1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trình bày khái quát các quy định của pháp luật việt nam hiện hành về giám định sở hữu trí tuệ và đánh giá thực tiễn giám định sở hữu trí tuệ ở việt na

14 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 115 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát thì giám định SHTT chính là sự kiểm tra và kết luận của các cơ quan có thẩm quyền đối với quyền sở hữu các sản phẩm lao động sáng tạo và theo Khoản

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

I – MỞ DẦU……… 1

II – NỘI DUNG……… 1

1 Khái niệm và vai trò của giám định SHTT……… 1

2 Giám định SHTT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành… 2 2.1. Nội dung và lĩnh vực giám định SHTT……… 2

2.2 Trưng cầu, yêu cầu giám định SHTT……… 3

2.3 Tổ chức giám định và giám định viên SHTT……… 5

2.4 Nội dung của hoạt động giám định SHTT……… 6

3 Đánh giá hoạt động giám định SHTT ở việt Nam hiện nay………… 6

3.1 Khái quát về hoạt động giám định SHTT ở Việt Nam ……… … 7

3.2 Những thành tựu và hạn chế của hoạt động giám định SHTT…… 8

III – KẾT LUẬN……… 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 12

I – MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ thì các đối tượng của quyền

sở hữu trí tuệ (SHTT) đã và đang khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên thương hiệu, giá trị và tính cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp Trong bối cảnh khi Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới thì vấn đề thực thi và bảo vệ quyền SHTT càng trở nên cấp thiết không chỉ đối với các doanh nghiệp, các chủ thể quyền mà còn trực tiếp đối với các cơ quan quản lý

Từ thực tiễn giải quyết các vụ xâm phạm quyền SHTT đã chỉ ra một thực tế là các hành vi xâm phạm quyền SHTT là rất đa dạng và phong phú nhưng chủ yếu là các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả Để giải

Trang 2

quyết một cách có hiệu quả các vụ tranh chấp quyền SHTT thì Luật SHTT năm

2005 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có quy định về giám định SHTT để làm căn

cứ cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh có liên quan đến quyền SHTT Để nắm vững và hiểu một cách chính xác các quy định của pháp luật về công tác giám

định SHTT nên em đã chọn đề “Trình bày khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giám định SHTT và đánh giá thực tiễn giám định SHTT

ở Việt Nam hiện nay” làm bài tập cho mình để qua đó có thể có được những nhìn

nhận đúng đắn về một lĩnh vực khá mới này

II – NỘI DUNG

1 Khái niệm và vai trò của giám định SHTT.

a Khái niệm.

Theo từ điển tiếng Viêt thì thuật ngữ giám định được hiểu là “xem xét để quyết định là có hay không” Còn theo từ điển pháp luật thì giám định chính là sự “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” SHTT chính là sự sở hữu của con người đối với các sản phẩm

lao động do mình hoặc người khác tạo ra được pháp luật thừa nhận Như vậy có thể hiểu một cách khái quát thì giám định SHTT chính là sự kiểm tra và kết luận của các cơ quan có thẩm quyền đối với quyền sở hữu các sản phẩm lao động sáng tạo và

theo Khoản 1 Điêu 201 Luật SHTT sửa đổi, bổ sung thì “Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền SHTT”.

b Vai trò của giám định SHTT.

Thứ nhất, giám định SHTT là công cụ đóng vai trò quan trọng trong việc xác

định hành vi xâm phạm quyền SHTT trên thực tế góp phần đảm bảo và thực thi có hiệu quả quyền SHTT

Trang 3

Thứ hai, trong qúa trình giải quyết, xử lý các vụ xâm phạm quyền SHTT thì

giám định SHTT là khâu quan trọng để xác định hành vi, tính chất, mức độ xâm phạm và xác định thiệt hại khi có yêu cầu giải quyết, xử lý xâm phạm các đối tượng quyền SHTT bao gồm giám định về quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với gống cây trồng

Thứ ba, văn bản kết luận giám định SHTT được coi là một nguồn chứng cứ

quan trọng để giải quyết các vụ xâm phạm quyền SHTT

2 Giám định SHTT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì vấn đề giám định SHTT được quy định tại Điều 201 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và được

cụ thể hóa tại Nghi định của Chính phủ số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lí nhà nước về SHTT; Nghị định của Chính phủ số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghi định số 105/2006/NĐ-CP

