Mặt khác, từ thực tế đó cũng cho thấy số vụ việc giải quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không đúng với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày càng
đi vào cuộc sống, trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và các cơ quan tư pháp các cấp đã có những cố gắng trong việc tiếp nhận, xử lý các vụ việc có đơn yêu cầu bồi thường Nhà nước Mặt khác, từ thực tế đó cũng cho thấy
số vụ việc giải quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không đúng với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong các lĩnh vực quản lý hành chính, hoạt động tư pháp và thi hành án được người dân yêu cầu bồi thường có xu hướng ngày càng tăng, trong đó có các vụ việc
bị oan sai có số lượng tiền phải bồi thường lớn Đây là những vấn đề bức xúc đặt ra cần phải có những giải pháp tích cực để hơn ai hết những người thực thi pháp luật phải mẫu mực trong việc tuân thủ pháp luật để quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thực sự được tôn trọng Một trong những lĩnh vực phát sinh nhiều vụ việc bồi thường Nhà nước gồm: Đất đai, xử lý vi phạm hành chính
Vì vậy,nhóm em xin chọn đề tài: “Sưu tầm 1 vụ việc thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất đai hoặc hải quan) Sưu tầm
1 vụ việc thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự? Phân tích căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong những vụ việc đó? Xác định cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường? xác định thiệt hại được bồi thường?” để đi sâu và tìm
hiểu thêm về vấn đề trên
I Vụ việc thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính (liên quan đến hoạt động quản
lý nhà nước về đất đai hoặc hải quan)
Trang 2 Tóm tắt vụ việc: Năm 2010 bà Trần Thị Man xin cấp giấy phép xây dựng
và được UBND phường 1, quận Gò Vấp cho phép sửa chữa, cải tạo nhà, bà Trần Thị Man mua vật liệu và tháo dỡ phần ván xung quanh để sửa nhà Trong lúc bà đang tháo dỡ phần gỗ xung quanh thì chủ tịch UBND phường 1 ra quyết định đình chỉ thi công vì cho rằng bà vi phạm trật tự xây dựng đô thị, cụ thể là bà đã sửa chữa cải tạo không đúng với nội dung giấy phép Theo chủ tịch UBND phường thì việc thi công bà cải tạo tăng diện tích tầng hai so với chủ quyền nhà là 2,4 m2
Không đồng tình, bà khiếu nại và khởi kiện yêu cầu hủy quyết định trên Xử
sơ thẩm, TAND quận Gò Vấp tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà Đến tháng
11-2012, Tòa Hành chính TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã tuyên hủy quyết định hành chính của chủ tịch UBND phường 1 Tòa cho rằng thực tế căn nhà của bà Man chỉ mới tháo dỡ, chưa cải tạo sửa chữa, mặt tường bên ngoài của căn nhà còn nguyên trạng thẳng từ dưới đất lên đến mái nhà Như vậy, không thể có chuyện bà Man tăng diện tích tầng hai so với chủ quyền nhà là 2,4 m2 như biên bản vi phạm hành chính của thanh tra xây dựng phường phản ánh
Án có hiệu lực, bà Man yêu cầu UBND phường 1 phải bồi thường những thiệt hại mà bà phải gánh chịu do quyết định trái pháp luật của phường gây ra Không thỏa thuận được mức bồi thường thỏa đáng, bà Man khởi kiện dân sự ra tòa
và TAND quận Gò Vấp đã thụ lý, xét xử Vụ việc trên được TAND quận Gò Vấp giải quyết như sau:
1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (Thông tư liên tịch số 08/2013/TTLT-BTP-BTC-TTCP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26 tháng 11 năm 2010 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính) căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm:
Thứ nhất, có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật Trong vụ việc này, bà Trần
Thị Man đã nhận thấy quyết định đình chỉ thi công, sửa chữa nhà của mình là trái pháp luật, gây thiệt hại cho mình Bà Trần Thị Man đã khiếu nại và khởi kiện hủy quyết định trên của UBND phường 1 Quận Gò Vấp đến Tòa án quận Gò Vấp Tuy nhiên, đơn khởi kiện của Bà Trần Thị Man đã bị TAND quận Gò Vấp hủy bỏ Sau
đó bà Man đã kháng cáo, Tòa hành chính TAND TP.Hồ Chí Minh xử phúc thẩm
đã nhận định hiện trạng căn nhà đang trong tình trạng tháo dỡ, chưa cải tạo sửa chữa, mặt tường bên ngoài của căn nhà còn nguyên trạng thẳng từ dưới đất lên đến mái nhà Như vậy, việc lập biên bản vi phạm hành chính của thanh tra xây dựng
