1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

11 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhất là đối với những tài sản đang có tranh chấp thì Tòa án lại càng phải quyết định áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tránh tình trạng tẩu tán hay hủy hoại tài sản, gây khó

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, đôi khi Tòa án phải quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp cần thiết gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc đảm bảo thi hành án Nhất là đối với những tài sản đang có tranh chấp thì Tòa án lại càng phải quyết định áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm tránh tình trạng tẩu tán hay hủy hoại tài sản, gây khó khăn cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan cũng như tránh các trở ngại cho Tòa án trong

quá trình giải quyết vụ việc dân sự Đó chính là lí do nhóm chúng em chọn đề tài “Các biện pháp khẩn cấp tạm

thời đối với tài sản đang tranh chấp” cho bài tập nhóm tháng số hai.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Khái quát chung về “Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT)

1.1 Khái niệm

Trong khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đôi khi Tòa án phải quyết định áp dụng một hay một số biện pháp cần thiết để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc để bảo đảm thi hành án Các biện pháp này được gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời( BPKCTT)

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân

sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hay bảo đảm việc thi hành án.

1.2 Đặc điểm của Biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Tính khẩn cấp: Tòa án khi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra quyết định ngay và quyết

định này được thực hiện ngay sau khi được tòa án quyết định áp dụng nếu không nó sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng

- Tính tạm thời của biện pháp này được thể hiện ở chỗ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa

phải là quyết định cuối cùng để giải quyết vụ việc dân sự

Để đảm bảo việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được đúng đắn, từ trước đến nay pháp luật Việt Nam đều quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục và điều kiện áp dụng Hiện nay, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 99 đến Điều 126 BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011,

trong đó các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9 Điều

102 và được cụ thể hóa tại các Điều 108, 109, 110, 111 BLTTDS Trên cơ sở quy định của BLTTDS, Tòa án

nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy

định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS.

2 Quy định của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp gồm có 4 biện pháp là: Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp, biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; biện pháp cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác

2.1 Điều kiện để áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

2.1.1 Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp.

Dưới góc độ pháp luật TTDS thì kê biên tài sản được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước do tòa án quyết định áp dụng và chấp hành viên tiến hành kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao lại cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật Trong TTDS, BPKCTT kê biên tài sản đang tranh chấp do tòa án quyết

định áp dụng là “việc tòa án kiểm kê, thống kê những tài sản đang có tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ về

những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản đang có tranh chấp đó.” Biện pháp kê biên tài sản được quy định tại khoản 6 Điều 102 và điều kiện áp dụng biện

pháp này được quy định tại Điều 108 BLTTDS

Trang 2

Theo Điều 108 BLTTDS thì biện pháp này được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu

có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, đồng thời có đơn của đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải xem xét

2.1.2 Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là việc không cho thay đổi quyền về tài tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Điều 109 BLTTDS quy định biện pháp này được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ của họ

- Đối tượng cấm chuyển dịch quyền về tài sản ở đây phải là tài sản đang tranh chấp, nếu đương sự yêu cầu cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản không phải là tài sản đang có tranh chấp thì Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này

- Người đang chiếm hữu tài sản này có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác Những hành vi được coi là chuyển dịch quyền tài sản có thể là hành vi mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho…

- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện biện pháp bảo đảm

2.1.3 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.

BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là việc tòa án hoặc người đang giữ tài sản tranh chấp phải giữ nguyên hiện trạng bên ngoài, vốn có của tài sản tranh chấp bởi việc thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp có thể làm thay đổi giá trị của tài sản tranh chấp BPKCTT này được quy định tại khoản 8 Điều 102 BLTTDS và là biện pháp chỉ được áp dụng nếu có yêu cầu của người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT Vì

“trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có

hành vi tháo gỡ, lắp đặt, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng của tài sản” Để giải quyết

về tài sản tranh chấp nhưng trước mắt tòa án sẽ buộc người có hành vi lắp ghép, cơi nới, xây dựng thêm đối với tài sản tranh chấp phải ngưng ngay những hành vi đó để bảo toàn tài sản, giữ nguyên giá trị của tài sản tranh chấp Như vậy, theo quy định tại Điều 110 BLTTDS thì trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có các điều kiện sau đây thì Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này:

- Đối tượng để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là tài sản đang có tranh chấp

- Người đang chiếm hữu tài sản này có hành vi: tháo dỡ, lắp đặt, xây dựng thêm Hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó như phá hủy…

- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện biện pháp bảo đảm

2.1.4 Cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.

BPKCTT cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác là việc tòa án buộc một bên đương sự trong vụ tranh chấp phải thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩn, hàng hóa khác nếu tài sản đang tranh chấp hoặc tài sản liên quan đến tài sản tranh chấp là hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa nông nghiệp khác ở thời kỳ thu hoạch hoăc không thể bảo quản được lâu dài

Sở dĩ biện pháp này được quy định là BPKCTT vì nếu không kịp thời cho thu hoạch, không kịp thời cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác thì tài sản tranh chấp, tài sản liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ hư hỏng, không còn giá trị, gây lãng phí và không đảm bảo cho khả năng thi hành án Theo quy định tại Điều 119 BLTTDS và Điều 111 BLTTDS này chỉ được tòa án áp dụng khi có yêu cầu của người có quyền yêu cầu và tòa

án xét thấy yêu cầu đó là cần thiết Những tài sản bị áp dụng biện pháp này phải được bảo quản và bán theo các phương thức do pháp luật quy định

2 2 Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Cùng với những biện pháp khẩn cấp tạm thời khác, những biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với những tài sản đang tranh cấp cũng được áp dụng theo một trình tự thủ tục mà pháp luật quy định chung, cụ thể như sau:

- Chủ thể yêu cầu: đảm bảo yêu cầu về chủ thế yêu câu theo quy định của Khoản 1 Điều 99 BLTTDS

Trang 3

- Trình tự thủ tục: Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến tòa án giải quyết

vụ việc dân sự Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung được qui định tại tại khoản 1 Điều 117 BLTTDS Kèm theo đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người yêu cầu còn phải cung cấp cho tòa án các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó

- Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước phiên tòa, thẩm phán được phân công giải quyết

vụ án phải xem xét, quyết định trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện các biện pháp bảo đảm Trường hợp người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì ngay sau khi người

đó thực hiện biện pháp bảo đảm, thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì hội đồng xét xử xem xét quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay khi nhận được yêu cầu nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc sau khi người yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm

- Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện cùng với khởi kiện thì sau khi nhận đơn chánh án tòa án chỉ định ngay một thẩm phán thụ lí giải quyết đơn yêu cầu Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

- Đối với những trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết và trong đó phải nêu rõ lí do của việc không chấp nhận

2 3 Thủ tục thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

2.3.1 Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì đương sự và tòa án có quyền yêu cầu thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời đã và đang áp dụng

Căn cứ theo Điều 121 BLTTDS “Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn

phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi,

áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo Điều 117 của Bộ luật này”.

Ngoài ra Tại điểm 10.1 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII "Các biện pháp khẩn cấp tạm thời" của Bộ luật tố tụng dân sự thì:

“10.1 Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng BPKCTT có đơn yêu cầu Toà án thay đổi hoặc áp dụng bổ

sung BPKCTT khác, thì thủ tục thay đổi, áp dụng BPKCTT khác được thực hiện theo quy định tại Điều 117 của BLTTDS và hướng dẫn tại các mục 5, 6 và 7 Nghị quyết này”.

Như vậy thủ tục thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện như thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tức là đơn yêu cầu thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, năm viết đơn; Tên, địa chỉ của người yêu cầu; Tên, địa chỉ của người bị yêu cầu; Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Lý do cần áp dụng biện pháp; Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể

2.2.2 Huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Căn cứ theo quy định tại Điều 122 BLTTDS:

“1 Toà án ra quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi có một trong các trường hợp sau đây:

a Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị huỷ bỏ;

b Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;

c Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trang 4

2 Trong trường hợp huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhận lại khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá bảo đảm quy định tại Điều 120 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật này.”

2 4 Cơ chế bảo đảm

2.4.1 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

Buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm là một trong những quy định tại Điều 120 BLTTDS Tương ứng với quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm mà cụ thể là họ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp

tạm thời không đúng Còn “người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp

tạm thời không đúng Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là người đại diện theo ủy quyền của đương sự thì người có nghĩa vụ phải thực hiện là đương sự Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa tình trạng người có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời lạm dụng quyền này Tuy nhiên không phải người nào đưa ra yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải thực hiện biện pháp bảo đảm Điều 120

BLTTDS đã quy định rõ những trường hợp người đưa ra yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như: kê biên

tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; … Toàn bộ

những biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp mà chúng ta đề cập ở trên đều phải buộc thực hiện biện pháp đảm bảo

Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi

có trụ sở của Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do Tòa án ấn định Đối với những trường hợp khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm này không quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu Nếu việc thực hiện biện pháo bảo đảm vào ngày lễ, ngày nghỉ, khoản tiền thực hiện biện pháp bảo đảm sẽ được giữ lại toà án Tòa án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng trong ngày làm việc tiếp theo

