Common law bắt đầu chiếm vị trí quan trọng và thu hút nhiều công việc pháp lí, mặc dù trong một thời gian dài đã phải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lí: luật tập quán đi
Trang 1Báo cáo môn học:
HỆ THỐNG TÒA ÁN VƯƠNG QUỐC ANH
THỰC HIỆN : Nhóm 8
Tháng 2 năm 2014
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 8
1 33121024775 Trần Thúy Phương
- Phân chia công việc trong nhóm
- Tìm hiểu, sưu tầm, soạn nội dung phần
“Court of Appeal (Tòa D)”
- Đặt câu hỏi thảo luận
2 33121025185 Trần Ngọc Phúc
- Tìm hiểu, sưu tầm, soạn nội dung phần
“County Courts (Tòa A1)”
- Đặt câu hỏi thảo luận
- Tổng hợp và hoàn thành bài viết
- Rà soát nội dung bài viết và slides thuyết trình
- Tìm hiểu, sưu tầm, soạn nội dung phần
“Magistrates’ Courts (Tòa A2)”
- Soạn nội dung phần “Các đặc trưng
cơ bản của hệ thống tòa án Anh”
- Đặt câu hỏi thảo luận
5 33121025367 Trương Thị Lê Phi
- Tìm hiểu, sưu tầm, soạn nội dung phần
“Crown Court (Tòa B)”
- Soạn nội dung phần “So sánh Hệ thống Tòa án Vương quốc Anh và Việt Nam”
- Đặt câu hỏi thảo luận
- Tổng hợp và hoàn thành bài viết
- Rà soát nội dung bài viết và slides thuyết trình
- Tổng hợp và hoàn thành bài viết
- Rà soát nội dung bài viết và slides thuyết trình
8 33111023450 Nguyễn Thanh Hiền - Tìm hiểu, sưu tầm, soạn nội dung phần
“High court of Justice (Tòa C)”
MỤC LỤC
Trang 3A PHẦN GIỚI THIỆU
B HỆ THỐNG TÒA ÁN CỦA VƯƠNG QUỐC ANH
1 County Courts (Tòa A1)
2 Magistrates’ Courts (Tòa A2)
3 Crown Court (Tòa B)
4 High court of Justice (Tòa C)
5 Court of Appeal (Tòa D)
6 Supreme Court (tên cũ: House of Lords)
C KẾT LUẬN
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4A PHẦN GIỚI THIỆU
Pháp luật Vương quốc Anh là hệ thống pháp luật được áp dụng cho toàn xứ Anh
và xứ Wales được xây dựng cơ sở của Thông luật Hệ thống pháp luật Anh được sử dụng trong hầu hết các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung và Hoa Kỳ, ngoại trừ tiểu bang Louisiana (sử dụng hệ thống Dân luật) Nó được truyền bá sang các nước Khối thịnh vượng chung trong khi Đế quốc Anh bành trướng vào thế kỷ 19 và nó hình thành nên cơ
sở của khoa học pháp lý của hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng Pháp luật Anh cũng tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ ở nước Mỹ trước khi cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, nó là một phần của luật pháp của Hoa Kỳ thông qua quy chế tiếp nhận, ngoại trừ ở Louisiana,
từ đó Pháp luật Vương quốc Anh cung cấp cơ sở nền tảng cho truyền thống pháp lý và
chính sách ở Mỹ mặc dù nó không có thẩm quyền thay thế pháp luật
I Lịch sử phát triển
1.1 Giai đoạn trước năm 1066
Từ thế kỉ I đến thế kỉ V, đế chế La Mã thống trị nước Anh song không để lại dấu tích gì đáng kể, kể cả về mặt pháp luật Sau thời kì này, nước Anh thoát khỏi sự đô hộ của
đế chế La Mã, lãnh thổ Anh chia thành nhiều miền phong kiến khác nhau, đứng đầu là các lãnh chúa phong kiến và bị chia làm nhiều vương quốc nhỏ với các hệ thống pháp luật mang tính địa phương, chủ yếu là ảnh hưởng từ các qui tắc tập quán và thực tiễn của các bộ lạc người Giecmanh
Về pháp luật, Luật La Mã hầu như không áp dụng ở Anh, nguồn luật áp dụng là các tập quán địa phương, chưa có hệ thống pháp luật thống nhất, tồn tại nhiều vùng, miền khác nhau với nhiều tập quán khác nhau, những tập quán này được người Anh gọi là Luật