Trang 3phường phản ánh bà Man cải tạo sửa chữa tăng diện tích tầng hai lên đến 2,4 m2 so với chủ quyền nhà là không đúng
Tòa cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Man, hủy quyết định hành chính của chủ tịch UBND phường 1, quận Gò Vấp
Như vậy, văn bản hủy quyết định hành chính của Chủ tịch UBND phường 1 quận Gò Vấp của Tòa Hành chính TAND Tp.Hồ Chí Minh đó là căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ
Thứ hai, hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Tính trái pháp luật của hành vi gây thiệt hại do người thi hành công vụ
thực hiện là việc thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn không đúng quy định của pháp luật
Theo Khoản 3 Điều 13 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định:
“Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác”
Trong vụ việc trên, Chủ tịch UBND phường 1 đã ra quyết định đình chỉ thi công vì cho rằng bà vi phạm trật tự xây dựng đô thị Theo Chủ tịch UBND phường
1 bà Man đã sửa chữa cải tạo không đúng với nội dung giấy phép Nhưng quyết định hành chính của Chủ tịch UBND phường 1 là không có căn cứ Căn nhà của bà Man chỉ mới tháo dỡ phần ván, chưa hề có động thái sửa chữa nào
Thứ ba, tính có lỗi của người thi hành công vụ Điều kiện bắt buộc làm
căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý
hành chính là: “Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật” Đây là cách quy định gián tiếp về
tính có lỗi của người thi hành công vụ Theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại trong quản lý hành chính được xác định đồng thời với việc xác định trái pháp luật của hành vi gây thiệt hại Trong
vụ việc này, có thể thấy lỗi của Chủ tịch UBND phường 1 đó là thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ gây thiệt hại Đó là, việc chủ tịch UBND phường 1 ra quyết định đình chỉ đó là không có căn cứ Nhà bà Trần Thị Man mới đang trong quá trình tháo dỡ phần ván, chưa hề có động thái sửa chữa nào mà chủ tịch UBND ra quyết định đình chỉ do bà Man đã cải tạo tăng diện tích tầng hai so với chủ quyền nhà là 2,4 m2 Như vậy, có thể thấy chủ tịch UBND phường 1 thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc chỉ đạo tiến hành xác minh cụ thể việc sửa chữa nhà của bà Man trước khi ra quyết định đình chỉ thi công
Thứ tư, có thiệt hại thực tế xảy ra Thiệt hại thực tế là căn cứ xác định mức
bồi thường Thiệt hại được Nhà nước bồi thường trong quản lý hành chính bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; thiệt hại do tổn thất về tinh thần; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết; thiệt hại về vật chất do bị tổn thất về sức khỏe
Trang 4Trong vụ việc này, UBND phường 1 bồi thường phải bồi thường cho bà Man gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (xi măng, cát, gạch, … bà đã mua để sửa chữa nhà nhưng do công trình bị đình chỉ làm tài sản bị thiệt hại) Trong trường hợp này không phát sinh thiệt hại về tinh thần Ngoài ra, còn tiền bà Man phải thuê nhà ở trong thời gian có quyết định đình chỉ thi công (31/10/2010) đến bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật (5/2011)
Thứ năm, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế
xảy ra là điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Việc chủ tịch UBND phường 1 ra quyết định đình chỉ thi công, sửa chữa của bà Man là trái pháp luật đã gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần cho bà Man
Kết luận: Như vây, trong vụ việc trên bà Trần Thị Man được quyền yêu cầu UBND phường 1 bồi thường thiệt hại cho mình theo các căn cứ quy định trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
2 Xác định cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường
Trong tình huống trên thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường chính là UBND phường 1 (Quận Gò Vấp) – cơ quan trực tiếp quản lí người thi hành công
vụ gây ra thiệt hại (Khoản 1 Điều 14 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước)
Và theo Nghị định 16/2010/NĐ-CP quy định: “Tại các cơ quan địa phương, trong trường hợp… người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc là cán bộ, công chức cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường”.