Sở dĩ nháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu

2.4.2 Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Để nâng cao trách nhiệm của Tòa án và người có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng Theo Điều 101 BLTTDS, người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì theo quy định của pháp luật, họ phải bồi thường cho người bị thiệt hại Quy định này buộc người có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải suy nghĩ chín chắn trước khi đưa ra yêu cầu, buộc họ phải có trách nhiệm với hành vi của mình

Ngoài quy định trách nhiệm bồi thường của đương sự và những chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS còn quy định trách nhiệm bồi thường của Tòa án nếu quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba Theo khoản 2 Điều

101 BLTTDS

2.4.3 Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trang 5

Việc Tòa án ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự đều có thể ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp cho đương sự Vì vậy, BLTTDS quy định đương sự có quyền khiếu nại, viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho người khác có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án nếu cho rằng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án đã xâm phạm đến quyền lợi của đương sự Thời hạn các chủ thể này thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không

ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết trong thời hạn 3 ngày làm việc Quyết định giải quyết, khiếu nại, kiến nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Chánh án, của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng Quyết định này phải được cấp hoặc gửi ngay cho người có yêu cầu, người bị

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự và viện kiểm sát

Điểm đáng lưu ý trong BLTTDS là ngoài việc quy định các chủ thể theo luật định có quyền khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thì còn quy định các chủ thể có quyền khiếu nại, kiến nghị về việc Tòa án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Quy định này là cần thiết bởi trong thực tế đã có trường hợp vì Tòa án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy

bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên đã không bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự

3 Thực tiễn thực hiện quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp và phương hướng hoàn thiện

3.1 Thực tiễn thực hiện quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

3.1.1 Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp

Biện pháp kê biên tài sản đang có tranh chấp được áp dụng khi có yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT mà tòa án không có quyền tự mình áp dụng Theo quy định tại Điều 108

BLTTDS, BPKCTT kê biên tài sản tranh chấp chỉ được tòa án quyết định áp dụng “nếu trong quá trình tòa án

giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản” Từ

quy định này, việc áp dụng BPKCTT kê biên tài sản trong TTDS phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

- Thứ nhất, BPKCTT kê biên tài sản chỉ được áp dụng đối với nhứng tài sản đang tranh chấp mà không phải

áp dụng đối với tất cả các tài sản của đương sự trong VADS Những tài sản không phải là tài sản tranh chấp hoặc những tài sản chỉ liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ không nằm trong phạm vi những tài sản bị áp dụng BPKCTT

kê biên Từ quy định này cho thấy nếu đương sự là người có nghĩa vụ và đương sự có tài sản để thi hành nghĩa vụ

đó nhưng tài sản đó không phải là tài sản tranh chấp thì tài sản đó không thể bị kê biên để đảm bảo cho thi hành

án Ý nghĩa của biện pháp KCTT kê biên là nhằm bảo toàn tài sản, đảm bảo cho khả năng thi hành án của đương

sự nhưng với quy định chỉ kê biên đối với tài sản đang tranh chấp thì khả năng đảm bảo cho thi hành án sẽ không cao Thiết nghĩ phạm vi tài sản bị kê biên cần phải được quy định mở rộng hơn để BPKCTT kê biên đạt hiệu quả cao nhất trong việc bảo toàn tài sản để thi hành án

- Thứ hai, BPKCTT kê biên tài sản tranh chấp chỉ được tòa án quyết định áp dụng khi “có căn cứ cho thấy

người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” Mặc dù Điều 108 BLTTDS quy định là

“có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” chứ không phải là

“người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp” nhưng vẫn tạo ra những cách hiểu khác

nhau Có cách hiểu là chỉ khi có những căn cứ xác định người đang giữ tài sản tranh chấp đã có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì mới coi là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản và khi đó tòa án mới quyết định áp dụng BPKCTT kê biên Nếu hiểu theo cách này thì Điều 108 BLTTDS chưa thực sự đáp ứng được tính chất khẩn cấp vì quyết định áp dụng BPKCTT kê biên gần như không còn tác dụng bảo toàn tài sản tranh chấp, tài sản tranh chấp có thể đã bị tẩu tán, đã bị hủy hoại Nhưng theo một

Trang 6

cách hiểu khác, vì Điều 108 BLTTDS quy định là “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán,

hủy hoại tài sản đang tranh chấp” nên BPKCTT kê biên sẽ được áp dụng khi mà hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản

tranh chấp chưa xảy ra trên thực tế, mới chỉ có căn cứ cho thấy các hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp sẽ xảy ra nên cần áp dụng ngay biện pháp kê biên Hiểu theo cách này mới có tính kịp thời Do vẫn còn có những cách hiểu khác nhau nên Điều 108 BLTTDS cần phải được sửa đổi cho cụ thể hơn để hiểu và vận dụng thống nhất, tránh việc tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT kê biên là quá muộn, không bảo toàn được tài sản tranh chấp, không đạt được mục đích của việc áp dụng BPKCTT kê biên

