1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký và quy trình để được cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu: Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu cũng như
Trang 1ĐỀ BÀI: Các điều kiện và quy trình để các cá nhân, tổ chức nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam?
BÀI LÀM
I) KHÁI QUÁT CHUNG
1) Giải thích một số khái niệm
a Người nước ngoài
Người nước ngoài là người có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch nước nào cư trú trên lãnh thổ Việt Quốc tịch luôn là căn cứ để xác định người đó là công dân nước nào hoặc người không thuộc công dân nước nào (người không quốc tịch) Từ đó có thể thấy người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là: người không có quốc tịch Việt Nam Vậy, họ có thể là người
có quốc tịch một nước khác, một vài nước khác hoặc không mang quốc tịch nước nào Người nước ngoài có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và cũng có thể cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam
b Tổ chức nước ngoài
Là nhưng tổ chức, pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật nước khác có trụ sở và hoạt động tị Việt Nam
c Đăng ký nhãn hiệu
Đăng ký nhãn hiệu là thủ tục hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành có ý nghĩa thừa nhận quyền sở hữu đối với nhãn hiệu - là ghi nhận nhãn hiệu có chủ sở hữu vào Sổ đăng ký quốc gia về nhãn hiệu và cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho chủ sở hữu Nếu nhãn hiệu không được đăng ký, điều này sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân/pháp nhân khác đánh cắp sử dụng để hưởng lợi Khi đó, mọi sự vi phạm, tranh chấp nhãn hiệu sẽ không có căn cứ để các cơ quan chức năng giải quyết Như vậy
có thể nói xác lập quyền đăng ký nhãn hiệu hay còn gọi là bảo hộ nhãn hiệu
Trang 22 Ý nghĩa của việc đăngký nhãn hiệu
Đối với doanh nghiệp thì nhãn hiệu hang hóa chính là cong cụ
maketting hang hoa sản phẩm của mình đối vói khách hang Mặt khác nhãn hiệu cũng là một công cụ để phòng tránh những hành vi sâm phạm, làm giả sản phẩm của những doanh nghiệp sản xuất khác
Đối với nhà nước thì việc đăng ký nhãn hiệu của các doanh nghiệp giúp cho hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan này dễ dàng thuận lợi hơn Tránh những hành vi vi phạm dẫn đến kiện tụng làm mất ổn định các quan hệ xã hội
Đối với người tiêu dung thì nhãn hiệu hang hóa giúp cho họ phân biệt sản phẩm của hang này với hang khác vì vậy giúp họ mua được những sản phẩm ưng ý và tranh mua phải hang nhái hang kém chất lượng trên thị
trường
II) NỘI DUNG
1/ Cơ sở pháp lý
1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký và quy trình để được cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu:
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu cũng như quy trình để các cá nhân, tổ chức được cấp GCN nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, cụ thể:
- Luật sở hữu trí tuệ 2005 là văn bản pháp lý chuyên nghành điều chỉnh các vấn đề về sở hữu trí tuệ, trong đó về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được ghi nhận tại mục 4, chương VII phấn thứ ba về sở hữu công nghiệp, Điều
105 về yêu cầu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu.Mục 1 và Mục 3, chương XI, Phần Thứ Ba về thủ tục đăng ký SHCN và cấp văn bằng bảo hộ;
- Phần thứ 6, Bộ Luật dân sự 2005, sđ, bs năm 2009;
Trang 3- Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 về hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định của Luật sở hữu trí tuệ
- Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của chính phủ quy định về chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ và công nghiệp
1.2 Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết song phương Tính cho đến thời điểm nay, Việt Nam đã tham gia ký kết trên mười ĐƯQT song phương và đa phương có liên quan tới NHHH và dịch vụ Có thể kể đến các Hiệp định song phương mà Việt Nam đã ký kết như: Hiệp định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thụy Sĩ có hiệu lực năm 2000; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA)năm 1999…
1.3 Các ĐƯQT về đăng ký nhãn hiệu hàng hóa mà Việt Nam là thành viên
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều Điều ước quốc tế ( ĐƯQT)
đa phương và song phương điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa (NHHH), như: Công ước Paris 1983 về bảo hộ sở hữu công
nghiệp; Thỏa ước Marid (1891) về đăng kí Quốc tế nhãn hiệu hàng hóa tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) ở Giơneva; Hiệp định Trips (1994) về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ Trong khuôn khổ các cuộc thương lượng để gia nhập WTO, Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại Việt-Mỹ (BTA) năm 1999 Thực hiện cam kết của Hiệp định, Việt Nam trở thành thành viên của công ước Berne ngày 16 tháng 10 năm 2004, công ước Genève ngày 16 tháng 7 năm