Chủ tịch UBND phường 1 Quận Gò Vấp là người có hành vi gây thiệt hại cho bà Trần Thị Man Tuy nhiên, pháp luật quy định người đó không có trách nhiệm trực tiếp bồi thường mà UBND phường 1 có trách nhiệm bồi thường cho bà Man mà chỉ là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Sau đó người thi hành công vụ có nghĩa vụ hoàn trả ngân sách nhà nước khoản tiền mà nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại là quan hệ pháp luật nằm ngoài mối quan
hệ trách nhiệm bồi thường của nhà nước Quan hệ pháp luật này chủ yếu được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính
Như vậy, UBND phường 1 Quận Gò Vấp có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị Man
3 Xác định thiệt hại được bồi thường
Bà Trần Thị Man đã yêu cầu TAND quận Gò Vấp giải quyết việc bồi thường thiệt hại do quyết định trái pháp luật của Chủ tịch UBND phường 1 gây ra
Bà gửi đơn yêu cầu bồi thường bao gồm: hư hỏng vật liệu xây dựng đã mua như xi măng, cát, gạch, tiền thi công ứng trước, phạt vi phạm hợp đồng xây dựng, tổn thất tinh thần cùng tiền thuê nhà mà bà phải bỏ ra từ thời điểm quyết định đình chỉ thi
Trang 5công ban hành đến khi bản án phúc thẩm có hiệu lực Thiệt hại của bà Trần Thị Man được xác định cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì thiệt
hại do tài sản bị xâm phạm được xác định Trong trường hợp này, tài sản của bà Man bị hư hỏng Tài sản bao gồm: xi măng, cát, gạch bị hư hỏng một phần do không được sử dụng Bà Man phát xuất minh hóa đơn, chứng từ chứng minh về việc thay thế phần tài sản bị hư hỏng Giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường cho bà Man là căn cứ để xác định chi phí khôi phục lại phần nguyên vật liệu bị hư hỏng Phần nguyên liệu bà Man không có hóa đơn, chứng từ chứng minh thì sẽ không được xem xét giải quyết bồi thường
Thứ hai, tiền thuê nhà trong sau tháng bà Man không có nhà để ở phải đi
thuê do quyết đinh trái pháp luật gây ra Bà Man phải xuất trình hợp đồng thuê nhà ghi rõ giá thuê nhà cho Tòa (Giá thuê nhà là 2,5 triệu đồng /tháng) Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định về việc bồi thường tiền thuê nhà nhưng tòa sẽ xem xét giải quyết bồi thường cho bà Man
Thứ ba, tiền thi công sửa chữa nhà bà đã ứng trước và tiền phạt vi phạm hợp
đồng xây dựng do công trình bị đình chỉ
Thứ tư, thiệt hại do tổn thất về tinh thần Tu nhiên, yêu cầu này của bà Man
không được Tòa án chấp nhận do không có cơ sở
Như vậy, trên thực tế bà Trần Thị Man được bồi thường gần 80 triều đồng bao gồm tiền thuê nhà; tiền thiệt hại do hư hỏng xi măng, cát, gạch,…; tiền vi phạm hợp đồng xây dựng, tiền thi công ứng trước
4 Nhận xét cách giải quyết của Tòa án
Vụ việc bà Trần Thị Man khởi kiện yêu cầu UBND phường 1 quân Gò Vấp bồi thường thiệt hại do quyết định trái pháp luật gây ra đã được TAND quận Gò Vấp thụ lý giải quyết Cách giải quyết bồi thường của TAND quận Gò Vấp là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Nhóm em đồng ý với cách giải quyết của Tòa
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong vụ việc này đó là UBND phường 1 quận Gò Vấp TAND quận Gò Vấp quyết định UBND phường 1 phải bồi thường cho bà Man số tiền gần 80 triều đồng
Thứ nhất, bồi thường về tài sản bị hư hỏng (gồm gạch, xi măng, cát,…) là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 45 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Thứ hai, bồi thường về tiền thuê nhà của bà Man từ khi có quyết định đình chỉ thi công đến khi bản án phúc thẩm của Tòa hành chính TAND Tp Hồ Chí Minh có hiệu lực Luật trách nhiệm bồi thường không quy định trường hợp bồi thường tiền thuê nhà Tuy nhiên, việc ra quyết định đình chỉ thi công dẫn đến việc
