1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề ly thân trong thực tế hiện nay tương đối phổ biến hãy nêu những hiểu biết của mình về ly thân

12 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hôn được quy định trong pháp luật Luật hôn nhân gia đình 2000, các khía cạnh pháplý cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên vợ chồng đều được quy định một cách rạch ròi thì vấn đề

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU

B PHẦN NỘI DUNG

I Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của vấn đề ly thân

II Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề ly thân

III Một số nội dung về vấn đề ly thân

IV Vấn đề ly thân trong thực tế hiện nay

C PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1 2 2 2 4 5 9 11 12

A PHẦN MỞ ĐẦU

Thực tế hiện nay, không chỉ ở nước ta mà ở rất nhiều nước trên thế giới hiện tượng ly thân đã trở thành một trào lưu rất phổ biến Không đơn giản như vấn đề ly

Trang 2

hôn được quy định trong pháp luật (Luật hôn nhân gia đình 2000), các khía cạnh pháp

lý cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên vợ chồng đều được quy định một cách rạch ròi thì vấn đề ly thân rõ ràng vẫn tồn tại song trong luật lại không hề có quy định, thực sự đã mang lại nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật, giải quyết các vụ việc thực tế

Câu hỏi được đặt ra là tại sao Luật hôn nhân gia đình năm 2000 không quy định vấn đề ly thân? Và tại sao pháp luật hiện hành không quy định nhưng vấn đề này vẫn

được áp dụng trong thực tế rất phổ biến Bài viết “Vấn đề ly thân trong thực tế hiện nay tương đối phổ biến Hãy nêu những hiểu biết của mình về ly thân” của em xin

đưa ra những hiểu biết và bình luận của mình về vấn đề ly thân

B PHẦN NỘI DUNG

I Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của vấn đề ly thân

Theo học thuyết Mác – Lênin về hôn nhân và gia đình thì vấn đề ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo Theo quan điểm của giáo hội Thiên chúa, việc lấy vợ, lấy chồng của nam, nữ là do “chúa” tạo lập, hôn nhân có tình cách “bất khả đoạn tiêu”, vợ chồng phải “ăn đời ở kiếp” với nhau, không được ruồng bỏ nhau; quan điểm của giáo hội thường cấm vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống chung giữa vợ

và chồng, có nhiều trường hợp về những nguyên nhân, lý do, động cơ nào đó mà nảy sinh xung đột, mâu thuẫn sâu sắc, vợ chồng không muốn hoặc không thể sống chung Nhận thức được vấn đề này pháp luật theo quan điểm tôn giáo đã khởi nguồn quy định chế định ly thân với mục đích ban đầu coi ly thân là giải pháp nhằm giải tỏa xung đột trong đời sống vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng “sống riêng”

Hiện nay, trong luật dân sự của nhiều nước tư sản, bên cạnh việc quy định cho

vợ chồng được ly hôn còn công nhận quyền ly thân của vợ chồng Ly thân còn được các nhà lập pháp coi như một giải pháp quá độ, một giai đoạn thử thách cuối cùng trước khi ly hôn Thời gian vợ chồng sống ly thân theo luật định sẽ tạo điều kiện cho

Trang 3

vợ chồng suy nghĩ lại, tạo điều kiện tái hợp cuộc sống chung của vợ chồng trước khi

vợ chồng quyết định ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật

Thông thường, pháp luật của nhà nước tư sản quy định về ly thân và hậu quả pháp lý của ly thân rất chặt chẽ Tòa án giải quyết ly thân thường dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng Hậu quả pháp lý của ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, chỉ tạm thời chấm dứt một số quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo luật định Khi ly thân, vợ chồng rơi vào tình trạng “biệt cư” họ được miễn nghĩa vụ

“đồng cư” trong nhà, vợ chồng không còn sống chung với nhau, họ được quyền ở riêng Hậu quả pháp lý của ly thân đặt vợ chồng rơi vào tình trạng “biệt sản” Khi ly thân, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia, mỗi bên vợ, chồng được nhận một phần tài sản trong khối tài sản chung theo quyết định của tòa án; phần tài sản này thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng Tức là chế độ cộng đồng tài sản (tài sản chung của vợ, chồng) chấm dứt khi vợ, chồng sống ly thân Tuy nhiên, ly thân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Giữa vợ và chồng vẫn ràng buộc trách nhiệm đối với nhau và với con chung: vợ chồng vẫn phải chung thủy với nhau; không được kết hôn với người khác, phải có nghĩa vụ đóng góp phí tổn vào nhu cầu đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng con chung