2005, Công ước Bruxelles ngày 12 tháng 1 năm 2006 và Hệ thống Madrid
Trang 42 đăng ký nhãn hiệu theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc công nhận
Đăng ký qua hệ thống đăng ký quốc tế Madrid bằng cách nộp một đơn duy nhất trong đó có chỉ định các nước xin đăng ký, Nếu đăng ký theo Madrid, trước hết nhãn hiệu phải đã được nộp đơn đăng ký hoặc đã được đăng ký tại Việt Nam Theo đó:
1 Người nộp đơn có thể nộp đơn đăng ký quốc tế theo Nghị định thư ngay sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ở Việt Nam, mà không bắt buộc phải đợi đến thời điểm nhãn hiệu đó được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam (Nộp đơn đăng ký theo Thỏa ước Madrid bắt buộc nhãn hiệu phải được cấp Văn bằng bảo hộ tại nước sở tại);
2 Người nộp đơn có thể nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia tại các nước được chỉ định để chuyển đổi đăng ký quốc tế thành đăng ký quốc gia trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đăng ký quốc tế theo Nghị định thư bị mất hiệu lực do đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tương ứng ở Việt Nam bị mất hiệu lực và trong trường hợp đó các đơn xin chuyển đổi đăng ký nhãn hiệu vào từng quốc gia được giữ nguyên ngày nộp đơn, ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký quốc tế;
3 Người nộp đơn có thể chọn sử dụng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh trong đơn đăng ký Quốc tế theo Nghị định thư
Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn trong một đơn đăng ký Quốc tế
có thể chỉ định (yêu cầu bảo hộ tại) các quốc gia là thành viên Thỏa ước và / hoặc Nghị định thư, miễn là đáp ứng các điều kiện tương ứng và đơn phải theo mẫu qui định
Trang 5Thông thường, trong vòng 18 tháng theo Nghị định thư kể từ khi đơn được nộp hợp lệ, nhãn hiệu đăng ký quốc tế sẽ được chấp nhận bảo hộ ở nước chỉ định trong đơn (nếu đơn không bị nước chỉ định từ chối bảo hộ trong thời han qui định trên)
3.Điều kiện để cá nhân, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
3.1 Về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ NHHH được căn cứ theo Điều 78 Luật SHTT, gồm:
- Tổ chức hoặc cá nhân (Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam) tiến hành hoạt động sản xuất,kinh doanh hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá hoặc dịch vụ do mình sản xuất hoặc kinh doanh;
- Tổ chức hoặc cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu do mình đưa ra thị trường nhưng
do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm tương ứng và không phản đối việc nộp đơn nói trên;
- Đối với nhãn hiệu tập thể,quyền nộp đơn thuộc về tổ chức,cá nhân đại diện cho tập thể các cá nhân hoặc chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tương ứng
- Quyền nộp đơn,kể cả đơn đã nộp,có thể được chuyển giao cho cá nhân hoặc các chủ thể khác thông qua văn bản chuyển giao quyền nộp đơn
3.2 Điều kiện về tính phân biệt của nhãn hiệu.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ 2005, một nhãn
hiệu được coi là có khả năng phân biệt: “ nếu được tạo thành từ một hoặc
Trang 6tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”
Mặt khác, nếu khoản 1 của Điều 74 nhắc tới khái niệm tính phân biệt thì khoản 2 Điều này lại cụ thể hóa những nhãn hiệu được coi là không có tính phân biệt Hay nói cách khác, đây chính là phạm vi tính phân biệt của NHHH Theo quy định này, có tất cả mười ba dấu hiệu khiến cho một nhãn hiệu được coi là không có tính phân biệt và có thể được phân chia thành ba loại như sau:
Loại thứ nhất là những dấu hiệu trùng hoặc tương tự với một yếu tố
sở hữu công nghiệp khác, bao gồm: nhãn hiệu ( từ điểm e đến điểm i khoản
2 Điều 74), tên thương mại (điểm k), chỉ dẫn địa lý (điểm 1 và m), kiểu dáng công nghiệp (điểm n) Khoản 11 (iv) Điều 39 Thông tư
01/2007/TT-BKHCN đã đưa ra một số căn cứ để đánh giá mức độ gây nhầm lẫn của dấu hiệu với nhãn hiệu đối chứng
Loại thứ hai là những dấu hiệu sử dụng các thuật ngữ gốc hay thuật ngữ áp dụng chung Một dấu hiệu sẽ được coi là mang tính áp dụng chung khi nó xác định một loại hay một nhóm mà hàng hóa mang nhãn hiệu thuộc về loại hay nhóm đó Thuật ngữ gốc ở đây là những thuật ngữ rộng, luôn được sử dụng để chỉ các loại hàng hóa, dịch vụ Ví dụ: đồ gia dụng, ghế, rượu có thể được coi là những thuật ngữ gốc
Loại thứ ba là những dấu hiệu đơn thuần mang tính mô tả Các dấu hiệu mô tả là những dấu hiệu sử dụng trong thương mại để đơn thuần chỉ ra chủng loại, chất lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ, thời gian sản xuất hoặc bất kì đặc tính nào khác của hàng hóa Nội dung này được thể hiện tại
điểm c khoản 2 Điều 74 LSHTT: “ Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm,
phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành
Trang 7phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ”.