bà Man phải theo đuổi vụ kiện kéo dài, không có nhà ở, phải đi thuê nhà Do đó, việc bà Man đề nghị được bồi thường toàn bộ số tiền thuê nhà từ thời điểm quyết
Trang 6định hành chính trên ban hành đến thời điểm bản án phúc thẩm của Tòa Hành chính TAND TP.HCM tuyên hủy quyết định hành chính của phường là có cơ sở
Thứ ba, bồi thường tiền thi công sửa chữa nhà bà đã ứng trước và tiền phạt
vi phạm hợp đồng xây dựng do công trình bị đình chỉ Công trình bị gián đoạn thi công đã dẫn đến việc những hợp đồng xây dựng nhà bà Man đã bị ảnh hưởng, gây
ra những thiệt hại do vi phạm hợp đồng và các thiệt hại khác Do vậy, UBND phải bồi thường là hợp lý
Thứ tư, bồi thường do tổn hại về tinh thần Tòa án giải quyết UBND không phải bồi thường do tổn thất về tinh thần là hợp lý Theo quy định của pháp luật thì thiệt hại do tinh thần bị tổn hại không phát sinh trong trường hợp tài sản bị xâm phạm
II Vụ việc thực tế làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động thi hành án dân sự
Tóm tắt vụ việc:
Năm 2005, công ty TNHH Việt Hưng (sau đổi thành công ty cổ phần đầu tư thương mại Việt Hưng) do ông Nguyễn Minh Sơn là Giám đốc (đại diện theo pháp luật của công ty tại thời điểm đó) có ký Hợp đồng tín dụng số 05.05.0019/HĐTD ngày 20/4/2005 với Ngân hàng công thương Việt Nam - chi nhánh Phú Thọ, vay
khoản tiền 5,5 tỷ đồng Tài sản thế chấp "Nhà Trung tâm thương mại và dịch vụ -Nhà hàng Phù Đổng ghi rõ: -Nhà cấp 3, 6 tầng nổi và 1 tầng tum, xây dựng trên diện tích đất 300m 2” Nhằm khắc phục hạn chế của hợp đồng trên, ngày 21/11/2008 Ngân hàng buộc công ty Việt Hưng ký tiếp một Hợp đồng thế chấp tài sản số
08.15.1711/HĐTC quy định Tài sản thế chấp là “Nhà Trung tâm thương mại và dịch vụ - Nhà hàng Phù Đổng: Nhà cấp 3, 6 tầng nổi và 1 tầng tum, xây dựng kết
cấu bê tông cốt thép Tổng diện tích xây dựng là 2.330,58m2 Nhà được xây dựng trên diện tích đất 300m 2 Địa chỉ tài sản: 2256 đại lộ Hùng Vương, phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”
Công ty Việt Hưng chưa thể thanh toán được khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, vì thế Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đã khởi kiện công
ty ra TAND thành phố Việt Trì
Ngày 23/7/2013 Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2012/QĐST-KDTM Trong quyết định này Tòa án vẫn đưa ông Nguyễn Minh Sơn tham gia và lấy ý kiến của ông Sơn với tư cách là người đại diện theo pháp luật của công ty, chứ không hề triệu tập ông Nguyễn Ngọc Hoàn tham gia buổi hòa giải, không lấy ý kiến của ông Hoàn cũng như không đưa tên ông Hoàn vào trong Quyết định số 16/2012, mặc dù thời điểm này thì ông Nguyễn
Ngọc Hoàn mới là người đại diện theo pháp luật của công ty Việt Hưng (theo giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần 4 ngày 25/5/2012 do Sở kế hoạch
và đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp)
Trang 7Ngày 09/7/2013 Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì đã tiến hành kê biên tài sản của công ty Việt Hưng Biên bản vẫn ghi nhận đại diện tham gia là ông Nguyễn Văn Sơn Biên bản kê biên tài sản lại khác với tài sản thế chấp, có sự chênh lệch lớn giữa phần tài sản quy định trong hợp đồng 08.15.1711.HĐTC với phần tài sản được kê biên ngày 09/7/2013
Ngày 8/12/2013, đại diện hợp pháp của công ty Việt Hưng là ông Nguyễn Ngọc Hoàn đã có Đơn đề nghị ngừng thi hành án trong đó nêu rõ những sai phạm trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan chức năng