ví dụ như: Luật Dane được áp dụng ở miền Bắc, Luật Mercia ở miền Trung và Luật Wessex ở miền Tây và miền Nam Đặc điểm của tập quán: áp dụng theo nguyên tắc vùng, các tập quán rất đa dạng giữa các vùng, tập quán của vùng nào chỉ áp dụng cho vùng đó Khi các bên có tranh chấp thường áp dụng tập quán địa phương để phân xử Những người già sẽ đứng ra giải thích chính xác các tập quán địa phương áp dụng cho các tranh chấp đó
Về tư pháp thì có các tòa án của các lãnh chúa phong kiến với phương thức xét xử
sử dụng các yếu tố siêu nhiên, thần thánh Sự hiện diện của nhiều hệ thống tòa án khác nhau (gọi là các Tòa án truyền thống) Ở mỗi địa phương, đều có những Tòa địa hạt (County Court) được chủ trì bởi các giám mục và các hạt trưởng, thực hiện việc xét xử dựa trên những tập quán địa phương Ngoài ra, còn có Tòa án Giáo hội sử dụng luật của Giáo hội (Canon Law), tòa án ở các thành phố áp dụng Luật thương gia và Tòa Lãnh chúa
áp dụng các quy tắc tập quán phong kiến Tòa án lúc đó là những người dân được triệu tập để cùng giải quyết tranh chấp và nếu không xử được người ta dùng phương pháp thử tội (ordeal) bằng việc bắt bị cáo cầm vào một miếng sắt nung đỏ, hoặc cầm một viên đá
Trang 5đã được ngâm trong nước sôi, hoặc hình thức thề độc Nếu vết thương đó lành sau một thời gian xác định, anh ta sẽ bị tuyên là vô tội và ngược lại
1.2 Giai đoạn năm 1066 đến năm 1485
Đây là giai đoạn hình thành Thông Luật, bắt đầu vào năm năm 1066 người Norman đánh bại người Anglo – Sacxon trong trận Hastings, thống trị nước Anh William
I vốn là một người Pháp lên ngôi vua, ông vẫn duy trì tập quán pháp của Anh Nhưng trên thức tế lại cố làm cho mọi người quên đi ảnh hưởng của quá khứ và xây dựng một chế độ phong kiến tập quyền nhằm nắm độc quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội kể cả lĩnh vực tư pháp Thuật ngữ luật chung (Common Law) xuất phát từ quan điểm cho rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung (Common Custom) của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở các miền hay ở các tòa
án của điền trang, thái ấp phong kiến
Đến thời vua Henry II (1133 - 1189) là giai đoạn phát triển của một hệ thống Common law có tính chất quốc gia (a national Common law) Ông gửi các thẩm phán hoàng gia tới nắm tòa án ở các nơi Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa
án ở địa phương như tòa án của tỉnh (county), tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phong kiến… ông đưa các thẩm phán từ tòa án Hoàng gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân đôn và thảo luận về những vụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác
Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ (precedent), hay theo Tiếng Latin là stare decisis Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó Đến cuối thế kỉ XIII, các Tòa án Hoàng gia thắng thế trong việc xét xử vì chất lượng xét xử tốt và trình độ chuyên môn cao Dần dần, các tòa án địa phương lấy án lệ của Tòa án Hoàng gia làm khuôn mẫu
Common law bắt đầu chiếm vị trí quan trọng và thu hút nhiều công việc pháp lí, mặc dù trong một thời gian dài đã phải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lí: luật tập quán địa phương, luật thương gia hay các qui tắc tập quán phong kiến… đã tạo ra một hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, Thuật ngữ “Common Law” bắt đầu xuất hiện từ năm 1154 dưới thời vua Henry II
Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua
Henry II thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử các tranh chấp về thuế, Tòa án thỉnh cầu Phổ thông (Court of Common Pleas) đối với những vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua và Tòa án Hoàng Đế (Court of the King’s
Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của Hoàng gia Đầu tiên, Tòa án Hoàng Đế có thẩm quyền kiểm tra sự lạm quyền của chính nhà vua, từ đó hình thành ra nguyên tắc căn bản của luật chung là sự tối thượng của pháp luật (Supremacy of the law) Ngày nay nguyên tắc này không phải chỉ áp dụng cho vua, mà mọi hành vi của chính quyền đều có thể bị đưa ra xét xử trước tòa án
Thời kì này sự ra đời và phát triển của hệ thống trát (writ) hay là lệnh gọi ra tòa) Một người muốn kiện lên tòa án Hoàng gia phải đến Ban thư kí của nhà vua (chancery),
Trang 6đóng phí và được cấp trát Trát nêu rõ cơ sở pháp lí mà bên nguyên đưa ra cho vụ việc của mình Hệ thống trát có vai trò quan trọng như câu khẩu hiện: “no writ no remedy” (tạm dịch là không có trát thì không có chế tài) Hệ thống trát mang đặc trưng của pháp luật Thông luật, chứng tỏ vai trò quan trọng của các thủ tục tố tụng Đó là điều mà giới Luật gia Anh cho rằng luật La Mã chỉ giúp cho việc tìm kiếm giải pháp đúng đắn cho tranh chấp nhưng chưa cho phép thắng kiện
Thông luật hình thành tách biệt với quyền lực lập pháp Thông luật hình thành bằng con đường nội tại Sự hình thành thông luật có tính liên tục và kế thừa lịch sử pháp luật các giai đoạn trước Nguyên tắc Stare Decisis (tiền lệ phải được tuân thủ) được hình thành và trở thành nguyên tắc rất quan trọng trong hệ thống thông luật Thông luật vừa có tính cứng nhắc vừa có tính linh hoạt
1.3 Giai đoạn năm 1485 đến năm 1832
Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi Thông luật không
đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách giải quyết của Thông luật là chưa thỏa đáng Chính điều này là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ thống pháp luật công bình (system of equity), đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa công bình, do viên Tổng chưởng lý hay Đại Chưởng ấn (Lord Chancellor) đứng đầu
Trong trường hợp Thông luật không đáp ứng được cho bên bị thiệt hại tức là không đảm bảo được tính công bằng thì một công chức của tòa án (chancellor) sẽ trình vụ việc lên nhà vua Thông qua các đơn từ gửi tới nhà vua và phán quyết của các chancellors, dẫn đến việc hình thành một hệ thống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng (Equity law hay Chancery justice)
Về bản chất thì luật công bình vẫn chiếm ưu thế hơn so với luật Common Law trong trường hợp có sự xung đột Điều này đã được nêu trong Đạo luật hệ thống Tư pháp (Judicature Acts) năm 1873 và 1875
1.4 Giai đoạn năm 1832 đến nay
Đặc điểm cơ bản của hệ thống Thông luật là dựa trên những phán quyết theo tập quán của tòa án, và bản thân thuật ngữ luật chung cũng thường được dùng khi muốn nói đến việc pháp luật Anh quốc không căn cứ vào văn bản luật Cơ sở của luật chung là các phán quyết của tòa án, thường được gọi là tiền lệ, đây là đặc điểm cơ bản chủ yếu để phân biệt hệ thống luật này với hệ thống Dân luật của La Mã – Đức