Cụ thể các quy định đó trình bày một số nội dung chủ yếu sau đây:

2.1 Nội dung và lĩnh vực giám định SHTT.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP thì nội dung của giám định SHTT ở Việt Nam hiện nay bao gồm bốn nội dung chủ yếu sau: Xác định phạm vi bảo hộ của đối tượng quyền SHTT được quy định tại Điều 6 của Nghị định số 105/2006NĐ-CP; Xác định các đối tượng được xem xét có đáp ứng các điều kiện để bị ci là yêu tố xâm phạm quyền SHTT hay không theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 và các điều từ Điều 7 đến Điều 14 của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP; Xác định có hay không sự trùng, tương đương, tương tự, gây nhầm lẫn, khó phân biệt hoặc sao chép giữa đối tượng được xem xét với đối tượng được bảo hộ; Xác định giá trị quyền SHTT, xác định giá trị thiệt hại

Về lĩnh vực giám định SHTT thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 39 Nghị định

số 105/2006/NĐ-CP bao gồm ba linh vực là: Giám định về quyền tác gỉa và quyền

Trang 4

liên quan; Giám định về quyền sở hữu công nghiêp; Giám định về quyền đối với giống cây trồng

2.2 Trưng cầu, yêu cầu giám định SHTT.

a Thẩm quyền trưng cầu giám định SHTT.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 40 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP thì “Cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định sở hữu trí tuệ gồm các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, xử lý xâm phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 200 của Luật SHTT” Như vậy theo quy định tại Điều 200

Luật SHTT thì các cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định SHTT ở Việt Nam hiện nay gồm: Tòa án; Các cơ quan thanh tra, công an, quản lý thị trường, UBND các cấp; Cơ quan Hải quan

Trang 5

b Quyền yêu cầu giám định SHTT

Bên cạnh việc quy định các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trưng cầu giám định ra thì pháp luật nước ta còn quy định các tổ chứ, cá nhân có liên quan đến vụ việc về quyền SHTT có quyền yêu cầu giám định SHTT để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Các tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu giám định được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 40 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, bao gồm: Chủ thể quyền SHTT; Tổ chức, cá nhân bị yêu cầu xừ lý về hành vi xâm phạm hoặc bị khiếu nại, tố cáo về SHTT; Tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp, xâm phạm, khiếu nại, tố cáo về SHTT

Các tổ chức, cá nhân trên có thể tự mình hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác yêu cầu tổ chức giám định SHTT, người giám định SHTT thực hiện giám định (Khoản 3 Điều 40 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP)

c Quyền và nghĩa vụ của người trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định SHTT.

Quyền của người trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định SHTT được quy định tại Khoản 1 Điều 41 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó người trưng cầu, yêu cầu giám định SHTT có các quyền sau đây: Yêu cầu tổ chức giám định, giám định viên trả lời kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn yêu cầu; Yêu cầu tổ chức giám định, giám định viên giải thích kết luận giám định; Yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại theo quy định tại Điều 50 của Nghị định này; Thoả thuận mức phí giám định trong trường hợp yêu cầu giám định

Trang 6

Nghĩa vụ của người trưng cầu và yêu cầu giám định SHTT được quy định tại Khoản 2 Điều 41 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó những chủ thể này có các nghĩa vụ sau đây: Yêu cầu tổ chức giám định, giám định viên trả lời kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn yêu cầu; Yêu cầu tổ chức giám định, giám định viên giải thích kết luận giám định; Yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại theo quy định tại Điều 50 của Nghị định này; Thoả thuận mức phí giám định trong trường hợp yêu cầu giám định

d Hình thức trưng cầu, yêu cầu giám định SHTT

Hình thức của việc trưng cầu, yêu cầu giám định SHTT được quy định tại Điều

45 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó thì việc trưng cầu giám định SHTT phải được lập thành văn bản và văn bản này phải có các nội dung chủ yêu sau đây: Tên, địa chỉ cơ quan trưng cầu giám định; tên, chức vụ người có thẩm quyền trưng cầu giám định; Tên, địa chỉ của tổ chức giám định hoặc giám định viên;Đối tượng, nội dung cần giám định; Các chứng cứ, tài liệu, hiện vật có liên quan; Thời hạn trả kết luận giám định