Theo quy định tại khoản 2 Điều 108 BLTTDS, tài sản tranh chấp sau khi bị kê biên “có thể được thu giữ, bảo

quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi

có quyết định của tòa án” Nếu phải được bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ

gặp rất nhiều khó khăn về kho bãi, về nhân lực, về chi phí trông coi, bảo quản tài sản kê biên Ngoài ra, vấn đề trách nhiệm từ việc bảo quản tài sản kê biên cũng là vấn đề làm nhiều cơ quan thi hành án dân sự lo ngại Nếu tài sản kê biên được giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định mới của của tòa án thì trách nhiệm bảo quản tài sản kê biên của những người này cần phải được quy định chặt chẽ, rõ ràng trong khoản 2 Điều 108 BLTTDS để tránh tình trạng tài sản sau khi kê biên lại bị hủy hoại, tẩu tán do chính người được giao bảo quản thực hiện Hiện tại, khoản 2 Điều 108 BLTTDS chưa có quy định nào về vấn đề này, vì thế khoản 2 Điều 108 BLTTDS cần được bổ sung về vấn đề trách nhiệm của người được giao bảo quản tài sản kê biên

Tìm hiểu thực tiễn áp dụng BPKCTT kê biên tài sản đang tranh chấp cho thấy mặc dù nhìn chung số vụ án có

áp dụng biện pháp này cũng không nhiều nhưng với nhiều BPKCTT khác, BPKCTT này hay được tòa án áp dụng hơn, vì thế trong một số trường hợp, tòa án đã kịp thời bảo toàn được tài sản, bảo đảm cho thi hành án

3.1.2 Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là việc tòa án buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được thay đổi, chuyển đổi quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Theo đó

BPKCTT này “được áp dụng khi quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm

hữu tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ của họ” Như vậy, cũng giống như quy định về BPKCTT kê biên thì với những

tài sản tranh chấp mà thường là những tài sản có quyền đối với tài sản đã được xác định rõ thông qua thủ tục đăng

ký tại cơ quan có thẩm thẩm quyền của nhà nước (chủ yếu là bất động sản) Mặt khác, tòa án chỉ được quyền áp dụng biện pháp này khi có yêu cầu áp dụng của người có quyền yêu cầu áp dụng mà tòa án không có quyền tự

mình áp dụng Căn cứ để tòa án quyết định áp dụng biện pháp này phải là “có căn cứ cho thấy người đang giữ

tài sản tranh chấp có hành vi chuyển dịch về tài sản tranh chấp cho người khác” nhằm trốn tránh nghĩa vụ của

họ Căn cứ này cho thấy tình trạng khẩn cấp là quyền đối với tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị chuyển dịch, cần phải có ngay biện pháp ngăn chặn việc chuyển dịch để bảo toàn tài sản tranh chấp đó Nếu không kịp thời ngăn chặn thì tài sản tranh chấp sẽ bị chuyển dịch, không còn tài sản để thi hành án

So với PLTTGQVADS trước đây, quy định tại Điều 109 BLTTDS hiện nay về BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp đã thể hiện điểm tiến bộ đáng kể Nếu như trong

PLTTGQVADS, BPKCTT này có tên là biện pháp “cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp” gây nhiều tranh

cãi (là chuyển dịch cơ học đối với tài sản hay chuyển dịch quyền đối với tài sản) là một trong những nguyên nhân

cơ bản của tình trạng áp dụng không thống nhất thì hiện nay BLTTDS đã sửa đổi cho phù hợp, cụ thể hơn là biến pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp Tuy nhiên, cũng giống như PLTTGQVADS, Điều 109 BLTTDS hiện nay cũng quy định biện pháp này áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp, các tài sản khác sẽ không thuộc phạm vi áp dụng biện pháp này và như vậy quy định này chưa phát huy hết hiệu quả bảo đảm khả năng thi hành án của BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản cần được mở rộng hơn