Mặt hạn chế của hệ thống luật chung trước đây là tinh cứng rắn, kém linh hoạt Về nội dung cũng như về thủ tục, các tòa án chỉ theo đúng những gì mà tiền lệ đã làm, nên không thích nghi được với những tình huống phức tạp mới mẻ Vì vậy, tại Anh quốc, bên cạnh các luật chung còn có lẽ công bằng tự nhiên (equity) được áp dụng khi luật chung không có Tình hình này tồn tại cho đến tận thế kỷ 19 khi Đạo luật Tư pháp (Judicature Act) năm 1873 cũng qui định sự kết hợp giữa luật chung với các qui định của lẽ công bằng
Đây cũng là giai đoạn cải cách và phát triển pháp luật Anh với sự xuất hiện của nhiều luật, tòa án hành chính, văn bản hành chính Đặc biệt là việc gia nhập EEC năm
Trang 71972 có tác động đến sự phát triển của hệ thống pháp luật Anh Ngày nay, các luật gia Anh ngày càng quan tâm và có nhiều học hỏi từ hệ thống Civil law Sự phát triển của hệ thống luật chung ra khắp thế giới cũng khác với cách thức phát triển của hệ thống dân luật các nước theo hệ thống luật chung đều có mối quan hệ chính trị trực tiếp với nước Anh như Úc, Canada, Ấn Độ, Ireland, Tân Tây Lan, và Hoa Kỳ
II Hệ thống tòa án của Vương quốc Anh
Theo nội dung vấn đề mà toà án phải giải quyết, hệ thống toà án Vương quốc Anh được chia thành các Tòa án sau đây
Sơ đồ Hệ thống Tòa án Vương quốc Anh
Supreme Court
House of Lord (tên cũ) = Thượng Nghị Viện
Court of Appeal
Tòa D = Tòa phúc thẩm
Civil Division
Tòa dân sự chuyên trách
High court of Justice
Tòa C = Tòa cấp cao = Tòa dân sự sơ thẩm = Tòa tối thượng
Criminal Division
Tòa h/sự chuyên trách
Chancery Division
Tòa đại pháp chuyên trách
= Tòa của VP Hoàng gia
Viện
Family Division
Tòa gia đình
Queen’s Bench Division
Tòa nữ hoàng
Crown Court
Tòa B = Tòa vương miện
= Tòa hình sự TW
County Courts
Tòa A1 = Tòa địa hạt
Magistrater’s Courts
Tòa A 2 = Tòa pháp quan
Trang 81 Tòa địa hạt – County Courts (Tòa A1): Tòa địa hạt là tòa cấp thấp nhất trong hệ
thống tòa dân sự của Anh
1.1 Thẩm quyền xét xử:
- Có thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự đơn giản có liên quan đến hôn nhân gia đình và các tội phạm hình sự ít nghiêm trọng và do các thẩm phán quận/huyện xét xử hay thẩm phán quản lý hạt đảm nhận
- Các vụ việc thông thường thì do một thẩm phán xét xử dựa vào các tình tiết
vụ việc và pháp luật mà không có sự trợ giúp của bồi thẩm
- Tòa địa hạt có thẩm quyền xét xử trên một khu vực hành chính nhất định và hầu hết các vụ tranh chấp đều liên quan đến kiện đòi nhà và đất trong khu vực Phần ít hơn là các vụ kiện đòi bồi thường thương tật hoặc kiện vi phạm hợp đồng
- Các vụ tranh chấp dân sự do các tòa địa hạt xét xử có giá trị tranh chấp tới 50.000 bảng Anh
1.2 Thủ tục xét xử:
- Nguyên đơn trực tiếp đệ đơn lên tòa hoặc gửi đơn qua bưu điện hoặc qua internet hoặc trong một số trường hợp gửi qua trung tâm chính của tòa địa hạt
- Thủ tục xét xử đơn giản, không có bồi thẩm đoàn
1.3 Thẩm phán:
- Xét xử các vụ việc là các thẩm phán không chuyên, được hỗ trợ bởi các thư
ký đào tạo bài bản, có kiến thức pháp luật Thẩm phán của tòa này là do nữ hoàng bổ nhiệm từ luật sư bào chữa hơn 10 năm kinh hay luật sư tư vấn
- Thẩm phán có nhiệm kỳ suốt đời và chỉ bị đại pháp quan miễn nhiệm trong trường hợp mất năng lực hay có dấu hiệu sai trái