2.3 Tổ chức giám định và giám định viên SHTT.

a Tổ chức giám định SHTT

Tổ chức giám định SHTT được quy định tại Điều 42 và Điều 43 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP theo đó thì các tổ chức được tiến hành hoạt động giám định SHTT chính là các tổ chức được quy định tại Khoản 2 Điều 201 Luật SHTT Các tổ chức đó bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư (trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam) Tổ chức giám định SHTT được thành lập và hoạt động khi có các điều kiện sau đó là: Có ít nhất một giám định viên sở hữu trí tuệ; Có trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc; Có nguồn cơ sở dữ liệu thông tin cần thiết để thực hiện hoạt động giám định

Trang 7

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức giám định SHTT Các quyền và nghĩa vụ của

tổ chức giám định SHTT được quy định tại Điều 43 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó thì tổ chức giám định SHTT có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

Quyền của tổ chức giám định SHTT bao gồm: Thuê giám định viên sở hữu trí tuệ thực hiện giám định theo các vụ việc; Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp các thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định để thực hiện việc giám định, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Các quyền khác theo quy định của pháp luật

Đồng thời với quyền thì các tổ chức này cũng có một số nghĩa vụ nhất định đó là: Hoạt động theo đúng lĩnh vực giám định ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động; Bảo quản, lưu trữ các tài liệu, hồ

sơ liên quan đến vụ việc giám định; Giữ bí mật các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu hoặc trưng cầu giám định và phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

b Giám định viên SHTT.

Giám định viên SHTT là một chế định pháp lý hiện được quy định tại Điều

44 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP Theo quy định tại Điều 44 thì chế định giám định viên SHTT bao gồm các nội dung sau:

- Khái niệm giám định viên SHTT được quy định tại Khoản 1 Điều 44 Nghị định số 119/2010/NĐ-CP theo đó thì giám định viên SHTT là người có đủ trình độ kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến nội dung cần giám định, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận

và cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ Đồng thời muốn trở thành giám định viên SHTT thì cá nhân phải được cấp thẻ giám định viên SHTT, điều kiện để được cấp thẻ giám định viên SHTT được quy định tại Khoản 3 Điều 201 Luật SHTT

Trang 8

- Quyền và nghĩa vụ của giám định viên SHTT Quyền và nghĩa vụ của giám định SHTT hiện được quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 44 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó khi thực hiện các công việc với tư cách là một giám định viên SHTT thì họ sẽ có được những quyền lợi nhất định và song song với đó là những nghĩa vụ tương ứng

2.4 Nội dung của hoạt động giám định SHTT

Nội dung của hoạt động giám định SHTT được quy định từ Điều 47 đến Điều

53 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Theo đó hoạt động giám định SHTT bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Giao, nhận, trả lại đối tượng giám định SHTT;

- Lấy mẫu giám định SHTT;

- Thực hiện giám định SHTT;

- Giám định bổ sung, giám định lại;

- Văn bản kết luận giám định;

- Các hành vi bị nghiêm cấm trong giám định và phi giám định

3 Đánh giá hoạt động giám định SHTT ở Việt Nam hiện nay.

3.1 Khái quát về hoạt động giám định SHTT ở Việt Nam hiện nay.

Giám định SHTT là một trong những hoạt động rất quan trọng hiện nay Nó được coi là một trong những công cụ pháp lý hiệu quả nhất trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT Mặc dù ở Việt Nam thì hoạt động này còn khá mới, nhưng nó đã nhận được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước Nhà nước

đã ban hành ra các văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề này, cụ thể chính là Luật SHTT 2005 và các văn bản dưới luật trực tiếp có liên quan đến hoạt động giám định SHTT Hoạt động giám định SHTT ở Việt Nam có thể được nhìn nhận từ hai giai đoạn là giai đoạn trước năm 2006 và từ năm 2006 trở lại đây Cụ thể từ năm 2006 trở về trước khi mà pháp luật chưa có quy định về hoạt động giám định SHTT thì cục SHTT là cơ quan có chức năng giám định SHTT đối với các vụ xâm phạm về