để vừa đảm bảo thi hành án vừa bảo đảm quyền của chủ sở hữu tài sản

Trang 7

Mặt khác, với quy định tại Điều 109 BLTTDS “có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có

hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cho người khác” còn tạo ra những cách hiểu khác nhau Có cách hiểu cho

rằng chỉ cần người đang giữ tài sản có những biểu hiện nhằm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản tranh chấp chứ trên thực tế chưa có hành vi chuyển dịch tài sản tranh chấp là có căn cứ để quyết định áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch tài sản có tranh chấp Nhưng có cách hiểu: vì Điều 109 BLTTDS có sử dụng cụm từ “có hành vi” nên trên thực tế là đã có hành vi chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản tranh chấp Nếu hiểu theo cách này thì việc tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản tranh chấp trong nhiều trường hợp không còn ý nghĩa bởi quyền về tài sản tranh đã bị chuyển dịch Theo ta thấy mục đích của BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản là nhằm bảo toàn tài sản không cho thay đổi quyền về tài sản để thi hành án, vì thế quy định về biện pháp này phải ngăn chặn được việc chuyển dịch quyền về tài sản, không cho người có tài sản trốn tránh nghĩa vụ của họ Điều 109 BLTTDS quy định về điều kiện áp dụng như hiện nay là chưa ổn, cần được sửa đổi để có thể áp dụng thống nhất, phát huy cao nhất tác dụng của biện pháp này trong việc ngăn ngừa tình trạng người có tài sản trốn tránh thực hiện nghĩa vụ

Về BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 109 BLTTDS còn bộc lộ một số vướng mắc khác trong thực tiễn áp dụng đó là ở một mức độ nhất định thì BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản có nét giống với biện pháp kê biên tài sản Hai BPKCTT này đều được áp dụng đối với tài sản để đảm bảo khả năng thi hành án của đương sự Hậu quả của việc tòa án ra quyết định áp dụng hai biện pháp này đều là người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, chuyển đổi quyền đối với tài sản tranh chấp Mặt khác, nếu biện pháp kê biên được tòa án quyết định áp dụng với người đang giữ tài sản có hành

vi tẩu tán, hủy hoại tài sản thì hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cũng có thể được hiểu là hành vi tẩu tán tài sản Những nét giống nhau này tạo cảm giác có sự trùng lặp trong quy định của pháp luật về hai BPKCTT này Thực tiễn của việc ra quyết định áp dụng BPKCTT kê biên tài sản tranh chấp thì tòa án cũng tuyên bố rõ việc cấm chuyển dịch quyền đối tài sản tranh chấp Nếu pháp luật quy định tách bạch hai biện pháp kê biên và cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản thành hai BPKCTT khác nhau thì phải quy định rõ hơn về đối tượng tài sản áp dụng, về điều kiện áp dụng để người áp dụng pháp luật biết được đối với tài sản tranh chấp nào được áp dụng biện pháp kê biên, đối với tài sản tranh chấp nào được áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản Khảo sát thực tiễn áp dụng BPKCTT cho thấy vì BLTTDS quy định BPKCTT cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản được áp dụng đối với tài sản tranh chấp nên tòa án quyết định biện pháp này cũng không nhiều, nếu có thì cũng chỉ áp dụng đối với một số tranh chấp là bất động sản

2.3.3 Biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

Vấn đề đặt ra ở đây đó là hành vi thay đổi hiện trạng vốn có của tài sản tranh chấp cần phải có biện pháp ngừng hành vi đó lại và như vậy, việc quyết định áp dụng BPKCTT này gần như không còn khả năng bảo quản tài sản vì thay đổi hiện trạng vốn có của tài sản tranh chấp vẫn được thực hiện, tài sản tranh chấp đã bị thay đổi hiện trạng quyết định của tòa án về việc cấm thay đổi hiện trạng đã là quá chậm, chỉ có ý nghĩa buộc dừng hành

vi làm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp Vì thế, Điều 109 BLTTDS cần phải được sửa đổi phù hơp hơn, thể hiện được ý nghĩa quan trọng của BPKCTT nhằm ngăn chặn hành vi thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp , kịp thời giữ nguyên hiện trạng bên ngoài của tài sản tranh chấp

Một vấn đề nữa khi áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng của tài sản đang tranh chấp là cần phân biệt và đặt biện pháp này trong mối liên hệ với BPKCTT kê biên tài sản đang tranh chấp, BPKCTT kê biên tài sản tranh chấp nhằm mục đích bảo toàn tài sản tranh chấp, đảm bảo khả năng thi hành án bằng việc kiểm kê, thống kê cụ thể những tài sản của đương sự, sau khi thống kê sẽ giao cho một người giữ, người giữ tài sản kê biên phải giữ nguyên hiện trạng tài sản, không được thay đổi, tẩu tán, hủy hoại tài sản, chờ quyết định giải quyết tranh chấp về tài sản đó Sở dĩ tòa án phải kê biên ngay tài sản tranh chấp vì người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nên tòa án cần phải nắm được tài sản đó, có nắm được tài sản đó thì mới ngăn chặn kịp thời việc tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp Còn lý do của việc cần phải áp dụng ngay biện pháp cấm thay đổi hiện