Sau một thời gian vợ chồng sống ly thân nếu xung đột, mâu thuẫn vợ chồng đã được dàn xếp, vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ án ly thân trước đây và tái hợp chung sống bình thường Nếu không thể tái hợp được trong thời gian sống ly thân (thông thường theo quy định của pháp luật là từ 3 năm đến 5 năm), vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án sửa đổi án ly thân trước đây thành án ly hôn để được chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật

II Quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề ly thân:

1 Trước cách mạng Tháng tám (1945):

Trong pháp luật phong kiến Việt Nam, vấn đề ly thân hoàn toàn không được dự liệu vì nó trái với tập quán truyền thống của gia đình Việt Nam Theo tập quán truyền

Trang 4

thống của gia đình Việt Nam, quan hệ hôn nhân được xác lập dựa trên cơ sở tình cảm yêu thương chân chính của nam và nữ; vợ chồng yêu thương nhau, cùng nhau thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm với gia đình, với con cái Nguyên tắc không bình đẳng giữa vợ và chồng của pháp luật phong kiến ở Việt Nam đã cột chặt người phụ nữ vào gia đình nhà chồng, lấy chồng theo quan điểm “thuyền theo lái, gái theo chồng”,

“sống thì gửi thịt, chết thì gửi xương”; người vợ thường “vô năng lực”, chỉ được ở riêng nếu được “chồng cho”

Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trước năm 1945, chính quyền bù nhìn

đã ban hành ba bộ luật dân sự, áp dụng riêng biệt trên ba miền Bắc – Trung – Nam Chế độ hôn nhân và gia đình theo ba bộ dân luật này phần nhiều dựa trên Bộ dân luật pháp (1804) Tuy nhiên, vấn đề ly thân chỉ được quy định một cách giản đơn trong Bộ dân luật giản yếu (1883) ở Nam Kì Bộ dân luật Bắc Kì (1931) và Bộ dân luật Trung

Kì (1936) không quy định về ly thân Trong thiên thứ VI về ly hôn của Bộ dân luật giản yếu (1883), ở đoạn cuối nêu rõ: “trong các trường hợp có thể xin ly hôn được, vợ chồng cũng có thể xin ly thân Đơn ấy sẽ được thẩm cứu và xử như trong vụ ly hôn Sau này cũng có thể khởi tố xin ly hôn, và căn cứ vào những duyên cớ đã nại ra để xin

ly thân”

Ở Miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (từ năm 1954 – 1975), chế độ ngụy quyền Sài Gòn cũng ban hành một số văn bản luật, trong đó có quy định về vấn đề ly thân Bộ luật gia đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm, tại Điều 55 đã quy định rõ cấm vợ chồng không được ly hôn, việc ly hôn chỉ được đặt ra trong trường hợp đặc biệt và phải do chính tổng thống quyết định Từ Điều 56 đến Điều 69 của Bộ luật này có quy định việc ly thân; những duyên cớ (lỗi) để vợ chồng yêu cầu ly thân

và hiệu lực của việc ly thân Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 quy định về giá thú, tử

hệ và tài sản cộng đồng thay thế Bộ luật gia đình dưới chế độ Ngô Đình Diệm Sắc luật này vừa chấp nhận cho vợ chồng ly thân đồng thời đã công nhận quyền ly hôn của vợ chồng (Chương II từ Điều 62 đến Điều 99 đã quy định về ly thân, ly hôn)

Trang 5

Bộ luật dân sự ngày 20/12/1972 của ngụy quyền Sài Gòn thay thế Sắc luật số 115/64 Bộ dân luật này cũng quy định cho vợ chồng vừa được ly hôn vừa có quyền yêu cầu ly thân Điều 170 của Bộ luật này đã quy định các duyên cớ (lỗi) để cợ chồng Xin ly hôn hoặc ly thân Trong tiết III nói về ly thân, từ Điều 202 đến Điều 206 quy định thủ tục, hậu quả của ly thân

