao động Nhiều trường hợp, đối với lao động dưới 15 tuổi chưa có văn bản thể hiện sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu
Vi phạm quy định trong quá trình sử dụng lao động: Kết quả khảo sát gần đây nhất do Sở LĐTB&XH Hà Nội thực hiện tại một số quận, huyện với khoảng
800 trường hợp trẻ em phải LĐ sớm cho thấy: trong số trẻ tham gia LĐ nặng nhọc, độc hại, có gần 85% đang đi học (18,3% đang học tiểu học, 54,57% đang học THCS, 27% đang học THPT) Có em bị bóc lột sức LĐ trong suốt thời gian dài mà không ai hay biết, có nhiều bé gái rơi vào tình trạng bị cưỡng bức…
Thường xuyên phải LĐ trong môi trường không đảm bảo an toàn là công nhân của nhiều xưởng sản xuất nhỏ, làng nghề Tại Hà Nội, phần lớn trong tổng
số 272 làng nghề được công nhận tại 18 huyện, quận Hà Đông và thị xã Sơn Tây chưa có nơi sản xuất riêng biệt, nhà xưởng tạm bợ, gần 2/3 làng nghề tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây cháy nổ2
Về thời giờ làm việc: Thời gian làm việc bình quân theo ngày của lao động trẻ em phổ biến ở mức từ 4-5 giờ Nhóm lao động trẻ em làm thuê có thời gian làm việc trong ngày nhiều nhất trong số lao động trẻ em với thời gian làm việc trên 6 giờ/ ngày, thậm chí tại những cơ sở may, chế biến thực phẩm vào mùa vụ sản xuất có thể làm việc tới 8-9 giờ hoặc 10-12 giờ/ ngày Việc sử dụng lao động này đã vi phạm quy định về thời giờ làm việc đối với lao động trẻ em
Chủ sử dụng lao động thường xem việc tuyển dụng lao động trẻ em là sự tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, nên mức lương áp dụng đối với lao động trẻ
em thường phổ biến từ 400- 800 nghìn đồng/tháng tùy theo tính chất loại việc
Trang 10Có thể nhận thấy, việc sử dụng lao động trẻ em trong các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, môi trường làm việc không được đảm bảo tốt, cùng với thời gian lao động kéo dài và mức lương thấp chính là biểu hiện của việc bóc lột lao động trẻ em Và hiện nay ngày càng xuất hiện thêm nhiều hình thức sử dụng lao động trẻ em trá hình, nhiều cách bóc lột sức lao động trẻ em tinh vi Có nhiều cơ
sở sản xuất sử dụng lao động trẻ em lập lờ danh nghĩa “lao động giúp đỡ gia đình” để bóc lột sức lao động của trẻ Trẻ em lao động tại các cơ sở này được biện minh là con cái, họ hàng chứ không phải đối tượng lao động đi thuê
2 Nguyên nhân
Thực trạng sử dụng lao động trẻ em như trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Một là, các quy định của pháp luật về việc sử dụng lao động trẻ em chưa rõ ràng, thống nhất và hợp lý Ví dụ như cùng một nhóm đối tượng từ 15 tuổi cho đến dưới 16 tuổi trong BLLĐ và Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em lại được gọi khác nhau: “lao động trẻ em” và “lao động chưa thành niên” Điều này
sẽ gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc áp dụng luật trên thực tế, như đối với trường hợp người sử dụng lao động sử dụng nhóm đối tượng từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 13 của Nghị định số 47/2010/NĐ-CP để xử lý Nhưng sau khi xử phạt xong, người sử dụng lao động vẫn tiếp tục vi phạm thì khó xử lý tiếp theo Điều 228 BLHS (người nào sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm…) Đó là do quy định trong Điều 228
chỉ áp dụng đối với hành vi vi phạm sử dụng lao động trẻ em, nhưng với nhóm
từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi lại được hiểu là “lao động trẻ em” hoặc “lao động chưa thành niên” nên sẽ dẫn đến việc lúng túng khi áp dụng Điều 228 của