Ngày 20/12/2013, TAND tỉnh Phú Thọ có Công văn số
602/2013/CVTDTHA/TA gửi Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì nêu rõ “để
có thời gian nghiên cứu vụ án trên theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật” “TAND tỉnh Phú Thọ yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì tạm dừng Thi hành án quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND thành phố Việt Trì để chờ kết quả xét xử vụ án trên theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm” Thế
nhưng Chi cục THA TP Việt Trì vẫn thi hành án một Quyết định trái pháp luật
Ngày 09/01/2014, Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ đã ra Kháng nghị Giám đốc thẩm số 01/QDKN-GDT-KDTM đối với Quyết định số 16/2012, trong đó nêu
rõ: “Tạm đình chỉ thi hành án Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND thành phố Việt Trì để chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm”, thế nhưng chấp hành viên vẫn kiên quyết chỉ đạo
cưỡng chế thi hành án vào ngày 14/01/2014
1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Xét thấy vụ việc trên người thi hành công vụ là TAND thành phố Việt Trì đã
ra Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 Theo đó, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước trong vụ việc này sẽ dựa theo quy định tại tại khoản 1 Điều 6 Luật TNBTCNN khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 đối với trường hợp người thi hành công vụ ra quyết định hoặc tổ chức thi hành quyết định về thi hành án dân sự quy định tại Điều 38 Luật TNBTCNN thì trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau:
Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật: xét thấy quyết định số
16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND TP Việt Trì đã mời ông Sơn với tư cách là người đại diện theo pháp luật của công ty chứ không phải ông Hoàn người đại diện hợp pháp của công ty lúc bấy giờ Ngày 8/12/2013, đại diện hợp pháp của công ty Việt Hưng là ông Hoàn đã có Đơn đề nghị ngừng thi hành án trong đó nêu rõ những sai phạm trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan chức năng Ngày 20/12/2013 TAND tỉnh Phú Thọ có Công văn số 602/2013/CVTDTHA/TA gửi Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì Ngày 09/01/2014, tạm dừng Thi hành án
Trang 8quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND thành phố Việt Trì để chờ kết quả xét xử vụ án trên theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ đã ra Kháng nghị Giám đốc thẩm số 01/QDKN-GDT-KDTM đối với Quyết định số 16/2012,
trong đó nêu rõ: “Tạm đình chỉ thi hành án Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND thành phố Việt Trì để chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm”, Như vậy ở đây Kháng nghị Giám
đốc thẩm số 01/QDKN-GDT-KDTM của Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ chính là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi người thi hành công vụ là trái pháp luật (Điều 4 Thông tư 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011)
Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 38 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trong tình huống trên căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự,
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 38 Luật TNBTNN “cưỡng chế thi hành án” và hướng dẫn tại điểm a khoản 4 Điều 6 thông tư liên tịch 24/2011“chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành án trái pháp luật.”