2 Hệ thống pháp luật dân sự về hôn nhân và gia đình của Nhà nước

Ngay từ khi mới ra đời, những văn bản pháp luật đầu tiên mà Nhà nước ta ban hành đã ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ (Điều 9 – Hiến pháp 1946), xóa bỏ quyền

“trừng giới” của người gia trưởng, công nhận và thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ chồng, “người đàn bà lấy chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6 – Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật) Từ đó đến nay, sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong xã hội ta Trong quan hệ giữa vợ và chồng, vợ chồng có quyền ở chung, “Chỗ ở của vợ chồng

do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán” (Điều 13 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986); “nơi cư trú của vợ chồng là nơi vợ chồng sống chung

Vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau, nếu có thỏa thuận” (Điều 51 BLDS của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam)

III Một số nội dung về vấn đề ly thân

1 Khái niệm ly thân

Khái niệm ly thân thường được hiểu như là sự tạm dừng chung sống giữa cặp vợ chồng, do những bất đồng, mâu thuẫn trong gia đình, mà thường là chưa có sự can thiệp về mặt hành chính, pháp lý từ bên ngoài, nếu như không có những sự tranh chấp, xung đột thô bạo trong gia đình

Ly thân là một giải pháp pháp lý với các mục đích như là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng ngoài biện pháp cuối cùng là chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn; tạo căn cứ pháp lý điều chỉnh về nhân thân, tài sản và con trong khi hôn nhân

Trang 6

chưa chấm dứt về mặt pháp luật; đảm bảo sự minh bạch, công khai trong các giao dịch dân sự

2 Tại sao Luật hôn nhân gia đình năm 1986 và các văn bản pháp luật có liên quan không quy định vấn đề ly thân?

Phân tích hậu quả pháp lý của ly thân ta thấy, khi một cặp vợ chồng được tòa án

xử ly thân có nghĩa là rơi vào tình trạng “biệt cư”, “biệt sản”

Thứ nhất, xét về hậu quả pháp lý là “biệt cư”: vợ chồng trước tiên với tư cách là

công dân, có quyền lựa chọn chỗ ở Vấn đề ở chung và ở riêng là quyền của vợ chồng

vợ chồng bình đẳng không bị lệ thuộc bởi ý chí của nhau hoặc của người khác “Việc

vợ chồng ở chung hay ở riêng còn phụ thuộc vào điều kiện nghề nghiệp, sinh hoạt của bản thân, của gia đình và nguyện vọng chính đáng của vợ, chồng Lẽ thường khi vợ, chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, họ ở chung; khi mâu thuẫn giận hờn, vợ chồng có thể ở riêng mà không cần được chồng cho phép hay do Tòa án quyết định bằng một phán quyết có hiệu lực pháp luật Vấn đề ở chung hay ở riêng của vợ chồng thuộc về quyền nhân thân của vợ chồng, đây là điều hết sức tế nhị trong cuộc sống tình cảm của vợ chồng Không nhất thiết mỗi lần giận hờn, khi có mâu thuẫn, mong muốn được ở riêng thì vợ, chồng lại phải yêu cầu tòa án cho họ được ly thân, sau đó nếu tái hợp chung sống với nhau, vợ chồng lại cần phải yêu cầu tòa án hủy bỏ án ly thân để được sống chung với nhau Rõ ràng điều này là không cần thiết

Thứ hai, xét về vấn đề “biệt sản”: vợ chồng một khi tình cảm không còn thì kéo

theo đó là các vấn đề liên quan đến tài sản chung của cả hai người Như chúng ta đã biết, trong đời sống xã hội có những cặp vợ chồng vì lý do nào đó như sợ ảnh hưởng đến hòa khí trong gia đình, hay ảnh hưởng đến uy tín, danh dự mà họ không muốn ly hôn nhưng có yêu cầu chia tài sản chung vì không thể ăn ở chung với nhau được; hoặc vì một bên vợ (hoặc chồng) vì lý do nào đó đã vay nợ sử dụng với mục đích, nhu cầu riêng mà tài sản riêng của mình không có hoặc không đủ để trả nợ và vợ chồng không thể thảo thuận thành toán món nợ riêng của một bên vợ (chồng) bằng tài sản