Trang 8

trạng tài sản tranh chấp là người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tháo dỡ, lắp ghép, xây dựng thêm chứ không phải vì họ muốn tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hành vi tháo dỡ, lắp ghép, xây dựng thêm đối với tài sản cũng dẫn đến hậu quả là hủy hoại tài sản, làm giảm giá trị tài sản tranh chấp, vì thế dễ tạo cảm giác, hai BPKCTT này có phần trùng lặp nhau Việc BLTTDS tách ra để quy định thành các BPKCTT kê biên, cấm chuyển dịch về quyền đối với tài sản, cấm thay đổi hiện trạng tài sản có ưu điểm làm cho các biện pháp này rõ ràng hơn, cụ thể hơn Nhưng ở một phạm vi nhất định, ba biện pháp này có nét giống nhau là đều có tác dụng bảo toàn tài sản làm cho tài sản đang tranh chấp không bị tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng hoặc giảm giá trị Mặc dù dựa vào tinh thần của từng đối tượng tài sản, các BPKCTT này cần được quy định như là những BPKCTT độc lập, khi cần thiết sẽ được sử dụng kết hợp được với nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm đảm bảo mục đích bảo toàn tài sản, đảm bảo khả năng thi hành án song điều kiện áp dụng các biện pháp này cần được quy định cụ thể hơn để không bị chồng chéo Qua tìm hiểu thực tiễn áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp ở một số tòa án địa phương có thể thấy cũng giống như các BPKCTT khác, BPKCTT này cũng ít khi được tòa án quyết định áp dụng về biện pháp này còn chưa cụ thể, chưa thật sự phù hợp nên BPKCTT này ít được áp dụng

3.1.4. Xác định thẩm quyền của Tòa áp dụng BPKCTT khi có kháng cáo.

Trong trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự kháng cáo bản án đồng thời có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT Giai đoạn này, Tòa án cấp sơ thẩm đang làm các thủ tục liên quan đến kháng cáo theo quy định của pháp luật mà chưa chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm Vậy, Tòa án cấp nào có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT nếu yêu cầu của đương sự là có căn cứ, đúng pháp luật và thuộc trường hợp cần phải được áp dụng BPKCTT? Ngược lại, nếu yêu cầu của đương sự không đúng pháp luật và không thuộc trường hợp cần phải

áp dụng BPKCTT thì Tòa án nào sẽ không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT? Tòa án cấp nào có thẩm quyền ban hành văn bản trả lời đương sự? Đây là những vấn đề Bộ luật TTDS chưa có quy định cụ thể

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án: BLTTDS quy định các trường hợp Tòa án có trách nhiệm bồi thường khi áp dụng không đúng BPKCTT gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ

ba (Điều 101 khoản 2) nhưng lại chưa có quy định trách nhiệm bồi thường của Tòa án trong trường hợp không ra quyết định hoặc chậm ra quyết định áp dụng BPKCTT Vì vậy trong thực tiễn, nếu đương sự yêu cầu và có căn

cứ áp dụng BPKCTT nhưng Tòa án không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng gây thiệt hại cho đương sự thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại này sẽ xử lý như thế nào?

3.2.Phương hướng hoàn thiện quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp

3.2.1 Biện pháp kê biên tài sản

Biện pháp này còn bộc lộ nhiều điểm bất cập cần được sửa đổi cụ thể như sau:

- Cần mở rộng phạm vi tài sản được áp dụng BPKCTT kê biên, tức là nên áp dụng biện pháp này cho tất cả các tài sản của đương sự chứ không chỉ áp dụng riêng đối với tài sản đang tranh chấp Bởi vì nếu đương sự là người có nghĩa vụ thi hành án thì các tài sản đó cũng có thể được áp dụng biện pháp kê biên Sẽ là không hợp lý khi đương sự có khả năng thi hành án nhưng tài sản có khả năng thi hành án lại không phải là tài sản đang tranh chấp nên không được kê biên để thi hành án Với hướng mở rộng phạm vi tài sản được kê biên thì trước hết tên gọi của Điều 108 BLTTDS phải đổi thành “biện pháp kê biên tài sản”