- Phán quyết của tòa có thể bị kháng cáo, kháng nghị đến tòa cấp cao hay tòa phúc thẩm
- Các phán quyết của tòa địa hạt không bao giờ trở thành án lệ
2 Tòa pháp quan – Magistrates’ Courts (Tòa A2):
2.1 Thẩm quyền:
Tòa này có thẩm quyền đối với các vụ việc dân sự và hình sự, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các vụ việc hình sự
Trong lĩnh vực hình sự, tòa này có thẩm quyền đối với các tội ít nghiêm trọng, tội phạm vị thành niên, các vụ vi phạm luật giao thông (các vụ vi phạm nhỏ mà bị cáo đồng ý nhận tội và nộp phạt qua đường bưu điện để tránh phiền hà) Ngoài ra tòa này có thẩm quyền xét xử đối với các tội tương đối nghiêm trọng do bị cáo có thể lựa chọn tòa này hay tòa hình sự trung ương Đối với những tội nặng hơn họ có quyền – theo thủ tục sơ bộ -quyết định về việc có đủ chứng cứ về lỗi hay không để đưa bị cáo ra tòa hình sự trung ương Do thẩm quyền hạn chế của tòa này (như không thể đưa ra mức hình phạt quá 6 tháng tước quyền tự do…,trong khi đó ra tòa hình sự trung ương có thể phạt nặng hơn đối với cùng 1 hành vi như vậy) nên trong những trường hợp đó bị cáo sẽ đề nghị được xử tại tòa pháp quan nếu có cơ hội
Trang 9Tòa này cũng có thẩm quyền xét xử đối với các vụ việc dân sự nhỏ liên quan đến nghĩa vụ tài chính với nhà nước như bảo hiểm quốc gia, lệ phí sử dụng dịch vụ công cộng hay vụ việc dân sự liên quan đến hôn nhân gia đình (như nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi con)
và những vụ việc đòi nợ do luật quy định Ngoài ra tòa pháp quan đóng vai trò quan trọng trong việc xét xử các vụ án vị thành niên
2.2 Thủ tục xét xử:
Trong phạm vi London, hội đồng xét xử của tòa này được thực hiện bởi 1 thẩm phán chính thức hưởng lương cùng với sự tư vấn của 1 thư ký trợ hoặc 1 phó thư ký
Ngoài phạm vi London, hội đồng xét xử của tòa bao gồm tối thiểu là 2 người và tối
đa 7 phán quan không chuyên xét xử với sự tư vấn về thủ tục tố tụng và cả về luật nội dung từ 1 thư ký tòa án được đào tạo bài bản Tuy nhiên khi các phán quan yêu cầu, thư
ký tòa cũng có thể tham gia nghị án
Tại phiên tòa, thẩm phán, thư ký, luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn đều mặc thường phục và không đeo tóc giả (luật sư tư vấn chỉ tham dự phiên tòa với tư cách thính giả)
Phán quyết của tòa này có thể được kháng cáo kháng nghị ở tòa hình sự trung ương (chỉ áp dụng đối với bên bị) hay tòa nữ hoàng chuyên trách của tòa án cấp cao (áp dụng đối với bên nguyên và bên bị)
2.3 Thẩm phán:
Có 2 loại thẩm phán
Thẩm phán hòa bình (thẩm phán hòa giải) : được coi là những thẩm phán không chuyên nghiệp, tuy nhiên trước khi được bổ nhiệm các thẩm phán hòa bình cũng được yêu cầu tham gia các khóa đào tạo về pháp luật, đây là một nét đặc trưng truyền thống cổ điển trong hệ thống pháp luật anh Các thẩm phán hòa bình thường làm việc tại các tòa nằm ngoài phạm vi London Chủ tịch thượng viện sẽ bổ nhiệm thẩm phán hòa bình từ những người có uy tín địa vị trong xã hội, họ có nhiệm kỳ suốt đời, làm việc nửa ngày và không được hưởng lương
Thẩm phán hưởng lương: làm việc cho các tòa pháp quan ở London, do nữ hoàng
bổ nhiệm trong số các luật sư bào chữa hay luật sư tư vấn đã có ít nhất 7 năm kinh nghiệm theo đề nghị của chủ tịch thượng viện Họ làm việc cả ngày, được hưởng lương
và có nhiệm kỳ suốt đời