Trang 7

chung của họ Việc chia tài sản đang tồn tại trong những trường hợp như vậy đã giải tỏa được sự xung đột (đặc biệt là vấn đề tài sản) giữa vợ - chồng, tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng ổn định nghề nghiệp, cuộc sống mà không cần thiết phải ly hôn, như thế cũng là để ổn định các quan hệ gia đình (quy định của pháp luật không ngoài mục đích đó) Như vậy, quy định về vấn đề “biệt sản” trở nên cần thiết đáp ứng thực tiễn xã hội

Từ phân tích trên đòi hỏi pháp luật phải có một chế định pháp lý phù hợp Điều

18 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 1986 đã thể hiện sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này Tuy nhiên bên cạnh đó có một số quan điểm cho rằng quy định tại Điều 18 chính là sự thừa nhận của pháp luật về vấn đề ly thân? Cùng tìm hiểu vấn đề này ta thấy Hiểu như vậy là không đúng với nội dung, ý nghĩa của điều luật Điều này chỉ quy định việc thanh toán (chia) tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại, nếu vợ, chồng có yêu cầu và có lí do chính đáng Quy định này xuất phát

từ thực tế khách quan, có một số trường hợp, vì lí do nào đó dẫn tới việc vợ chồng có xung đột nhưng không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng và có yêu cầu chia tài sản chung (Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, hướng dẫn TAND các cấp áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986) Quy định này đã góp phần giải quyết ổn thỏa một số mẫu thuẫn gia đình, đảm bảo quyền lợi chính đáng về tài sản của vợ, chồng

Theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (1986), các nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình (Điều 64 Hiến pháp, Điều 10 Luật Hôn nhân – Gia đình), chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán (Điều 13); vợ chồng có quyền lựa chọn nghề nghiệp chính đáng (Điều 12), đã tạo điều kiện cơ bản cho vợ, chồng thực hiện các quyền cơ bản Cùng với đó là sự ra đời của Luật HNGĐ năm 2000 cũng đã có những quy định ở điều 18 để phù hợp hơn trong điều kiện thực tiễn hiện nay Thiết

Trang 8

nghĩ, đây là sự điều chỉnh phù hợp từ việc thay đổi quy định ly thân trước đây sao cho phù hợp với thực tiễn xã hội

3 Vấn đề “biệt sản” trong ly thân có đồng nhất với vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?

Vấn đề “biệt sản” trong ly thân được hiểu là khi cặp vợ chồng ly thân thì “tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia, mỗi bên vợ, chồng được nhận một phần tài sản trong khối tài sản chung theo quyết định của tòa án; phần tài sản này thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng” Nói cách khác, về vấn đề tài sản trong hôn nhân vợ chồng không còn ràng buộc với nhau, tài sản của người vợ, tài sản của người người chồng

nó là một khái niệm riêng biệt chứ không như trước đây khi chưa ly thân chỉ tồn tại duy nhất một khái niệm “tài sản của vợ chồng”

Khác với vấn đề “biệt sản”, vấn đề chia tài sản chung trong hôn nhân có thể không tồn tại một cách chia dứt khoát như vậy Vợ chồng vì không còn tình cảm với nhau (nhưng không thể ly hôn), vì lý do kinh tế của bản thân hoặc vì phải hoàn thành một nghĩa vụ nào đó ví dụ như phải trả nợ, chăm sóc cha mẹ đẻ nên muốn chia tài sản chung, trong trường hợp này vợ, chồng có thể yêu cầu tòa án chia hết tài sản chung hoặc chỉ một phẩn tài sản chung Nói về vấn đề này thì có sự khác biệt của luật HNGĐ năm 2000 so với luật HNGĐ năm 1986 đó là “nguyên tắc tự thỏa thuận của

vợ chồng về vấn đề chia tài sản chung trong hôn nhân”, có nghĩa là luật HNGĐ năm

2000 quy định vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia một phần tài sản hoặc chia hết Như vậy, vấn đề chia tài sản chung trong hôn nhân khác với vấn đề “biệt sản” trong hôn nhân ở chỗ chia tài sản chung trong hôn nhân có thể không chia hết tài sản chung của vợ chồng (phương thức chia)

IV Vấn đề ly thân trong thực tế hiện nay

1 Thực trạng:

“Vấn đề ly thân đang xảy ra tương đối phổ biến trong xã hội hiện nay”

Trang 9

Trên thực tế, vấn đề ly thân không được quy định trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào của nước ta Chính vì thế, để có bảng số liệu thống kê của Tòa án về các vụ