Sau khi phát hiện sai phạm trong cách làm việc cẩu thả của TAND TP Việt Trì dẫn đến dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong Quyết định số 16/2012, bất chấp công văn của TAND tỉnh Phú Thọ, Chi cục THA TP Việt Trì đã không những không tạm dừng việc thi hành án mà còn kiên quyết đẩy nhanh hơn nữa tiến
độ thi hành án một Quyết định trái pháp luật Kể cả khi Chánh án TAND tỉnh Phú Thọ đã ra Kháng nghị Giám đốc thẩm số 01/QDKN-GDT-KDTM đối với Quyết định số 16/2012 thế nhưng chấp hành viên vẫn kiên quyết chỉ đạo cưỡng chế thi hành án vào ngày 14/01/2014 Như vậy Chi cục thi hành án dân sự TP Việt Trì đã
có hành vi trái pháp luật trong vụ việc trên Mặc dù đã nhận được quyết định đình chỉ thi hành án nhưng Chi cục thi hành án vẫn cố ý ra quyết định và tiến hành cưỡng chế thi hành án trái pháp luật
Có thiệt hại thực tế xảy ra: Chi cục THA TP Việt Trì đã "tảng lờ" bỏ qua
những dấu hiệu vi phạm pháp luật rất rõ ràng của Quyết định số 16/2012, bỏ qua các quy định pháp luật về việc tạm dừng thi hành án, không những không ra thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án đối với Quyết định số 16/2012, ngày 14/01/2014 Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì đã rầm rộ ra quân, tiến hành cưỡng chế thi hành án tại công ty Việt Hưng, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng cho công
ty Việt Hưng, đẩy hàng loạt người dân, trong đó có cả người già và trẻ em - ra ngoài đường, không nơi sinh sống, không công ăn việc làm giữa lúc chỉ còn đúng
16 ngày nữa thì Tết Nguyên đán
Trang 9Có lỗi của người thi hành công vụ: Lẽ ra khi có sự chênh lệch số liệu
nghiêm trọng về tài sản thế chấp và tải sản kê biên, đặc biệt là khi có cả ý kiến yêu cầu dừng kê biên của Kiểm sát viên thì Chấp hành viên phải tạm dừng việc kê biên
tài sản để xác minh và chờ ý kiến chỉ đạo của các cơ quan liên quan Thế nhưng chi
cục Thi hành án Thành phố Việt Trì vẫn cố tình cưỡng chế thì hành án tại công ty Việt Hưng Ở đây, yếu tố lỗi của người thi hành công vụ thể hiện rất rõ, và là lỗi cố ý
Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ: Ở tình huống, do hành vi cưỡng chế thi hành án
của chi cục thi hành án trái pháp luật nên đã gây thiệt hại cho cả tổ chức và nhiều
cá nhân liên quan Như vậy giữa hành vi trái pháp luật của cơ quan thi hành án đối với thiệt hại thực tế xảy ra có mối quan hệ nhân quả
2 Xác định cơ quan thực hiện trách nhiệm bồi thường
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 40 Luật Bồi thường Nhà nước thì: “Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.”