3 Tòa hình sự trung ương – Crown Court (Tòa B):
- Tòa hình sự trung ương là một trong 3 tòa tối cao tại Anh (Cấu trúc tòa tối cao ở Anh gồm có: Tòa hình sự trung ương, tòa án phúc thẩm và tòa án cấp cao thẩm quyền chung), được thành lập theo luật tòa án 1971 Đây là tòa cấp trên của tòa pháp quan
Các tòa tối cao ở Anh có những đặc điểm sau:
+ Các tòa này đều tập trung ở những thành phố lớn, đặc biệt là London
Trang 10+ Thẩm quyền của tòa này có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ nước Anh mà không bị giới hạn trong một khu vực dân cư như các tòa cấp dưới
+ Tất cả các thẩm phán ở các tòa này đều là các thẩm phán chuyên nghiệp được bổ nhiệm
từ các luật sư tranh tụng, xét xử theo nguyên tắc tập thể
+ Bồi thẩm đoàn được sử dụng ở Tòa tối cao trong một số trường hợp
+ Đây là các tòa án có khả năng tạo ra án lệ
Tòa hình sự trung ương có đầy đủ những đặc điểm của một tòa tối cao ở Anh trừ khả năng tạo ra án lệ (Các bản án của tòa này không được xuất bản một cách có hệ thống nên chúng không được coi là án lệ)
3.1 Thẩm quyền xét xử: có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm
+ Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nghiệm trọng (giết người, hiếp dâm, cướp, )
+ Xét xử sơ thẩm một vài vụ việc dân sự
+ Xét xử phúc thẩm những vụ việc đã được xét xử sơ thẩm tại tòa pháp quan khi có kháng cáo kháng nghị Thẩm quyền xét xử phúc thẩm cho phép Tòa hình sự trung ương
có quyền y án sơ thẩm, hủy án sơ thẩm hoặc sửa đổi bất kỳ phần nào của bản án sơ thẩm sau khi đã xét xử phúc thẩm Nếu bản án phúc thẩm đưa ra bất lợi cho bị cáo, Tòa hình sự trung ương có quyền áp đặt bất kỳ mức án nào mà Tòa pháp quan đã tuyên hoặc có quyền
áp đặt mức án cao hơn mức án trong bản án sơ thẩm
3.2 Thủ tục xét xử: trong hệ thống xét xử của Anh thì thẩm phán có vai trò thụ
động, việc tiến hành thủ tục xét xử thuộc trách nhiệm của các bên (nghĩa là các luật sư của các bên), thường được thực hiên theo nguyên tắc buộc tội và theo mô hình tranh tụng Tại phiên tòa, các bên sẽ đưa ra chứng cứ hoàn toàn do các bên thu thập và chỉ được đưa
ra tranh luận tại phiên xét xử Bên buộc tội và bên bào chữa sử dụng quyền kiểm tra chéo đối với người làm chứng để xác định tính trung thực hay sự thiên vị trong các lời khai của họ (chỉ ra cái mà người làm chứng biết thực chứ không phải cái mà họ nghĩ rằng họ biết) Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng như những người làm chứng, giám định viên, thậm chí có quyền ngắt lời bên kia để phản bác
Trách nhiệm chứng minh được phân đều cho hai bên buộc tội và bào chữa Tại phiên toà, Công tố viên đại diện cho Nhà nước (Nữ hoàng) chỉ đóng vai trò của một chủ thể thuộc bên buộc tội để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo (chứng minh tội phạm của bị cáo và những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra cho xã hội) Luật sư bào chữa tranh luận về sự vô tội hay giảm nhẹ tội để bảo vệ thân chủ của mình về mặt pháp lý Toà
án (Thẩm phán) chỉ đóng vai trò là người trọng tài có trách nhiệm bảo đảm để các bên tuân thủ các quy tắc tố tụng Trên cơ sở các chứng cứ đã được các bên đưa ra xem xét, kiểm tra tại phiên tòa, Thẩm phán đưa ra phán quyết về vụ án (mà không có trách nhiệm tìm ra sự thật, không có quyền được biết về các chứng cứ của vụ án trước khi mở phiên tòa)