án ly thân là không thể có Do đó, để nghiên cứu hiện tượng này ta chỉ có thể nghiên cứu dưới góc độ xã hội học

- Phần lớn các cặp vợ - chồng mặc dù cuộc sống đôi bên không hạnh phúc mà vẫn không muốn ly hôn nên chọn biện pháp ly thân như một biện pháp cứu vãn tình thế:

Cũng với sự phát triển của xã hội thì nhận thức của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu vật chất, tinh thần của con người cũng theo đó tăng lên Các cặp vợ chồng khi không thể chung sống hòa hợp nhưng do địa vị chính trị, vì con cái và nhiều lý do tế nhị khác họ không thể đưa nhau ra tòa ly thân chính vì thế mà rất nhiều cặp vợ chồng tuy biết luật pháp Việt Nam không có bất kỳ một chế định nào điều chỉnh vấn đề ly thân nhưng họ vẫn chọn giải pháp này

Qua việc tìm hiểu một số bài viết trên internet được biết phát biểu của chị Nguyễn Vân Anh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về giới, gia đình, phụ nữ và vị thành niên cho biết, mỗi ngày trung tâm nhận được khoảng 300 cuộc tư vấn qua số điện thoại 1900585808 Trong đó, phần lớn là các vấn đề khúc mắc gia đình, nhiều ca xin tư vấn vì cuộc sống vợ chồng quá nặng nề nhưng không muốn ly hôn Có những khách hàng cho biết, vợ chồng họ bất hòa nhưng ông chồng là 1 quan chức nhất định không chịu ly hôn vì danh tiếng Ông này sẵn sàng chấp nhận vợ cặp với người khác nhưng trước mặt quan khách, họ hàng thì hai người vẫn phải vui vẻ, quan tâm nhau như 1 cặp tràn trề hạnh phúc Theo tiến sĩ xã hội học Hoàng Bá Thịnh, hiện nay ly thân đang khá phổ biến, thậm chí còn nhiều hơn các ca ly hôn Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ xảy ra ở những cặp vợ chồng ngoài 30 tuổi Nhóm tuổi này thường có cuộc sống thu nhập ổn định, thành đạt, họ không muốn ly hôn vì sợ ảnh hưởng đến địa vị,

uy tín, hay con cái Khác với ở các nước phương Tây, người Việt Nam thường ly thân

Trang 10

nhưng vẫn sống chung nhà, mọi giao tiếp chỉ là chiếu lệ Trước mặt người thân, bạn

bè, hàng xóm họ vẫn tỏ ra quan tâm yêu thương nhau

- Điều tra xã hội học về vấn đề ly thân:

Như đã nói, lý do mà các cặp vợ chồng không muốn ly hôn thường là những vấn

đề tế nhị muốn che giấu cuộc hôn nhân đổ nát của mình nên để điều tra xã hội học vấn đề này trong thực tế là điều rất khó thực hiện, đặc biệt là việc thống kê các trường hợp cặp vợ chồng ly thân qua các giai đoạn, trong phạm vi cả nước hay trong phạm vi một địa phương Với tư cách là sinh viên của một trường đại học em xin đưa ra điều tra xã hội học của mình về vấn đề ly thân trong một phạm vi rất hạn hẹp

Điều tra xã hội học về tình hình ly thân tại phường Quan Hoa quận Cầu Giấy –

Hà Nội thì trung bình ở tổ này thì có 40 cặp vợ chồng ở đủ mọi lứa tuổi trong đó có

10 cặp vợ chồng đang sống ly thân Ngoài ra, trong quá trình điều tra xã hội học tại quận này, bản thân em cũng được biết phường Nghĩa Đô, phường Trung Hòa cũng

có rất nhiều trường hợp ly thân với lý do chủ yếu là nghĩ cho con cái hoặc do có địa vị

xã hội

2 Vấn đề ly thân có nên được quy định lại trong luật HNGĐ và các văn bản pháp lý khác có liên quan không?

Như đã phân tích vấn đề ly thân trong thực tế hiện nay xảy ra rất nhiều nhưng không được pháp luật điều chỉnh và song song với vấn đề này là vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Khoản 1 Điều 29 Luật HNGĐ năm 2000 có quy định điều kiện của vợ chồng khi làm đơn “chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”:

“Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa giải quyết”

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w