- Nếu BPKCTT kê biên tài sản chỉ được quy định áp dụng “khi có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang

tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản” như quy định tại Điều 108 hiện nay thì trong nhiều trường hợp sẽ

là quá chậm để bảo toàn tài sản, bảo đảm khả năng thi hành án Nói cách khác như quy định trong Điều 108 hiện nay thì quy định biện pháp của tòa án thường được áp dụng sau khi đương sự có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản như vậy thì biện pháp này đã không còn ý nghĩa như vốn có Để phát huy hiệu quả của biện pháp này cần ngăn chặn, phòng ngừa kịp thời việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của người giữ tài sản Điều 108 phải được sửa đổi theo

hướng kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa khả năng tẩu tán hủy hoại tài sản có thể xảy ra Điều kiện “có căn cứ cho

thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản” trong Điều 108 nên được sửa thành

Trang 9

“nếu nhận thấy cần phải ngăn chặn ngay người giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản” Có quy định

như vậy thì việc áp dụng biện pháp mới có hiệu quả cao, BPKCTT kê biên mới kịp thời được bảo toàn tài sản để nhằm đảm bảo cho thi hành

- Để phân biệt với Biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ Điều 108 quy định cần bổ sung rõ điều kiện cần áp dụng biện pháp này Bản chất của việc kê biên tài sản là kê biên, kể ra những tài sản của đương

sự để nắm rõ về tình hình của đương sự Những tài sản được kê biên sẽ được bảo toàn bằng cách giao cho một người nào đó giữ và người giữ tài sản đó không được chuyển đổi, chuyển nhượng quyền đối với tài sản Trường hợp Tòa án cần biết rõ về quyền, về hiện trạng số lượng, chủng loại, giá trị thực tế của tài sản có khả năng thi hành án và những tài sản đó sau khi kê biên cần được giao cho cơ quan chức năng hoặc người khác tiếp tục sử dụng, quản lý, khái thác mà không sợ bị tẩu tán, hủy hoại Như vậy, những tài sản cần kê biên là những tài sản không thể xác định ngay về quyền về giá trị về số lượng, chủng loại nên cần phải kê ra, thống kê thì mới nắm được bảo toàn được Chính đặc điểm đó là để phân biệt với biện pháp phong tỏa tài sản

- Nếu tài sản sau khi kê biên được quy định như hiện nay tại khoản 2 Điều 108 không chỉ được bảo quản ở

cơ quan thi hành án sẽ gây áp lực cho cơ quant hi hành án, Với điều kiện thực tế hiện nay về cả nhân lực và cơ sở vật chất, cơ quan thi hành án khó có thể đảm nhận được trách nhiệm này Vì thế khoản 2 Điều 108 BLTTDS nên được sửa theo hướng tài sản sau khi bị kê biên sẽ được giao cho một số các bên đương sự hoặc một chủ thể phù hợp và bổ sung thêm quy định về trách nhiêm, hình thức và mức độ chế tài đối với người được giao quản lý tài sản kê biên nếu họ có hành vi trái pháp luật đối với tài sản kê biên

Điều 108 cần được sửa đổi như sau:

“1 Kê biên tài sản được áp dụng trong những trường hợp cần biết rõ về số lượng, chủng loại, hiện trạng giá trị những tài sản có khả năng thi hành án để nhằm ngăn chặn ngay việc người giữ tài sản có hành vi hủy hoại, tẩu tán tài sản.

2.Tài sản bị kê biên trừ trường hợp cần cần phải thu giữ sẽ được lập biên ản để giao cho một trong các bên đương sự người được giao tài sản kê biên phải có trách nhiệm bảo toàn tài sản đó, không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tẩu tán, huỷ hoại tài sản kê biên cho đến khi có quyết định của tòa án”.

3.2.2 Về biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 109 BLTTDS

Thực tế áp dụng Điều 109 BLTTDS về BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản cần được sủa đổi bổ sung một số điểm như sau:

- Theo tên gọi như hiện nay của Điều 109 “cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh

chấp” thì BPKCTT này chỉ được áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp Nếu chỉ áp dụng đối với tài sản đang

tranh chấp mà không được áp dụng với những tài sản khác không phải là tài sản tranh chấp thì chưa phát huy hết hiệu quả của biện pháp này trong việc bảo toàn tài sản nhằm bảo đảm khả năng thi hành án của người phải thi hành án Để bảo đảm tối đa cho khả năng thi hành án thì Điều 109 BLTTDS nên mở rộng phạm vi áp dụng, tức là

áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch về tài sản đối với các tài sản có khả năng thi hành án của đương sự có nghĩa

vụ chứ không chỉ đối với tài sản đang tranh chấp Như vậy, tên của Điều 109 BLTTDS “Cấm chuyển dịch

quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp” cần được sửa thành “cấm chuyển dịch quyền về tài sản”

- Vì điều kiện áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp mà Điều

209 BLTTDS hiện nay quy định phải “có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh

chấp có hành vi chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác” nên quyết định

cấm chuyển dịch quyền về tài sản của tòa án có thể đã là quá muộn để bảo toàn tài sản, đảm bảo khả năng thi hành án Vì thế, Điều 109 BLTTDS cần được sửa theo hướng sửa đổi như Điều 108 BLTTDS: thay điều kiện áp

dụng “có căn cứ cho thấy người chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch về quyền

đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác” bằng điểu kiện “nếu có căn cứ cho thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi chuyển dịch về quyền đối với tài sản cho người khác”.