Loại thứ tư là những dấu hiệu thiếu tính phân biệt khác Có thể kể đến
một số dấu hiệu thuộc loại này như nhãn hiệu chỉ bao gồm: “ hình và hình
học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ thông dụng” (điểm
a) hoặc “ dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể
kinh doanh” (điểm d)
Tuy vậy, pháp luật vẫn đặt ra một ngoại lệ cho phép lưu hành những loại dấu hiệu này trong thương mại nếu chúng đã được trong một khoảng thời gian dài và được nhiều người tiêu dùng biết đến rộng rãi Ngoại lệ này được áp dụng với các nhãn hiệu quy định tại các điểm a, c, đ và khoản 2 Điều 74 Thực tiễn ở Việt Nam có một số nhãn hiệu được xếp vào nhóm không có tính phân biệt như: kem đánh răng P/S, Bia Sài Gòn, Bia
333, Ngoài ra, còn một ngoại lệ khác được áp dụng với nhãn hiệu quy định tại điểm h khoản này
3.3 Điều kiện về hồ sơ đăng ký nhãn hiệu (Điều 7, Thông tư 01/2007).
- Hồ sơ đơn đăng ký nhãn hiệu phải bao gồm các tài liệu sau đây:
Tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (Tờ khai), làm theo Mẫu do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành;
Quy chế sử dụng nhãn hiệu,nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập thể;
Mẫu nhãn hiệu ( 12 mẫu nhãn);
Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp,nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Chứng nhận thừa kế,Chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn,kể cả đơn đã nộp,Hợp đồng
Trang 8Giấy uỷ quyền,nếu cần;
Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm,nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế,gồm một (1) bản;
Tài liệu xác nhận về xuất xứ,giải thưởng,huy chương,nếu trên nhãn hiệu có chứa đựng các thông tin đó;
Chứng từ nộp phí nộp đơn;
Bản gốc Giấy uỷ quyền;
Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm,nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế,kể cả bản dịch ra tiếng Việt
4 Quy trình để cá nhân, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ hợp lệ, đúng theo quy định của pháp luật, cá nhân tổ chức nộp đơn tại Cục sở hữu trí tuệ
Quá trình thẩm định đơn nhãn hiệu
+ Thẩm định hình thức:
- Đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải được xét nghiệm hình thức nhằm xác định xem đơn có đáp ứng các yêu cầu của đơn hợp lệ hay không Nếu đơn đáp ứng các yêu cầu của đơn hợp lệ, thì Cục Sở hữu trí tuệ xác nhận ngày nộp đơn hợp lệ, số đơn hợp lệ, ngày ưu tiên của đơn và thông báo cho người nộp đơn quyết định chấp nhận đơn
Trang 9Các yêu cầu của đơn hợp lệ gồm có: Các yêu cầu chung,các yêu cầu
cụ thể về hình thức và yêu cầu về tính thống nhất của đơn sở hữu công nghiệp
Thời hạn xét nghiệm hình thức là 01 tháng kể từ ngày đơn đến Cục Sở hữu Trí tuệ
- Công bố đơn: Được công bố sau hai tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là hợp lệ (Khoản 3, Điều 110)
+ Thẩm định nội dung (điều 119)
- Việc thẩm định nội dung được tiến hành khi đơn đã được chấp nhận
là đơn hợp lệ và người nộp đơn đã nộp lệ phí xét nghiệm nội dung theo quy định Thời hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu là 06 tháng tính từ
ngày công bố
- Mục đích của việc thẩm định nội dung đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo
hộ là để xác định đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ
mà luật pháp quy định hay không
+ Cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Đăng bạ(điều 118):
- Căn cứ vào kết quả thẩm định nội dung,nếu đối tượng nêu trong đơn đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ,thì Cục Sở hữu trí tuệ thông báo cho Người nộp đơn kết quả thẩm định và yêu cầu nộp lệ phí đăng bạ,lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu ,lệ phí công bố Văn bằng bảo hộ
- Nếu Người nộp đơn nộp các lệ phí nêu trên, thì Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành các thủ tục cấp Văn bằng bảo hộ cho Người nộp đơn, đăng bạ và công
bố Văn bằng bảo hộ Nếu Người nộp đơn không nộp lệ phí theo yêu cầu,thì đơn coi như bị rút bỏ
III) NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
Như vậy đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài khi đăng ký nhãn hiệu
Trang 10chung cá nhân, tổ chức của các nước có ký điều ước quốc tế với Việt Nam thì quy trình và điều kiện đăng ký thường là dễ dàng và gọn nhẹ hơn bởi các điều ước quốc tế này thường là đã tối ưu hóa các điều kiện và quy trình cho công dân và pháp nhân của nước tham gia Còn đối với công dân, tổ chức của những nước mà không cùng tham gia điều ước quốc tế với Việt Nam về vấn đề này thì họ chỉ có một lựa chọn duy nhất đó là tuân theo pháp luật của Việt Nam quy định để có thể đăng ký nhãn hiệu