Khoản 8 Điều 21 Luật thi hành án dân sự có quy định về việc chấp hành
viên không được làm như sau: “Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật”
Cụ thể trong vụ việc của công ty cổ phẩn Việt Hưng khi tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự thì ông Nguyễn Ngọc Hoàn với tư cách là người đại diện
theo pháp luật của công ty Việt Hưng (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay đổi lần 4 ngày 25/5/2012 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp) lại không được tòa án triệu tập tham gia buổi hòa giải, không được trình bày ý
kiến cũng như không có tên trong Quyết định số 16/2012
Trong khi đó ông Nguyễn Minh Sơn chỉ là một cổ đông của công ty thì lại được Tòa án mời đến, được quyền nêu ý kiến và tự quyết định vấn đề của công ty mặc dù không hề được ủy quyền hợp pháp của ông Hoàn Thậm chí, Quyết định số 16/2012 còn ghi nhận tư cách tham gia tố tụng của ông Nguyễn Minh Sơn là chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc - người đại diện theo pháp luật của công ty Việt Hưng
Theo đơn kêu cứu, sự cẩu thả, tắc trách trong cách làm việc của TAND TP Việt Trì đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của bị đơn, bởi theo khoản 3 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự thì một trong
những thành phần tham gia hòa giải phải là “các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự” Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật,
“người đại diện hợp pháp của đương sự” là người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp của người đại diện theo pháp luật của công ty
Trang 10Ngay sau khi phát hiện sai phạm trong cách làm việc cẩu thả của TAND TP Việt Trì dẫn đến dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong Quyết định số 16/2012, ngày 20/12/2013, TAND tỉnh Phú Thọ có Công văn số 602/2013/CVTDTHA/TA gửi Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì Thế nhưng, bất chấp công văn của TAND tỉnh Phú Thọ, Chi cục THA TP Việt Trì đã không những không tạm dừng việc thi hành án mà còn kiên quyết đẩy nhanh hơn nữa tiến
độ thi hành án một Quyết định trái pháp luật "Chi cục THA TP Việt Trì đã "tảng lờ" bỏ qua những dấu hiệu vi phạm pháp luật rất rõ ràng của Quyết định số 16/2012
Như vậy Cơ quan có trách nhiệm bồi thường cho công ty Việt Hưng là Chi cục thi hành án Thành phố Phú Thọ
3 Xác định thiệt hại được bồi thường.
Ngày 5/4/2013, Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì đã ban hành Quyết định thi hành án số 75/Q Đ-CCTH và ngày 09/7/2013 đã tiến hành kê biên tài sản của công ty Việt Hưng Tại Biên bản kê biên tài sản vẫn ghi nhận đại diện tham gia
là ông Nguyễn Văn Sơn - Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty "Tài sản kê biên gồm: Kết cấu toàn nhà xây khung bê tông cốt thép chịu lực, móng cọc, nhà có 7 tầng (01 tầng âm và 6 tầng nổi, 1 mái tum) Diện tích xây dựng một sàn
là 319.09m 2 ” Rõ ràng đã có sự chênh lệch nhau rất lớn giữa phần Tài sản quy định
trong Hợp đồng thế chấp tài sản số 08.15.1711/HĐTC với phần Tài sản được kê biên ngày 09/7/2013, cụ thể: về số tầng, Hợp đồng thế chấp ghi nhận là có 06 tầng
01 tum nhưng chấp hành viên Đặng Xuân Quang đã chỉ đạo tiến hành kê biên toàn
bộ 07 tầng 01 tum Như vậy, thiệt hại mà công ty Việt Hưng được bồi thường là số tài sản chênh lệch giữa phần tài sản quy định trong hợp đồng thế chấp tài sản số 08.15.1711/HĐTC với tài sản kê biên
Tiếp theo, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh Phú Thọ cấp ngày 22/5/2003 cũng như theo Hợp đồng thế chấp nêu trên thì diện tích sử dụng là 300m2, thế nhưng tại Biên bản kê biên tài sản thì diện tích xây dựng 01 sàn lại lên đến 319.02m2
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 46 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước
thì công ty Việt hưng còn được bồi thường thu nhập thực tế mà công ty bị tổn thất
4 Đề xuất hướng giải quyết vụ việc
Trong khi quyết đinh số 16/2012/QĐST-KDTM ngày 23/7/2012 của TAND thành phố Việt Trì có sự vi phạm pháp luật, ngày 09/7/2013 Chi cục Thi hành án dân sự TP Việt Trì đã tiến hành kê biên tài sản của công ty Việt Hưng Biên bản vẫn ghi nhận đại diện tham gia là ông Nguyễn Văn Sơn Biên bản kê biên tài sản lại khác với tài sản thế chấp, có sự chênh lệch lớn giữa phần tài sản quy định trong hợp đồng 08.15.1711.HĐTC với phần tài sản được kê biên ngày 09/7/2013 Ngày 20/12/2013, TAND tỉnh Phú Thọ có Công văn số 602/2013/CVTDTHA/TA yêu