Trang 10

- Để không trùng lặp với BPKCTT kê biên tài sản, BPKCTT này nên được quy định rõ là áp dụng khi việc giải quyết VADS có liên quan đến tài sản đã được công nhận quyền đối với tài sản thông quá các giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp (chủ yếu là bất động sản) Với những tài sản đã biết rõ về quyền đối với tài sản thì chỉ cần bảo toàn bằng cách tuyên bố cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản nên nếu sửa Điều 109 BLTTDS quy định về BPKCTT cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản theo hướng này sẽ phần nào khắc phục được sự trùng lặp giữa hai BPKCTT kê biên và cấm chuyển dịch quyền đối với tài sản Như vậy, Điều 109 BLTTDS cần được sửa đổi như sau:

“Điều 109 Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản được áp dụng đối với tài sản đã được công nhận rõ quyền đối với tài sản thông qua các giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cà được áp dụng nếu có căn cứ cho thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi chuyển dịch về quyền đối với tài sản đó cho người khác”.

3.2.3. Về biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 110 BLTTDS

Thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 110 BLTTDS về BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp cho thấy nếu điều luật này cũng bộc lộ những bất cập cần được khắc phục Điều 110 BLTTDS cần được sửa đổi một số nội dung sau:

- Vì việc thay đổi hiện trạng của tài sản đó có thể làm thay đổi giá trị của tài sản và như vậy sẽ ảnh hưởng đến khả năng thi hành án nên biện pháp này nên mở rộng phạm vi tài sản áp dụng, không chỉ hạn chế đối với tài sản tranh chấp mà cần áp dụng đối với tất cả tài sản có khả năng thi hành án của đương sự Như vậy, tên gọi của Điều

109 BLTTDS hiện nay là “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp “ cần được sửa thành “cấm thay đổi hiện

trạng tài sản”.

- Trên thực tế, PKCTT này thường được tòa án quyết định áp dụng khi có căn cứ như Điều 110 BLTTDS quy

định: “có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây

dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó” Như vậy, thông thường hành vi nhằm làm thay

đổi hiện trạng tài sản đã xảy ra thì tòa án mới quyết định áp dụng BPKCTT và như thế thì sự can thiệp của tòa án bằng việc áp dụng BPKCTT đã muộn Vì vậy, Điều 110 BLTTDS cần được sửa đổi theo hướng BPKCTT này sẽ được áp dụng nếu nhận thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi nhằm làm thay đổi hiện trạng tài sản Điều kiện áp dụng mà Điều

110 BLTTDS quy định là “có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi lắp

ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó” Cần phải được sửa thành “nếu có căn

cứ cho thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi lắp ghép, xây dựng thêm hoặc những hành vi khác nhằm làm thay đổi hiện trạng tài sản” Như vậy, Điều 110 BLTTDS cần được sửa như sau:

“Điều 110: Cấm thay đổi hiện trạng tài sản

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản được áp dụng nếu có căn cứ cho thấy cần phải ngăn chặn người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản có hành vi lắp ghép, xây dựng thêm hoặc những hành vi khác nhằm làm thay đổi hiện trạng tài sản” 3.2.4 Để xác định rõ vấn đề thẩm quyền của Tòa án cấp nào trong việc xem xét yêu cầu áp dụng

BPKCTT, Bộ luật TTDS cần thiết bổ sung quy định: “Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển đơn yêu cầu áp dụng

BPKCTT và hồ sơ vụ án để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT, còn các thủ tục về kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm sẽ bổ sung sau”

- Bổ sung thêm quy định pháp luật về trách nhiệm của Tòa án trong việc không ra hay chậm ra các quyết định áp dụng BPKCTT mà gây thiệt hại cho đương sự và người thứ ba, nhằm nâng cao trách nhiệm của Tòa án, đồng thời bảo đảm được quyền lợi cho người có yêu cầu cũng như những người có liên quan khác

C.KẾT LUẬN

Như vậy, thông qua việc tìm hiểu, phân tích như trên thì nhóm chúng em đã phần nào làm rõ được những vấn

đề cơ bản về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đang tranh chấp Mặc dù việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này có ý nghĩa rất quan trọng nhưng trên thực tế việc thực hiện các quy định

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w