Trang 9

quyền SHTT Việc quy định như vậy là không hợp lý bởi vì cục sở hữu trí tuệ là cơ quan có chức năng cấp bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ, vừa xem xét các khiếu nại huỷ bằng, lại luôn được các cơ quan thực thi pháp luật tín nhiệm nhờ tư vấn giúp để ra quyết định xử lý vi phạm Làm doanh nghiệp lo mất công bằng, còn bản thân Cục

cũng giãy nảy vì sợ mang tiếng “vừa đá bóng vừa thổi còi” Nhưng từ khi Luật

SHTT 2005 được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 thì quy định tiền lệ này đã bị bãi bỏ Cụ thể theo quy định tại Điều 201 Luật SHTT 2005 thì chức năng giám định SHTT hiện được giao cho các tổ chức, cá nhân độc lập mà không phải là cục SHTT Quy định này đã giúp cục thoát được cảnh khó xử

Kể từ ngày 15/7/2009 thì Viện Khoa học SHTT (trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) bắt đầu tiếp nhận và giải quyết đơn yêu cầu, trưng cầu giám định SHTT Theo đó thì ở Việt Nam hiện nay Viện Khoa học SHTT là tổ chức duy nhất

có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để tiến hành hoạt động giám định SHTT với bốn giám định viên được cấp thẻ giám định viên theo quy định của pháp luật Theo báo cáo của cục SHTT thì Viện Khoa học SHTT mới chỉ có chức năng giám định duy nhất trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Còn các lĩnh vực khác thuộc quyền SHTT hiện vẫn chưa có một tổ chức nào đủ điều kiện để thực hiện chức năng giám định Như vậy sẽ là một thiếu sót rất lớn của các quy định pháp luật hiện hành

về hướng dẫn thi hành trong giám định các lĩnh vực khác thuộc quyền SHTT cụ thể chính là quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng

3.2 Những thành tựu và hạn chế của hoạt động giám định SHTT.

a Những thành tựu đã đạt được.

Mặc dù mới chỉ có một tổ chức giám định duy nhất với số lượng bốn giám định viên, nhưng trong thời gian qua Viện Khoa học SHTT đã thực hiện một cách khá tốt các công việc liên quan đến hoạt động giám định góp phần giải quyết có hiệu quả các vụ tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, tạo được niềm

Trang 10

tin cho các chủ thể quyền và những người có liên quan Cụ thể trong thời gian qua hoạt động giám định SHTT đã đạt được một số thành tựu:

- Thứ nhất, Viện khoa học SHTT đã tiến hành giám định cho hơn 400 đơn yêu

cầu giám định Các quyết quả giám định đã được sử dụng để giải quyết các tranh chấp quyền SHTT một cách hiệu quả nhất mà không cần đến vai trò trung gian của

cơ quan Nhà nước Tức là các bên không cần phải nhờ đến sự giúp đỡ của Tòa án

để giải quyết tranh chấp, mà dựa trên kết quả của Viện các bên đã tự ngồi lại với nhau để cùng đưa ra phương hướng giải quyết tốt nhất

Ví dụ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) ô tô Đông Phong tại tại Tỉnh

Hưng Yên được chuyển nhượng quyền sở hữu đối với giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu của công ty TNHH chế tạo cơ giới nông nghiệp Miền Bắc với sản phẩm

được bảo hộ là ô tô nhóm 12 và nhãn hiệu được bảo hộ là chữ “DFM” in hoa không tiêu chuẩn, chữ “M” thiếu một nét dọc bên trái, bên trên chữ “M” có một hình tam

giác đỉnh quay xuống dưới

Sau khi chuyển nhượng công ty Đông Phong đã sản xuất và cung ứng ra thị trường sản phẩm ô tô tải mang nhãn hiệu trên một cách hợp pháp và được tiêu thụ rất nhanh trên thị trường nhờ uy tin lâu năm cung như chất lượng của sản phẩm Tuy nhiên một thời gian sau công ty TNHH máy nông nghiệp Việt Trung tại

tỉnh Hải Dương đã tung ra thị trường sản phẩm ô tô tải mang nhãn hiệu “DVM” với phần chữ và phần hình tương tự “DFM” của công ty Đông phong đã được bảo hộ.

Cho rằng công ty Việt Trung đã sử dụng nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ hợp pháp của mình Đông Phong đã gửi thư khuyến cáo yêu cầu Việt Trung chấm dứt hành vi trên nhưng Việt Trung không vẫn tiếp tục sử dụng thương hiệu nêu trên Trước tình hình đó Đông Phong đã nộp đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết Nhưng do số lương đơn thư của vụ việc quá nhiều và nội dung của vụ việc cũng phức tạp nên chưa thể giải quyết được ngay

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w